Biểu tượng gợi cảm Nhật Bản lần đầu khoe đường cong bốc lửa trên Playboy

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC GIẢI TRÍ

Biểu tượng nhan sắc xứ Phù Tang – Ayaka Miyoshi hôm 16/4 xuất hiện trên tạp chí Weekly Playboy với trang phục áo tắm gợi cảm.

Đây là lần đầu tiên cô trở thành gương mặt trang bìa của tờ báo dành cho phái mạnh này. Dưới sắc nắng tươi rực rỡ, mỹ nhân Nhật khoe đường cong hoàn hảo, làn da không tì vết và gương mặt xinh đẹp hút hồn. Chia sẻ về lần đầu tiên xuất hiện trên Playboy, Ayaka Miyoshi nói cô hoàn toàn cảm thấy thoải mái và hào hứng.

Sở hữu chiều cao 171 cm, vóc dáng đẹp hoàn hảo, Ayaka Miyoshi được khán giả đánh giá là một trong những Biểu tượng gợi cảm mới của làng giải trí Nhật Bản. Cô gái sinh năm 1996 từng là thành viên của nhóm nhạc nữ Sakura Gakui, sau đó phát triển sự nghiệp với vai trò người mẫu, diễn viên. Sau một thời gian dài gắn bó với hình ảnh “ngọc nữ” trong sáng, ngây thơ, Ayaka Miyoshi bất ngờ táo bạo chuyển hướng, gây sốc cho khán giả.


Miyoshi Ayaka lần đầu xuất hiện trên tờ “Weekly Playboy”.


Đường cong hoàn hảo của ngôi sao Nhật.

Trước khi đến với Playboy, Ayaka Miyoshi đã là gương mặt quen thuộc trên nhiều tạp chí lớn, nhỏ tại Nhật Bản. Nữ diễn viên cũng thường xuyên xuất hiện với những trang phục kiệm vải, giúp phô diễn những đường cong sexy và đặc biệt là vòng một nảy lửa.

Ngoài ra,
Ayaka Miyoshi cũng là người mẫu có tiếng ở đất nước mặt trời đỏ. Sự xuất hiện của cô luôn tạo được ấn tượng với mọi người bởi ánh mắt lôi cuốn, thần thái rạng ngời, sang trọng và đẳng cấp.



Ayaka Miyoshi từng đến Việt Nam để quảng bá cho nhãn hàng Acecook. Vẻ đẹp thuần khiết của Ayaka thật sự làm mê đắm lòng người.

60 năm chung sống với người vợ thường dân của Nhật hoàng Akihito

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC NHẬT BẢN

Cuộc hôn nhân lịch sử từng bị cho là hoang đường giữa Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu xuất thân thường dân đầu tiên của Hoàng gia Nhật Michiko đã chính thức bước sang năm thứ 60. Dù tuổi đã cao, tóc đã bạc, mắt đã mờ, tình cảm giữa Nhật hoàng và Hoàng hậu vẫn vẹn nguyên như thuở đầu mới chạm mặt.


Từ chuyện tình rúng động Hoàng gia Nhật đến ngày vui của toàn dân
Mùa hè năm 1957, trên sân tennis tại một khu nghỉ mát ở Karuizawa gần Nagano, phía bắc Tokyo, 2 cô gái nhỏ nhắn đã xuất sắc “quật ngã” 2 chàng trai trẻ, trong đó có Hoàng Thái tử Nhật Bản Akihito, con trai trưởng của Nhật hoàng Showa và Hoàng hậu Kojun. Sau thất bại, trong lòng Thái tử Akihito không gợn chút buồn rầu, mà điều duy nhất đọng lại chỉ là hình bóng của cô gái xinh đẹp, tài năng Michiko Shoda.
Thái tử Akihito đã phải lòng cô gái năng động Michiko trên sân tennis

Thông qua bạn bè, Thái tử Akihito có thêm nhiều cơ hội gặp gỡ cô gái xuất thân từ gia đình tư bản Shoda. Càng trò chuyện, gần gũi, vị thái tử trẻ càng mến mộ nhan sắc, tài nghệ cũng như tính cách của cô gái nhỏ. Ngày tháng trôi qua, tình cảm lớn dần, sau 2 năm hẹn hò, Thái tử Akihito khiến Hoàng thất và dư luận xôn xao khi tuyên bố muốn kết hôn với Michiko.
Đương nhiên với thân phận là người thừa kế của Hoàng gia Nhật, đặc biệt theo lẽ thường, cô dâu của Hoàng gia phải được lựa chọn từ các gia đình có dòng dõi quý tộc hoặc Hoàng tộc, thì việc Thái tử muốn kết hôn với một cô gái thường dân quen biết qua một trận cầu thực sự là điều hết sức hoang đường.
Về phía gia đình Michiko, họ cũng khó có thể đón nhận lời cầu hôn của Thái tử một cách dễ dàng bởi trên hết, họ lo lắng cho hạnh phúc tương lai của con gái mình.
Tuy nhiên, bằng tình yêu chân thành, Thái tử Akihito và Michiko nhanh chóng giành được sự ủng hộ rộng rãi của hoàng gia, tầng lớp chính trị cầm quyền cũng như công chúng. Tiến sỹ Shinzo Koizumi, người giám sát việc học tập của Hoàng Thái tử Akihito trong nhiều năm, đã phát biểu: “Hoàng Thái Tử đã chọn công nương và chúng tôi cũng vậy”.
Sau cùng, chính Nhật Hoàng Showa đã lên tiếng tác thành cho Thái tử Akihito và Michiko: “Chỉ cần Thái tử thích thì xuất thân thường dân cũng không sao cả!”.
Với quyết định trên, Thái tử Akihito trở thành người đầu tiên trong lịch sử hoàng gia Nhật “xé bỏ” quy tắc hôn nhân khắt khe để tìm đến tình yêu đích thực.

Sau 2 năm hẹn hò, Thái tử Akihito và Công nương Michiko đi đến hôn nhân

Ngày 10/4/1959, hơn 500.000 người đã đổ ra đường hòa chung niềm vui với vị Thái tử trẻ trong lễ rước dâu lịch sử của hoàng gia Nhật trên lộ trình dài 8km dọc các con phố ở thủ đô Tokyo. Hơn 9.000 cảnh sát, nhân viên an ninh, nhân viên y tế… được điều động để đảm bảo an ninh cho lễ cưới và lễ diễu hành. Một phần nghi lễ trong đám cưới được phát sóng trên truyền hình thu hút tới 15 triệu lượt xem.
60 năm, hôn nhân vẫn ngọt ngào
Sau khi kết hôn, Hoàng Thái tử và Công nương có với nhau 3 người con là Hoàng tử Naruhito, Hoàng tử Fumihito và Công chúa Sayako.
Tháng 1/1989, Thái tử Akihito thừa kế ngôi Vua và Công nương Michiko trở thành nữ dân thường đầu tiên lên ngôi Hoàng hậu Nhật Bản. Kể từ khi lên ngôi, Nhà vua và Hoàng hậu đã có rất nhiều hoạt động ý nghĩa. Hoàng hậu Michiko trở thành Hoàng hậu xuất hiện trước công chúng nhiều nhất và đi thăm viếng trong phạm vi rộng nhất trong lịch sử Nhật Bản.


Bằng tình yêu và sự đồng cảm, Nhật hoàng Akihito đã giúp Hoàng hậu Michiko vượt qua những khó khăn khi phải thích nghi với cuộc sống Hoàng gia

Trở thành Thái tử phi thường dân đầu tiên của nước Nhật rồi đến ngôi vị Hoàng Hậu, Công nương Michiko đương nhiên gặp không ít khó khăn khi phải thích nghi với cuộc sống Hoàng gia gò bó, nhiều phép tắc. Chính Hoàng hậu Michiko từng trải lòng về những bất công, sự mất tự do và bao muộn phiền của cuộc sống trong cung đình: “Tuy có gian nan, có oan ức, nhưng cuối cùng rồi cũng quen cả thôi”.
Bằng tình yêu chân thành, tâm hồn đồng điệu chung niềm đam mê về thơ ca, văn hóa, âm nhạc, nghệ thuật, khoa học, lịch sử, Nhà vua và Hoàng hậu cùng nhau vượt qua khó khăn. Đã 60 năm trôi qua, nhưng sáng nào cũng vậy, Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko đều cùng nhau thức dậy, đi bộ trong rừng và vườn của Hoàng cung. Thi thoảng cả hai tranh tài cao thấp trên sân tennis, ôn lại chuyện năm xưa.

Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu thi thoảng vẫn so tài trên sân tennis
Nhà vua Akihito từng chia sẻ, khi băng hà, ông hy vọng sẽ được chôn cất cùng Hoàng hậu. Tuy nhiên, trước ngày sinh nhật lần thứ 81 của mình, Hoàng hậu Michiko đã từ chối đề nghị trên bởi bà cho rằng, bà xuất thân bình dân, thế nên khi chết đi cũng vẫn là một người dân thường, có thể sống cùng nhà vua đến đầu bạc răng long đã là phúc phận lớn nhất của cuộc đời bà.
Nhật hoàng Akihito dự kiến thoái vị đầu năm 2019
Giữa năm 2017, Nhật hoàng Akihito tỏ ý muốn thoái vị vì lý do tuổi tác và sức khỏe. Điều này khiến Chính phủ Nhật Bản phải gấp rút xây dựng lại luật để phù hợp với mong muốn của người vì Luật Hoàng gia năm 1947 không có điều khoản cho phép Hoàng đế thoái vị. Hoàng đế cuối cùng thoái vị khi còn sống là Nhật hoàng Kokaku (năm 1817).
Đến ngày 5/12/2017, Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga thông báo kết quả Hội nghị Hoàng gia quyết định ngày thoái vị của Nhật Hoàng là ngày 30/4/2019. Con trai cả của Nhật hoàng là Thái tử Naruhito, sẽ trở thành người thứ 126 kế ngôi vị vào ngày hôm sau dưới sự chứng kiến của hội đồng nhà vua, bao gồm thủ tướng, các nghị sĩ, thẩm phán toà án tối cao và các thành viên của gia đình hoàng gia.
Chia sẻ về quyết định của Nhật hoàng, Taeko Ito (72 tuổi), người chăm sóc cho Nhật Hoàng, nói: “Cả đời Nhật hoàng và hoàng hậu đều đã suy nghĩ không biết mệt mỏi vì dân. Hiện tại, người đã nhiều tuổi và tôi thực sự hy vọng rằng người có thể được nghỉ ngơi”.
Sau khi thoái vị, rời khỏi cung điện, Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko dự định sẽ chuyển đến nơi ở mới

Isao Takahata: ‘Ngôi mộ đom đóm’ và còn hơn thế nữa…

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC GIẢI TRÍ

Cả thế giới vừa chia tay Isao Takahata – tác giả của ‘Grave of Fireflies’ (1988) – khi nhà làm phim người Nhật Bản qua đời ở tuổi 82 hôm 6/4.

Nhắc tới hoạt hình Nhật Bản, đa số hẳn sẽ nghĩ ngay đến huyền thoại Hayao Miyazaki và hãng phim Studio Ghibli do ông sáng lập. Nhưng trên thực tế, Ghibli còn có “hai người cha” khác.

Đó là Toshio Suzuki – người chịu trách nhiệm sản xuất cho hầu hết dự án lớn của xưởng hoạt hình kể từ 1985, và Isao Takahata – một huyền thoại khác của xứ sở hoa anh đào.

Tình bạn đẹp giúp vực dậy cả sự nghiệp

Nếu như Hayao Miyazaki sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả ở Tokyo và chỉ mới 4 tuổi khi Thế chiến II kết thúc, thì cả tuổi thơ tỉnh lẻ của Isao Takahata gắn liền với những năm tháng nước Nhật còn đang chìm trong khói lửa chiến tranh.

Tuổi thơ dữ dội là vậy, nhưng Takahata vẫn nhanh chóng chứng minh được năng lực bản thân với tấm bằng cử nhân văn học Pháp tại Đại học Tokyo danh giá ở tuổi 24.
Sợi dây liên hệ với đất nước và con người Pháp cũng chính là nguồn cảm hứng để Isao Takahata tìm đến với nghệ thuật hoạt hình, nhất là sau khi ông có cơ hội thưởng thức một trong những tác phẩm hay nhất của điện ảnh Pháp: bộ phim hoạt hình Le Roi et l’Oiseau(Ông vua và con chim, 1952).

Tài năng cùng cảm hứng nghệ thuật dồi dào giúp Takahata sớm có chỗ đứng tại “ông lớn” của làng hoạt hình Nhật Bản là Toei. Ông chỉ phải đợi đến năm 33 tuổi để có cơ hội ngồi ghế đạo diễn tác phẩm hoạt hình dài đầu tay mang tên The Great Adventure of Horus, Prince of the Sun (1968).


Từ trước khi Studio Ghibli ra đời, Isao Takahata và Hayao Miyazaki đã từng có một số lần cộng tác với nhau. Ảnh: Tumblr.

Được giới phê bình đánh giá cao, nhưng dự án lại bị công chúng thờ ơ. Thất bại doanh thu của bộ phim đầu tay buộc Isao Takahata phải bằng lòng với công việc đạo diễn và dựng phân cảnh cho các tập phim hoạt hình phát sóng trên truyền hình mãi cho tới tận đầu thập niên 1980.

Ở một khía cạnh khác, trong những năm tháng trăn trở tìm lối đi mới cho sự nghiệp, Isao Takahata bắt đầu tạo dựng tình bạn và mối hợp tác nghệ thuật lâu dài với người đồng nghiệp kém mình 6 tuổi là Hayao Miyazaki.

Nếu như Miyazaki chịu trách nhiệm dựng phân cảnh và là họa sĩ chính của The Great Adventure of Horus, thì chính Takahata lại là nhà sản xuất cho Nausicaä of the Valley of the Wind (1984).

Đây là tác phẩm giúp khẳng định vị trí của Hayao Miyazaki trong làng hoạt hình Nhật Bản, đồng thời là bệ phóng thương mại vững chắc để ông, Takahata và Toshi Suzuki thành lập nên Studio Ghibli.

Phần còn lại đã trở thành lịch sử khi Ghibli trở thành bảo chứng cho cả chất lượng lẫn doanh thu suốt từ đó tới nay. Với riêng Hayao Miyazaki, cả thế giới phải ngả mũ với loạt 9 tuyệt phẩm kể từ Castle in the Sky (1986) cho tới The Wind Rises (2013) của ông.

Lăng kính thực tại huyền ảo

Cùng thời điểm Hayao Miyazaki đem tới cho công chúng The Wind Rises – tác phẩm mà khi ấy ông tuyên bố là sẽ khép lại cả sự nghiệp vàng son – thì Isao Takahata cũng mới hoàn thành xong một tác phẩm xuất sắc không kém là The Tale of Princess Kaguya(2013).

Nhưng khác với người bạn, người đồng nghiệp Miyazaki – nhà làm phim vốn có nhịp làm việc tương đối đều đặn và chưa bao giờ để công chúng phải chờ đợi quá lâu, The Tale of Princess Kaguya mới là dự án thứ năm mà Takahata làm cho Studio Ghibli, và đồng thời là tác phẩm đầu tiên ông trình làng sau 14 năm kể từ My Neighbors the Yamadas (1999).


Ngôi mộ đom đóm (1988) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Isao Takahata. Ảnh: Ghibli.

Và cũng khác với Hayao Miyazaki, người nổi tiếng khắp thế giới như “thầy phù thủy” của nghệ thuật hoạt hình với trí tưởng tượng và sức sáng tạo tuyệt vời, Isao Takahata lại gắn liền sự nghiệp của ông với việc mô tả đất nước Nhật Bản và con người xứ sở hoa anh đào thông qua lăng kính thực tại huyền ảo.

Nếu như Grave of the FirefliesNgôi mộ đom đóm (1988) là câu chuyện đau đớn nhưng đậm chất nhân văn của hai đứa bé Nhật Bản tìm cách thoát ly khỏi thực tại khói lửa chiến tranh, thì Pom Poko(1994) là hình ảnh nước Nhật đổi thay và gây ra hệ lụy cho truyền thống và môi trường thông qua cuộc sống của bọn “hồ ly”.

Hay ngay cả với The Tale of the Princess Kaguya – chuyển thể điện ảnh của một truyền thuyết dân gian Nhật Bản, người xem cũng có thể cảm nhận những suy nghĩ mang chất hiện sinh về cuộc sống trong bối cảnh của một câu chuyện cổ tích truyền thống.

Đặc biệt, vượt ra khỏi khuôn khổ của một tác phẩm hoạt hình – thể loại điện ảnh vốn thường bị coi là “dành cho trẻ con”, Grave of the Fireflies được nhiều nhà phê bình phim uy tín như Roger Ebert đánh giá là một trong những tác phẩm hay nhất về đề tài chiến tranh của thế giới.

Bởi chẳng gì có thể làm rõ hơn sự hủy diệt bạo tàn của chiến tranh hơn bức tranh tương phản giữa những trận mưa bom, bão lửa trút xuống nước Nhật và câu chuyện về sự ngây thơ đến đắng lòng, cùng tình yêu cuộc sống của hai anh em Seita và Setsuko trong phim.

Giản dị mà lôi cuốn, sâu sắc

Nhìn chung, cảm nhận đầu tiên của khán giả khi thưởng thức các tác phẩm của Isao Takahata là sự tương phản giữa sự giản dị đến không ngờ so với những bộ phim đậm chất sử thi của Hayao Miyazaki.

Không phải chờ tới khi đã thành lập Studio Ghibli, sự giản dị nhưng vẫn rất duyên dáng, rất lôi cuốn người xem ấy đã được Isao Takahata đưa vào những tác phẩm “tiền Ghibli” của ông.

Một đại diện tiêu biểu là Jarinko Chie (Chie – Cô bé hạt tiêu, 1981). Trong tác phẩm chuyển thể từ loạt truyện tranh ăn khách của Etsumi Haruki, người xem chứng kiến một nước Nhật giản dị của những năm còn khó khăn sau chiến tranh, và nhiều gương mặt rất Nhật Bản như cô bé Chie “đầu gấu”, như ông bố Tetsu “côn đồ”.

Họ là những con người nồng hậu, chất phác, luôn kiên cường vượt qua mọi khó khăn, nhưng không vì thế mà bớt đi tình cảm với người thân hay tình yêu với cuộc sống.


Only Yesterday (1991) là tác phẩm tiêu biểu cho lối kể chuyện nhẹ nhàng, nhưng vô cùng sâu sắc của Takahata.


Phong cách làm phim chân thành, hồn hậu như chính vẻ ngoài của Isao Takahata càng được phát huy sau khi ông sở hữu không gian tự do sáng tạo riêng tại Studio Ghibli. Thành quả lớn nhất chính là tác phẩm hoạt hình Only Yesterday(1991).

Kể lại chuyến tìm kiếm ký ức tuổi thơ nơi đồng quê nước Nhật bình dị của một cô gái độc thân vốn đã quá chán ngán cuộc sống ồn ào và xa lạ của các thành phố hiện đại, Only Yesterday có lẽ là tác phẩm giản dị và chân thành nhất của Isao Takahata với bối cảnh hết sức bình thường của vùng nông thôn Nhật Bản.

Ẩn bên dưới là triết lý vô cùng dễ hiểu, dễ cảm thụ: con người chính là thứ đáng trân trọng nhất, đáng yêu quý nhất; và tình cảm ấy luôn ở xung quanh chúng ta, tìm đến chúng ta, bất chấp không gian hay thời gian.

Chẳng cần dùng tới xung đột giữa các nhân vật, không màng tới các nút thắt mở ly kỳ đầy kịch tính, nhưng Only Yesterday vẫn khiến khán giả chẳng thể rời mắt khỏi màn hình nhờ cách kể chuyện thủ thỉ, chân tình, với những chi tiết nhắc nhở nhẹ nhàng về một miền tuổi thơ, một miền ký ức mà mỗi cá nhân luôn lưu giữ trong tâm hồn.

Ngay cả trong My Neighbors the Yamadas (1999) – bộ phim hoạt hình hài hước thuần túy với bối cảnh giới hạn trong gia đình nhà đình nhà Yamada và thành phố hiện đại cùng cách vẽ theo phong cách tối giản cả về màu sắc và chi tiết, khán giả vẫn nhận ra sự tỉ mỉ, trau chuốt mà Isao Takahata dành cho các mối quan hệ trong gia đình giữa các nhân vật của ông.

Tạm biệt một con người vĩ đại

Trong bộ phim tài liệu xuất sắc của nữ đạo diễn Mami Sunada mang tên The Kingdom of Dreams and Madness (2013), công chúng có cơ hội hiếm hoi theo dõi quá trình thai nghén một tác phẩm phim hoạt hình của Hayao Miyazaki, Isao Takahata, và các họa sĩ tại Studio Ghibli.

Một chi tiết đáng nhớ trong phim là hình ảnh Miyazaki và Toshio Suzuki luôn phải vò đầu bứt tai vì bậc đàn anh Takahata có phong cách làm phim… quá sức chậm rãi. Chẳng ai biết bao giờ Takahata mới hoàn thành dự án của ông, hay thậm chí ông có muốn hoàn thành nó hay không.

Dự án The Tale of the Princess Kaguya được Takahata thực hiện ròng rã suốt 7 năm trời, từ 2006 đến tận 2013. Trong thời gian đó, Yoshiaki Nishimura – nhà sản xuất chính của dự án, đã kịp lấy vợ và có hai đứa con, đứa đầu thậm chí đã đi học tiểu học.

Sự khác biệt giữa Takahata và Miyazaki lớn tới mức hai người có thể được coi là hai nửa đối nghịch sáng – tối, hiện đại – truyền thống, nhanh – chậm của Ghibli. Quan hệ giữa hai người vì thế sau này còn mang màu sắc “yêu – ghét”.

“Paku-san” là biệt danh yêu quý mà Hayao Miyazaki và cả Studio Ghibli gọi Isao Takahata. Nhưng mới hôm trước khen hết lời Takahata, thì đến hôm sau, thể nào Miyazaki cũng lại phải kêu ca về sự “lề mề” của người bạn, người đồng nghiệp hết sức thân thiết.


The Tale of the Princess Kaguya (2013) mất 7 năm để hoàn thành, và là một trong những nguyên nhân khiến Studio Ghibli phải tái cơ cấu. Ảnh: Ghibli

Tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của Studio Ghibli, nhưng sau khi ra đời, The Tale of the Princess Kaguya lại không phải là tác phẩm ăn khách. Thậm chí, phim còn bị coi là một trong nhiều nguyên nhân khiến Studio Ghibli phải tái cơ cấu, đến mức khó lòng cho ra đời các dự án mới.

Quả thực, đó là bộ phim rất khó ăn khách. Những phút đầu vui tươi của The Tale of the Princess Kaguyachẳng thể khỏa lấp một thực tế rằng phần mở đầu phim không hấp dẫn, hay nói đúng hơn là không thể hiện rõ tiềm năng kịch tính, để có thể lôi cuốn người xem tới nửa sau.

Nhưng nếu chăm chú theo dõi hình ảnh thay đổi từng ngày của cô công chúa nhỏ Kaguya, khán giả sẽ dần bị thu hút bởi những xung đột ngày một lớn hơn trong nội tâm cô gái, cũng như giữa cô với tình yêu thương con nhiều phần mù quáng của ông lão đốn tre, và cả sự khao khát đầy toan tính của đám vương giả đến cầu hôn.

Những thời khắc tuyệt vời nhất của The Tale of the Princess Kaguyanằm ở những giây phút cuối cùng của tác phẩm, khi tình cảm giữa con người với con người, giữa Kaguya với người thân yêu của cô, với cuộc sống, với thiên nhiên xung quanh, trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Một khía cạnh đáng nhớ của tác phẩm sau đó giành đề cử Oscar là cách Isao Takahata minh họa những không gian rộng lớn của thiên nhiên Nhật Bản qua tông màu không quá rực rỡ nhưng đủ ấm áp, và những nét vẽ không đi sâu vào tiểu tiết nhưng vẫn đủ độ khơi gợi.
Như hình ảnh cô bé Kaguya nhảy múa hồn nhiên dưới những “cơn mưa” lá hoa anh đào đang rụng xuống trong một ngày xuân ấm áp đã chứng minh.


Isao Takahata đã từ giã cõi đời ở tuổi 82. Nhưng những gì ở để lại cho dòng phim hoạt hình nói riêng, và điện ảnh nói chung là vô cùng vĩ đại. Ảnh: Outnow.

Cũng trong một ngày xuân như thế của năm 2018, khi hoa anh đào bắt đầu rụng sau khi đã cống hiến hết những gì đẹp đẽ nhất, Isao Takahata qua đời ở tuổi 82. Đây chắc chắn là tin rất buồn đối với người yêu điện ảnh nói chung, và đặc biệt là với những ai yêu mến các tác phẩm của nhà làm phim.

Nhưng hãy nhớ rằng, ở The Tale of the Princess Kaguya – khúc vĩ thanh cuối đời của mình, Isao Takahata đã chia tay những khán giả hết mực yêu quý ông suốt bao nhiêu năm qua với một thông điệp hết sức đơn giản: dù cuộc đời ẩn chứa vô vàn thời khắc khó khăn và bất hạnh, hãy vẫn cứ yêu cuộc sống hết mức khi còn có thể.

Xin cảm ơn ông, Isao Takahata, người đạo diễn phim hoạt hình với tình yêu cuộc sống chưa bao giờ tắt.

Việt Phương

8 phim Nhật xuất sắc nhất thế kỷ 21

Written by lamchikha. Posted in Phim ảnh

Mới đây, tờ IndieWire đưa ra danh sách 8 bộ phim Nhật hay nhất thế kỷ 21, được chọn ra từ những nhà phê bình phim hàng đầu của Hollywood.


1.Linda Linda Linda
(2005)
: Bộ phim chủ đề học đường được chọn bởi nhà phê bình phim David Ehrlich, biên tập viên của tờ IndieWire. Nội dung phim kể về học sinh Nhật Bản thời hiện đại ở vùng ngoại ô Tokyo với tông màu tươi sáng, nhẹ nhàng. Ba ngày trước khi lễ hội ở trường trung học diễn ra, ban nhạc nữ sinh đã đồng ý kết nạp một du học sinh người Hàn Quốc vào nhóm. Câu chuyện nhẹ nhàng, thu hút bởi những giai điệu rock Nhật thập niên 1980. Phim được xem là điểm sáng hiếm hoi trong dòng phim về bạo lực học đường ở Nhật Bản. “Tôi không chắc phim này sẽ hay hơn những kiệt tác như Nobody Knows, Spirited Away, Air Doll, Millennium Actress nhưng tôi lại thấy đây là bộ phim cực kì quyến rũ”, David bình luận.


Happy Hour(2015): Bộ phim tâm lý xã hội của đạo diễn Ryusuke Hamaguchi cùng được chọn bởi hai nhà phê bình danh tiếng là Richard Brody (tờ The New Yorker ) và Vadim Rizov (tạp chí Filmmaker). Câu chuyện phim nhẹ nhàng, tinh tế xoay quanh nhóm 4 phụ nữ tuổi 30 chơi thân với nhau. Tình bạn giữa họ bất ngờ có sự xáo trộn khi họ tình cờ phát hiện câu chuyện đau khổ của một thành viên. Đây là tác phẩm thứ 8 của đạo diễn 39 tuổi, Ryusuke Hamaguchi. Trong gần 10 năm qua, anh đã liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm tâm lý nổi bật và xứng đáng được ghi nhận.


The Tale of the Princess Kaguya(Nàng tiên ống tre – 2013): Bộ phim hoạt hình anime dựa trên truyện cổ tích Nàng tiên trong ống tre được chọn bởi Carlos Aguilar, nhà phê bình phim nổi tiếng người Tây Ban Nha. Nhiều người vẫn đồng tình rằng tác phẩm kinh điển Spirited Away (Vùng Đất Linh Hồn) vẫn là tác phẩm xuất sắc nhất khi nhắc đến anime Nhật Bản. Tuy nhiên, Carlos cho rằng điều này khiến công chúng vô tình quên đi những tác phẩm cũng mang những triết lý nhân sinh xuất sắc khác. Takahata Isao đã truyền tải câu chuyện dân gian vừa mộc mạc vừa có chiều sâu cảm xúc, xóa nhòa giới hạn của những đường vẽ.





The Hidden Blade(Ấn kiếm quỷ trảo – 2004): Tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên do Yōji Yamada được đề cử bởi biên tập viên Edward Douglas (tờ The Tracking Board ). Đạo diễn Yoji Yamada nổi tiếng trong thể loại phim hành động sử thi khi tái dựng những điển tích về các samurai thời Edo. Ban đầu Edward cân nhắc giữa hai tác phẩm xuất sắc The Twilight SamuraiThe Hidden Blade đều cùng của Yoji Yamada. Phim xoay quanh một võ sĩ phương Bắc trong thời khắc giao mùa của xã hội Nhật Bản, khi cái cũ bị phá bỏ và văn minh Tây Âu được tiếp nhận. Toàn bộ phim là một góc nhìn nhân bản về thân phận con người và những mối quan hệ xã hội đặc biệt là tầng lớp samurai.


United Red Army (Liên Hợp Xích Quân - 2008): Bộ phim về đề tài chiến tranh của đạo diễn Kōji Wakamatsu được chọn bởi nhà phê bình phim lừng danh Jordan Hoffman (tờ Vanity Fair, The Guardian ). “Nếu chỉ được chọn một phim, đó chắc chắn chỉ có thể là bộ phim này”, Jordan lý giải đơn giản về lựa chọn của mình. Phim có ba hồi, kể về sự kiện có thật trong lịch sử khi làn sóng sinh viên trỗi dậy mạnh mẽ ở Nhật vào những năm 1960 -1970. Hồi thứ hai xoay quanh một nhóm người tham gia buổi cắm trại leo núi ở dãy Alps thuộc quần đảo Honshu. Nội dung về những giáo điều giả tạo của tập thể dẫn đến cái chết của 12 thành viên. Hồi thứ ba dựa trên cuộc thanh trừng đẫm máu mang tên Asama-Sansō.


Our Little Sisters(Umimachi Diary – 2015): Bộ phim tình cảm gia đình của đạo diễn Hirokazu Kore-eda được đề cử bởi cây bút phân tích Christian Blauvelt (tờ BBC Culture). Phim kể về ba chị em gái ruột trở về trong đám tang của người bố đã rời bỏ mình và nhận nuôi đứa con riêng của bố và đem cô em gái đó đến sống ở nhà mình. Mặc dù có nhiều bi kịch nhưng phim lại khai thác những khía cạnh tươi sánh và tích cực về tình chị em. Bằng sự yêu thương và vị tha, cả bốn chị em cùng trải qua những ngày tháng chung sống vui vẻ dưới một mái nhà. Cách những nhân vật trong phim cùng vượt qua nghịch cảnh, đau khổ và mỉm cười bên nhau khiến nhiều khán giả xúc động.





Like Father, Like Son
(Cha nào con nấy – 2013):
Đây cũng là một tác phẩm về đề tài gia đình xuất sắc của đạo diễn Hirokazu Kore-eda. Phim được bình chọn bởi biên tập viên Candice Frederick (tờ Broadly, Vice, Thrillist). Phim đặt hai cặp vợ chồng vào tình huống khó xử khi hay tin đứa con trai của họ đã bị tráo đổi từ khi sinh ra. Cách họ ứng xử trước bi kịch này với những đứa trẻ vô tội khiến khán giả không khỏi xúc động. Phim gây ấn tượng khi đưa ra góc tiếp cận mới lạ về sự gắn kết gia đình. Hirokazu muốn truyền tải thông điệp có liệu gia đình có cần phải là máu mủ và tình thân có cần phải chung dòng máu. Mỹ từng thực hiện một bản phim remake của Like Father, Like Son nhưng lại không truyền tải trọn vẹn cảm xúc như bản gốc.





Still Walking
(Vững bước – 2008):
Đây là bộ phim thứ ba của nhà làm phim Hirokazu Kore-eda lọt vào danh sách này, đượcđề cử bởi nhà phê bình phim Joshua Rothkopf (tờ Time Out New York). Tài năng xuất chúng của Hirokazu Kore-eda được Joshua nhận xét là: “Bạn có thể chọn bất kỳ bộ phim nào của ông để góp mặt trong danh sách những phim xuất sắc nhất thế kỷ XXI”. Bộ phim là lát cắt nhỏ của một gia đình bình thường ở vùng quê nước Nhật, diễn ra trong ngày giỗ của một thành viên. Dù đặt trên nền tảng bi kịch nhưng phim không có một cảnh cãi cọ hay tình huống tạo cao trào. Sức hút của bộ phim đến từ chiều sâu tâm lý, cảm xúc được miêu tả tài tình bằng các thủ pháp bậc thầy của Koreeda.
Theo Zing.

‘Lọ lem phố đèn đỏ’ Nhật Bản: Có học thức, tuyệt đối không bán dâm

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC NHẬT BẢN

Dù được ăn học đầy đủ, nhiều cô gái Nhật vẫn chọn trở thành nữ tiếp viên tại các quán bar, làm công việc mua vui cho đàn ông.

Đến năm cuối đại học, hầu hết con gái Nhật đều cất tủ những chiếc váy ngắn cũn hay quần bò yêu thích nhất để khoác lên mình bộ vest đen chỉnh tề và bắt đầu lao vào tìm việc làm. Nhưng Karen Hanazuka (24 tuổi) thì không!
Ngay cả khi đã cầm tấm bằng đại học trên tay, Hanazuka cũng không đi tìm cho mình công việc ổn định mà quyết định tiếp tục làm tiếp viên nữ (hay còn gọi là hostess).

Khi được hỏi, Hanazuka chỉ trả lời: “Tôi không đi tìm việc làm bởi chẳng có công việc nào hấp dẫn ở thời điểm này. Làm tiếp viên vẫn hơn”.


Một nữ tiếp viên Nhật giới thiệu tấm danh thiếp cô thường đưa cho khách hàng.

Những ‘nàng lọ lem’ phố đèn đỏ

Khi trời nhá nhem tối cũng là lúc Kabukicho yên bình lên đèn và lột xác trở thành một trong những khu phố đèn đỏ sầm uất nhất thành phố Tokyo, Nhật Bản. Theo ước tính, mỗi ngày có khoảng hơn 160.000 người ghé thăm “khu phố không ngủ” này.Ở đây có 90 khách sạn, 300 câu lạc bộ, hàng trăm nhà hàng, quán bar. Với khu phố đèn đỏ nổi tiếng như Kabukicho, không thể thiếu các cô gái nóng bỏng, quyến rũ cùng lớp trang điểm đậm, đầu tóc được tạo kiểu tỉ mỉ. Họ chính là những hostess (nữ tiếp viên).




Kabukicho là khu phố đèn đỏ đông đúc, tưng bừng nhất Tokyo, cũng là nơi hoạt động của nhiều hostess.

Sở dĩ những người phụ nữ trẻ trung này được gọi là “nàng lọ lem” bởi họ rất xinh đẹp, có khả năng làm cho người ta cười ngay lần đầu gặp nhưng chỉ xuất hiện khi trời tối, lúc nửa đêm.Việc làm hàng ngày của nữ tiếp viên là “kiếm chuyện mua vui” cho đàn ông tại những quán bar hay host-club. Công việc này thường được cho là không mấy sạch sẽ và chỉ các cô gái bước đến đường cùng mới buộc phải làm.Thế nhưng, tại sao những người có bằng cấp đàng hoàng như Karen Hanazuka cũng lựa chọn làm tiếp viên thay vì kiếm công việc ổn định, phù hợp với trình độ?Nghề nữ tiếp viên ở Nhật khác với gái mại dâm. Các cô gái này chỉ hầu rượu, lắng nghe câu chuyện của khách hàng, nói những lời đường mật khiến họ vui vẻ.Giống như Geisha thời xưa, hostess có nguyên tắc tuyệt đối đó là không bán dâm cho khách hàng. Dù có được ra giá cao như thế nào, khi hành nghề, họ không được phép bán thể xác mà chỉ có thể bán tiếng cười.


Nữ tiếp viên tên Ku (24 tuổi) đang trò chuyện với một khách hàng. Khi mới 16 tuổi, cô đã muốn trở thành tiếp viên.

Theo Cơ quan Cảnh sát Quốc Gia Nhật Bản, có tới 70.000 cơ sở trên khắp nước Nhật đang hoạt động có dịch vụ tiếp viên như thế này. Và đương nhiên, con số sẽ không dừng lại ở đó.Hiện nay, nghề tiếp viên được nâng lên tầm cao mới, mở ra cơ hội cho nhiều cô gái. Thoát khỏi cái mác hèn mọn, nữ tiếp viên xuất hiện thường xuyên trên các chương trình truyền hình, phim ảnh. Ngoài thân phận tiếp viên, họ có thể làm bất cứ ai ngoài kia từ ca sĩ, diễn viên, người mẫu, nhà thiết kế thời trang đến doanh nhân thành đạt. Eriko Fuse – đại diện hiệp hội các club – nói với Disposable Workers: “Ngày nay có nhiều cô gái ấp ủ giấc mơ trở thành tiếp viên. Nhưng cũng có người phải làm công việc này vì không tìm được việc làm”.


Julie (31 tuổi) từng làm việc tại cửa hàng miễn thuế ở sân bay quốc tế Narita. Cô không hề nhớ công việc cũ của mình và khá hài lòng với hiện tại.


Được học nhưng không được thuê


Dù Luật Bình đẳng đã được Nhật Bản ban hành năm 1986, sự nghiệp của phụ nữ Nhật vẫn không được coi trọng. Cơ hội của họ dừng lại ở những công việc tầm thường, lương thấp hoặc chỉ là nhân viên tạm thời, không cố định.Kể cả khi may mắn được nhận vào làm, con đường thăng tiến của phụ nữ cũng rất khó khăn. Theo đó, trang Disposable Workers đưa ra so sánh đơn giản giữa Nhật Bản và Mỹ. Người phụ nữ được cho là may mắn kia sẽ phải đối mặt với sự chênh lệch lương lớn, chỉ 69,8% so với những gì nam giới kiếm được, trong khi đó ở Mỹ con số này lên đến 78,2%. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, tỷ lệ được lên chức của cô ấy cũng rất ít, vào năm 2008 dừng lại ở 9,8% so với 42,7% ở Mỹ.Cụ thể hơn, 65% phụ nữ tốt nghiệp đại học có công ăn việc làm nhưng lương của họ chỉ bằng 1/3 lương của các đồng nghiệp nam.Không thể làm việc trong công ty bình thường, phái nữ Nhật Bản cũng khó tự mình lập nghiệp.“Ngân hàng sẽ không cho doanh nhân nữ vay vốn nếu cô ấy không có người bảo lãnh là nam như cha hoặc chồng. Phụ nữ vốn không được động tới những việc liên quan đến tiền bạc” – Mariko Adachi, giáo sư kinh tế tại Viện Nghiên cứu giới tính, Đại học Phụ nữ Ochanomizu, nói.

Với mức lương đáng mơ ước, hostess chính là nghề nghiệp thu hút phái nữ Nhật Bản.

Không được coi trọng, không có động lực làm việc, thu nhập quá thấp, nhiều cô gái quyết định bỏ ngang, “bẻ lái” tới con đường khác. Như câu chuyện của Karen Hanazuka, dù sở hữu tấm bằng cử nhân ngành Kinh tế, cô gái 24 tuổi vẫn chọn theo nghiệp tiếp viên.9X cho biết điều mình từng mong muốn chính là trở thành thư ký.“Tôi không giỏi trong việc cứ nhắm mắt chờ lệnh của sếp. Tôi cảm thấy chán nản với những công việc lúc nào cũng phải lệ thuộc, không đòi hỏi sự suy nghĩ” – nữ tiếp viên chia sẻ. Theo Disposable Workers, những hostess nổi tiếng với cánh đàn ông có thể kiếm được trung bình 300.000 USD/năm, trong khi mức lương trung bình làm việc full-time của phụ nữ Nhật chỉ ở mức 37.000 USD/năm.Vì thế, người sở hữu 200 club tên Yoshihiro Nagata tự hào nói: “Chúng tôi rất vinh hạnh khi tạo được cơ hội làm việc cho phái nữ”.




Cuộc sống của các nữ tiếp viên gắn liền với những bữa tiệc thâu đêm, phải uống rất nhiều loại rượu mạnh và có thể gặp nguy hiểm bất cứ lúc nào.


Góc khuất của ‘Geisha thời hiện đại’


Tuy vậy, thu nhập cao hay cuộc sống xa hoa chỉ là bề nổi của công việc này. Tất cả phụ thuộc vào lượng khách hàng các cô gái có thể thu hút đến quán bar.Eriko Fuse khẳng định chỉ có 1% hostess nhận được mức lương khổng lồ nói trên. “99% còn lại phải làm việc trong môi trường không lành mạnh và không hề ổn định” – cô nói.Nhắc đến vấn đề tương lai sau này của các nữ tiếp viên, chủ nhiều club Yoshihiro Nagata tỏ ra thông cảm: “Phụ nữ chỉ làm được công việc này khi họ còn trẻ. Tuy vậy, chúng tôi cũng không muốn vứt bỏ họ như những công cụ đã hỏng khi họ già đi và thất nghiệp. Chúng tôi rất muốn quan tâm đến họ”.Thế nhưng khi được hỏi về kế hoạch cụ thể các club hay bar định làm để giúp các hostess đến tuổi nghỉ hưu, câu trả lời chỉ dừng ở: “Chúng tôi vẫn đang nghiên cứu để tìm ra giải pháp”.


Nhìn vào tủ đồ đầy ắp bộ váy sặc sỡ, bắt mắt khiến nhiều cô gái ghen tỵ, nhưng ánh mắt của Cocoa Aiuchi (20 tuổi) lại chỉ phản chiếu sự chán nản. Vừa chọn váy, cô vừa lẩm bẩm: “Tôi không muốn đi làm”.Vốn là hostess nổi tiếng và người mẫu tạp chí thời trang, Cocoa nhận được nhiều lá thư của các nữ sinh cấp 2, cấp 3. Trong thư, các em bày tỏ muốn được trở thành đồng nghiệp của cô khi tốt nghiệp.Cocoa biết các nữ sinh này tưởng rằng sẽ kiếm được tiền chỉ bằng cách ăn mặc, trang điểm thật xinh đẹp và trò chuyện cùng người khác. “Các em ấy không biết hiện thực khó khăn như thế nào”.




Aya (23 tuổi) bắt đầu công việc hostess từ khi mới 16 tuổi và không thể tìm ra lối thoát.


Rất nhiều hostess phải sống phần đời còn lại trong bệnh tật. Họ mắc phải các căn bệnh về gan, nghiện rượu sau những đêm tiệc tùng cùng khách hàng. Aya (23 tuổi) cho biết cô rất muốn nghỉ việc nhưng lại không thể vì chưa tốt nghiệp cấp 3. Cuộc sống trước đây của Aya rất khó khăn. Cha mẹ ly hôn, nhà lại đông anh chị em. Không muốn làm gánh nặng, cô đã bỏ nhà ra đi khi mới 16 tuổi.Để có thể tự nuôi sống bản thân, nữ sinh “trẻ người non dạ” năm ấy đã chấp nhận làm tiếp viên ở những quán bar mập mờ, không cần nộp hồ sơ cũng được tuyển.Bởi đặc thù công việc, phải tới 6 giờ sáng Aya mới được chìm vào giấc ngủ. Chính cô cũng rất sợ hãi, lo lắng trước nguy cơ mắc các bệnh về gan và tương lai mịt mù phía trước.Với mục đích thoát khỏi những giây phút căng thẳng, lo lắng về doanh thu và xếp hạng độ nổi tiếng ở club, Aya thường đọc sách giúp tâm hồn thanh thản.“Tôi cảm thấy tệ khi nghĩ về những gì đã xảy ra ở tối hôm trước và những gì sẽ xảy ra vào tối hôm sau” – Aya nói.








Các cô gái xinh đẹp liệu có đáng khi đánh đổi hạnh phúc cả đời, phá hủy tương lai để chạy theo mộng phù hoa ngắn ngủi và đầy cạm bẫy?


Bên cạnh đó, một cô gái tên Hikaru (người gốc Trung Quốc) cũng từng chia sẻ chân thật về những điều tồi tệ công việc hostess mang lại cho mình. Ngày nào, Hikaru cũng phải nở nụ cười giả tạo, nói những câu đùa tưởng như duyên dáng nhưng rỗng tuếch, nhắm mắt làm ngơ kể cả khi khách có hành động sai trái.“Nếu khách cố tình đụng vào ngực tôi, tôi sẽ giả vờ cúi xuống đất nhặt một thứ gì đó hoặc chuốc say anh ta để đánh lạc hướng. Dù thế nào đi chăng nữa, tôi cũng sẽ mỉm cười và không để anh ta nghĩ rằng tôi không thích hành động ấy” – Hikaru nói.Hầu hết nữ tiếp viên đều cho rằng cưới chồng và trở thành bà nội trợ chính là giải pháp duy nhất thoát khỏi nghề nghiệp này. Cocoa Aiuchi hay Aya cũng vậy.Khi được hỏi về chuyện lập gia đình, Cocoa khẳng định cô sẽ không kết hôn với người đàn ông có nhiều tiền như vài khách hàng cô đã gặp qua.Nữ tiếp viên nói: “Những người đàn ông giàu có sẽ lừa dối tôi. Họ chỉ trân trọng tôi khi tôi còn trẻ đẹp. Nhưng khi nhan sắc đã tàn phai, họ sẽ ném tôi đi như một đống rác”.

Theo Zing.

Nữ sinh ‘đẹp nhất Nhật Bản’ gây tranh cãi vì nhan sắc được đánh giá là ‘quá bình thường’

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC GIẢI TRÍ

Cũng như mọi năm, nhan sắc của người thắng cuộc vẫn là tâm điểm bàn tán của cư dân mạng nước này.

Như thường lệ, cứ vào tháng 3 hằng năm, cuộc thi Miss JK Contest – Nữ sinh trung học đẹp nhất Nhật Bản – lại được tổ chức nhằm tìm ra nữ sinh xinh xắn, duyên dáng nhất đất nước mặt trời mọc.



Năm nay, với sự tranh tài của hơn 300.000 thí sinh, cuối cùng, cuộc thi đã tìm ra ngôi vị cao nhất. Nhưng cũng như mọi năm, nhan sắc của người thắng cuộc vẫn là tâm điểm bàn tán của cư dân mạng nước này.


Từ hơn 300.000 đơn đăng ký, cuộc thi sẽ lần lượt chọn ra top 48, rồi đến top 8 thí sinh đại diện cho mỗi vùng trong cả nước tham gia chung kết. Ban tổ chức sẽ dựa vào lượt bình chọn trên mạng để tìm ra người đẹp nhất. Và người đó chính là nữ sinh Mei Mei đến vùng Okinawa, tỉnh Kyushu.




Chân dung hoa khôi của cuộc thi


Mei Mei cao 1m52, 17 tuổi, học sinh năm 2 tại trường trung học phổ thông tỉnh Kyushu. Cô gây ấn tượng với đôi mắt to tròn, nụ cười rạng rỡ. Nhưng đa số khán giả đều cho rằng, Mei Mei sở hữu nhan sắc khá bình thường và kém nổi bật. Thậm chí, ngôi vị Á quân còn đẹp hơn cô. Nhưng cũng có nhiều người yêu thích nét ngây thơ, hồn nhiên và rạng rỡ của cô gái này.



Mei Mei có gương mặt rất ăn hình





Nhưng nhan sắc ngoài đời của cô lại không được đánh giá cao



Sau cuộc thi, Mei Mei sẽ được trở thành Hoa khôi Nhật Bản trong vòng 1 năm. Được biết, Mei Mei ao ước trở thành một nữ diễn viên trong tương lai.





Á quân là Honopipi của tỉnh Chubu đạt ngôi vị Á Quân. Ngoài ra, Chihiro đến từ Kanto là nữ sinh giành giải thưởng đặc biệt.







Nữ sinh giành giải thưởng đặc biệt Chihiro đến từ Kanto





Á Quân Honopipi, nữ sinh đến từ tỉnh Chubu



Một số hình ảnh khác của Mei Mei







Nhật Bản làm phim về dị nhân (Ajin – Takeru Sato công chiếu tại Việt Nam 26.1.2018)

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC GIẢI TRÍ

Với đề tài cái chết và sự tái sinh, Ajin (tựa Việt: Á nhân) tuy là phim hành động giả tưởng nhưng lại mang đến cho người xem những suy ngẫm về bản thân, cuộc sống.


‘Ajin’ của đạo diễn Katsuyuki Motohiro mang đến những pha hành động đậm chất châu Á. ẢNH: TWITTER

Kể từ khi ra mắt tại Nhật năm 2012, bộ manga (truyện tranh Nhật) Ajin: Demi Human của tác giả Sakurai Gamon đã được đón nhận nhiệt liệt trong cộng đồng người hâm mộ. “Cơn sốt Ajin” được tạo nên khi bộ truyện liên tiếp nằm trong danh sách những manga bán chạy tại Nhật Bản nói riêng và các quốc gia châu Á nói chung. Bộ truyện được người hâm mộ đánh giá cao bởi sự tinh tế, lắt léo trong nội dung, xử lý tình huống thông minh.

Nhận thấy tác phẩm của tác giả Sakurai Gamon có thể “ăn nên làm ra”, nhà làm phim Katsuyuki Motohiro đã bắt tay vào thực hiện phiên bản live action (người thật đóng) cho tác phẩm này. Trước đó, Ajin: Demi Human đã có phiên bản anime (hoạt hình vẽ tay).
Do Katsuyuki Motohiro đạo diễn, Ajin kể về nam sinh trung học phổ thông Kei Nagai, sau một tai nạn giao thông thì phát hiện ra mình là một á nhân. Bằng chứng là cơ thể Kei tự động hồi phục, các bộ phận thương tích tự động trở lại bình thường như không có chuyện gì xảy ra. Cuộc sống của Kei ngoặt sang một hướng khác từ đó khi loài người bắt đầu truy lùng cậu vì khả năng đặc biệt của mình.


Những cuộc thí nghiệm đầy đau đớn trên cơ thể á nhân tại phòng thí nghiệm khiến cho Kei quyết tâm “giải phóng” cho đồng loại. ẢNH: TOHO PICTURES

Á nhân dưới ngòi bút của Sakurai Gamon là những người bất tử, một chủng loài mới nhưng rất hiếm trên trái đất. Á nhân có hình dạng giống người nhưng lại nằm ngoài quy luật sinh tử của con người. Do được xem là “chìa khóa” cho sự tiến hóa của nhân loại, những tổ chức nghiên cứu đã ráo riết truy lùng Kei để tìm lời giải đáp cho giống loài. Tuy nhiên, các á nhân không chỉ lọt vào “tầm ngắm” của các nhà khoa học mà còn của các con buôn trên thị trường chợ đen. Kei đã thực hiện cuộc trốn chạy đẫm máu khỏi những âm mưu hiểm độc của loài người.

Kei là trường hợp á nhân thứ ba mà nhân loại phát hiện được. Cuộc chiến của Kei càng trở nên cam go hơn khi cậu không chỉ chiến đấu cho mình mà còn cho những trường hợp như mình. Anh cùng đồng loại lật đổ phòng thí nghiệm Ajin, nơi đang giam giữ các á nhân hiện đang tiến hành những cuộc thí nghiệm “hành xác” đầy đau đớn.

Khi công chiếu ở Nhật hồi tháng 9 vừa rồi, tác phẩm của Katsuyuki Motohiro khuấy đảo phòng vé với 210.000 lượt xem và thu về cho nhà sản xuất hơn 2,4 triệu USD, trở thành một trong những bộ phim live-action thành công nhất tại Nhật.
Ajin chính thức được khởi chiếu ở Việt Nam từ ngày 26.1 tới.

[2017] [M] Tokyo Ghoul Live Action – Kubota Masataka, Shimizu Fumika

Written by lamchikha. Posted in Movie

Tokyo Ghoul


Giới thiệu


  • Tên: Tokyo Ghoul
  • Romaji: Tokyo Guru
  • Nhật: 東京喰種
  • Đạo diễn: Kentaro Hagiwara
  • Kịch Bản: Sui Ishida (manga), Ichiro Kusuno
  • Sản xuất: Tomohiro Nagae, Shogo Ishizuka
  • Quay phim: Satoru Karasawa
  • Phát hành: July 29, 2017
  • Thời lượng: 119 min.
  • Phân phối: Shochiku
  • Ngôn ngữ: Nhật
  • Quốc gia: Nhật


Nội dung

Con người nghĩ rằng mình đứng đầu chuỗi thức ăn, nhưng một số sinh vật săn lùng con người để ăn. Ở Tokyo, sự tồn tại của chúng từ lâu đã được thừa nhận. Chúng được gọi là “Ghoul”, và được coi là mối đe dọa tiềm ẩn. Ủy ban chống Ghoul do Chính phủ thành lập đã tiêu diệt nhiều kẻ trong số chúng. Tuy nhiên, Ghoul vẫn tiếp tục tồn tại, giữa bóng tối của Tokyo. Kaneki Ken (Masataka Kubota) là sinh viên đại học thích đọc những cuốn sách kỳ quặc. Trong một lần bị Ghoul tấn công, cậu may mắn sống sót và được cấy nội tạng của chính Ghoul đã tấn công mình. Kaneki là người duy nhất tồn tại được ở cả 2 thế giới, con người và Ghoul.

Xem và tải về:
Code:
https://openload.co/f/0G7MjKdlM0A/Tokyo.Ghoul.2017.vietsub.mp4

5 cảnh kết buồn nhất trong những bộ phim Nhật Bản nổi tiếng

Written by lamchikha. Posted in TIN TỨC GIẢI TRÍ

Không chỉ nổi tiếng với những bộ phim ‘dị’ và khó hiểu, Nhật Bản còn có những tác phẩm kinh điển khiến bạn phải bật khóc vì buồn.

1. Cảnh kết trong ‘Departures’ (2008)



Bộ phim từng mang về cho điện ảnh Nhật Bản giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất năm 2008. Departures xoay quanh nhân vật chính Daigo (Masahiro Motoki), một nghệ sĩ cello thất nghiệp phải chuyển nghề khâm liệm người chết cho đám tang. Bộ phim đề cao tình thân trong gia đình và lối ứng xử tình nghĩa của người phương Đông.

Những xung đột cha con về một gia đình rạn vỡ thuở thơ ấu đã ám ảnh Daigo cho tới khi cậu trưởng thành. Lòng thù hận người cha bội bạc, bỏ rơi cậu thuở nhỏ đã chia cắt vĩnh viễn tình cha con. Nhưng đến khi khâm liệm người cha trước khi đưa vào quan tài, Daigo lật bàn tay cứng đờ của cha và nhìn thấy viên đá nhỏ cậu trao cho cha ngày nào đang được ông nắm chặt. Mọi kỷ niệm giữa hai cha con bỗng chốc ùa về, mọi hận thù xa cách được hàn gắn lại. Nhưng chỉ tiếc rằng Daigo đã nhận ra khi mọi việc quá muộn màng.





2. Cảnh kết trong ‘5cm/s’ (2007)



Được công chiếu vào năm 2007, 5cm/s (5 Centimet/giây) xoay quanh câu chuyện tình buồn vào những năm 1990 khi nhân vật chính Takaki Tono mới 13 tuổi cho tới khi anh đã đi làm.

Đôi bạn Takaki và Akari phải chia tay nhau khi sắp tốt nghiệp tiểu học. Cả hai giữ liên lạc bằng cách viết thư, nhưng những cánh thư ngày một thưa dần theo thời gian. Tình yêu thuần khiết của cả hai không bị chia cắt bởi khoảng cách, mà bắt nguồn từ những khoảng trống trong trái tim họ.

Cuối phim, lúc đi ngang đường ray xe lửa, Takaki nhìn thấy một cô gái, linh tính mách bảo anh đó là Akari. Thế nhưng khi đoàn tàu đi qua, cô gái ấy đã biến mất chỉ để lại Takaki ngơ ngác giữa những cánh hoa đào rơi lả tả. Đoàn tàu cũng giống như một cuộc hành trình, mang chúng ta đến gần rồi lại chia xa.




3. Cảnh Aki qua đời trong ‘Socrates In Love’ (2004)




Socrates In Love còn có tên gọi khác là Crying out love, In the center of the world – Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới. Bộ phim đã đem đến cho người xem những cung bậc cảm xúc về tình yêu mãnh liệt giữa hai nhân vật Sakutaro và Aki nhưng bị chia cách bởi căn bệnh nan y.

Trong một lần tìm đồ cho người vợ sắp cưới, Sakutaro tình cờ tìm lại được cuộn băng ghi âm từ 17 năm trước. Trong cuộn băng là những lời tâm sự của Aki – cô bạn gái thời trung học của anh. Sakutaro hồi tưởng lại những ký ức về mối tình đầu, anh và Aki đã gắn bó với nhau từ hồi học cấp hai cho đến khi học lên cấp ba, sau đó họ yêu nhau như định mệnh.

Tuy vậy tình cảm này đã vĩnh viễn dừng lại ở tuổi 17 khi Aki qua đời vì một căn bệnh ung thư. Sakutaro một mình vượt qua và tiếp tục cuộc sống. Cảnh Aki qua đời đã để lại một nỗi đau không thể xóa nhòa trong trái tim Sakutaro và hàng triệu khán giả trên thế giới.



4. Cảnh kết trong ‘Clannad: After Story’ (2007)




Trong Clannad: After Story có rất nhiều khoảnh khắc buồn, nhưng phân cảnh vỡ òa cảm xúc, lấy nước mắt người xem nhiều nhất đó chính là cảnh mẹ con Nagisa qua đời. Khi xem phim khán giả như được hòa mình vào những niềm vui, nỗi buồn của các nhân vật.

Thông qua bộ phim, người xem thấy được những thông điệp ý nghĩa về cuộc sống, tình yêu và gia đình một cách thấm thía và sâu sắc.



5. Cảnh kết trong ‘Khu rừng đom đóm’ (2011)




Ra mắt năm 2011, Khu rừng đom đóm đã để lại cho khán giả những tiếc nuối về hai con người khác biệt nhưng khao khát được yêu, được sống. Bộ phim kể về Gin, một cậu bé bị bỏ rơi và chết trong rừng từ rất lâu, được thần núi thương tình hóa phép cho sống lại.

Nhưng cậu không được phép để con người chạm vào mình, nếu không sẽ bị tan biến mãi mãi. Gin đã sống như thế mãi cho đến khi gặp Hotaru và trở thành hai người bạn tri kỷ của nhau. Mỗi kỳ nghỉ hè, Hotaru đều đến khu rừng để thăm Gin, đều đặn như thế cho đến khi học cấp 3. Cả hai nhận ra mình đã bắt đầu yêu đối phương.

Tình yêu của họ ngày càng trở nên mãnh liệt hơn và khao khát được ôm lấy nhau. Một tình yêu đẹp nhưng lại quá đỗi mong manh, tựa như những con đom đóm trong mùa hè, chỉ tỏa sáng chốc lát rồi tan biến mãi mãi. Tình yêu của Gin dành Hotaru cũng như thế, Gin đã đạt được ước nguyện ôm Hotaru vào lòng nhưng phải đánh đổi bằng cả mạng sống.