PDA

View Full Version : Tiếng Nhật chính thống nhưng không mới



Acmagiro
03-09-2008, 10:44 PM
Tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ duy nhất được sử dụng tại đảo quốc Nhật Bản và là một thành phần phản ánh đầy đủ nhất về tâm hồn, tính cách rất đặc trưng của dân tộc này. Bỏ qua sự khác biệt về tự dạng, ngữ hệ thì tiếng Nhật còn khác những ngôn ngữ Tây Âu hay bất cứ một thứ tiếng nào khác ở những điểm rất đặc thù không thể tìm thấy ở bất cứ dân tộc nào hết. Tiếng Nhật chính thống có nguồn từ vựng rất phong phú ở các mặt như thời gian, khí tiết, cá, thực vật, Phật giáo và một số từ ngữ đặc trưng rất Nhật để chỉ tâm tư tình cảm gần như là độc đáo của riêng dân tộc này mà khó có thể tìm ở đâu khác. Đó là sự nhạy cảm với thời tiết, sự mẫn cảm với sự sống quá mức, nét cực đoan trong tâm tư, và một vô thường quan như cách gọi của Phật giáo. Dĩ nhiên là theo thời đại, tiếng Nhật cũng có sự biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh sống mới của con người. Theo đó nhiều thứ được xem là đặc thù của tiếng Nhật đã mất đi và nhiều thứ mới mẻ được thêm vào.

Loạt bài viết này không có ý hướng dẫn người đọc đi vào những cấu trúc ngữ pháp của tiếng Nhật, dù là căn bản hay nâng cao. Bởi vì nhiều blog khác, nhiều website khác và nhiều trung tâm Nhật ngữ đã làm tốt rồi. Mục đích của loạt bài viết này mong muốn cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quát nhất về tiếng Nhật chính thống, tức là thứ tiếng Nhật tương đối cổ so với thời đại ngày nay, thông qua những khía cạnh mà bạn không được biết tới khi học ở trường, hoặc giả nếu có cũng chỉ ở mức độ nào đó. Như thế có nghĩa là bạn không học được gì thực dụng để áp dụng vào cuộc sống qua loạt bài viết này, mà nếu có thể chỉ là một cái nhìn, một sự bổ sung cho tâm hồn về những điều đã từng tồn tại ở Nhật và góp phần làm nên tâm hồn Nhật, tính cách Nhật chính thống mà ngày nay không dễ gì nhận ra nữa.

Ngày hai mươi tháng chín năm Meiji (Minh Trị) đầu tiên, Thiên Hoàng Minh Trị (明治天皇 - Meiji Tennou) rời khỏi Kyoto, lần đầu tiên đến vùng đất mà ngày nay gọi là Tokyo. Ngày xưa Tokyo được gọi là Edo nhưng kể từ ngày mười ba tháng mười năm đó đã được đổi thành Tokyo cho đến ngày nay. Sau đó, Thiên Hoàng Minh Trị trở lại Kyoto lần nữa vào ngày hai mươi hai tháng mười hai rồi đến năm sau, ngày hai mươi tám tháng ba thì ngài đã đến Tokyo lần nữa và không bao giờ quay lại Kyoto nữa. Kể từ đó Hoàng cung được chuyển sang Tokyo.

Kyoto trong một ngàn năm trước đã là thủ đô của nước Nhật, nhưng kể từ khi Tokyo trở thành thủ đô thì vị trí tiếng nói chuẩn của Kyoto cũng mất đi và nhường lại cho Tokyo. Về mặt lịch sử ngôn ngữ thì đây là một thay đổi lớn nhất của tiếng Nhật trong hai ngàn năm qua.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/062z-1.jpg

Tiếng Nhật có hai dòng chính là tiếng Nhật Kantou (関東) của những vùng phía đông như Tokyo, Kanagawa và tiếng Nhật Kansai (関西) của những vùng phía tây như Kyoto, Osaka... (Ngoài ra còn một dòng ở phía bắc, vùng Touhoku và vùng phía nam từ Kagoshima trở xuống). Tuy tiếng Nhật ở Kyoto đã mất vị trí chuẩn của nó nhưng địa phương này vẫn tự hào là nơi còn giữ được nhiều truyền thống văn hóa cổ truyền của dân tộc cũng như nhiều di sản quý giá khác. Thế như sau này tiếng Nhật Kansai như Kyoto, Osaka vẫn có nhiều dịp ảnh hưởng tới tiếng nói của vùng Kantou. Chẳng hạn như từ "nhà tắm" đặc trưng của Tokyo là Yuya (湯屋 ), "tiệm hớt tóc" là Tokoya (床屋) được chuyển thành Furoya (風呂屋) và Sanpatsuya (散髪屋) của miền Kansai. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ của sự ảnh hưởng ngược của tiếng Kansai lên tiếng Kantou.

__________________________________________________ ___________________

azarashi
03-09-2008, 10:48 PM
Cám ơn bác!Mong bác tiếp tục up tiếp để bọn em học hỏi ạh!Cám ơn anh - chị nhiều lắm -Sory vì em ko biết là anh hay chị!

Acmagiro
03-09-2008, 11:04 PM
Lúc mũi ta ngửi thấy mùi hoa mơ (梅 - Ume) thoang thoảng trong gió lạnh và đây đó vài đóa hoa đã nở thì cũng là lúc thời khắc sang tháng hai đã rõ rệt nhất. Hoa mơ và con ngựa (馬 - Uma) tuy không có điểm gì chung nhưng chúng đều được viết ra kana là ウメ và ウマ nhưng phát âm chính xác của nó là Mme (ンメ) và Mma (ンマ) mới đúng, còn như Ume (ウメ) và Uma (ウマ) là không chính xác.
Từ thời Shouwa, các sách giáo khoa đã dạy cho trẻ con phát âm hai từ này là Mme và Mma nhưng trong những năm sau này, có nhiều phát thanh viên của đài NHK đã không phát âm đúng như vậy.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/631.jpg

Manyoushu (万葉集) là tập thơ cổ nhất nước Nhật, gồm 20 quyển được làm ra từ thời Nara và tương truyền là do Hoàng hậu Iwanohime (后磐姫) sưu tập nhiều bài thơ của mọi tầng lớp trong xã hội ở mọi vùng trong nước Nhật trong 400 năm và có 4500 bài thơ. Tập thơ cổ có nhiều bài biểu hiện trực tiếp, nói lên nhân tình, tâm trạng của người Nhật xưa rất phong phú. Phát âm Ume và Uma vốn bắt nguồn từ thời đại của tập thơ này, nhưng đến thời Heian (平安) thì đã trại sang thành Mme ンメ và Mma ンマ và cho đến ngày nay, sau hai ngàn năm thì phát âm của hai từ này có khuynh hướng quay lại như cũ.
Nhiều người lớn tuổi không quen tai với khuynh hướng phát âm Ume, Uma của người trẻ nhưng đây cũng là một điều đáng hoan nghênh khi họ quay lại với phát âm của thời cổ.

Tâm lý người Nhật rất sợ bị người khác cười. Đối với họ đó là chuyện rất đáng xấu hổ nên mọi người đều cố gắng cư xử sao cho mình không bị cười. Ngay từ thời cổ, các võ sĩ khi vay mượn gì của nhau thì trong văn tự cho vay đều có một dòng như thế này "nếu tôi không trả món nợ này thì người trong thiên hạ sẽ cười chê, tôi sẽ đau khổ tột cùng".
Thời hiện đại, các ông bố bà mẹ vẫn hay mắng con là "mày làm như thế mà không sợ khi lớn lên thế gian sẽ cười sao?" Đây là một cách mắng độc đáo có lẽ chỉ có ở Nhật. Người Tây phương cho rằng văn hóa Nhật là văn hóa mặc cảm, tội lỗi. Khi xảy ra chuyện xấu, dù mình không có lỗi thì cũng cố xem là mình có lỗi.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_5013.jpg

Ngày mười lăm tháng bảy ở Nhật là ngày lễ Chugen (中元), một lễ hội truyền thống pha trộn ngày lễ Sechinichi của Đạo giáo được truyền từ Trung Hoa sang và ngày lễ Vu Lan (盂蘭盆会- Urabon e) của Phật giáo. Trong ngày này người ta dâng hương cúng Phật, cầu nguyện phúc đức cho người sống và cả người chết, tương tợ như ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân ở Việt Nam. Trong những ngày này, khi tặng quà cho nhau người ta hay nói câu "Douzo go Shounou Kudasai" (どうぞご笑納下さい). Về mặt ngữ nghĩa thì là "xin anh hãy (xem đây là một thứ không ra sao và) cười chê nó nhưng hãy nhận lấy nó". Câu này còn được dùng khi tặng thứ gì đó cho người khác, với ý nhún nhường là món đồ mình tặng không giá trị gì và đáng để đối phương cười vào mặt. Đây mới chính là cách biểu hiện đậm chất Nhật và đúng phong vị Nhật

Gần đây trên bao bì của những thứ thực phẩm bán ở siêu thị hay thấy câu "Go Shoumi Kudasai" (ご賞味下さい). Người ta còn dùng để chúc nhau ngon miệng với ý là "xin anh hãy xem những thức này là ngon lành mà thọ dụng". Tuy nhiên đây không phải là cách biểu hiện đúng tính chất của nền văn hóa tội lỗi này. Câu này là do nhiều người hiểu lầm từ câu ご笑味下さい cũng có cùng phát âm là "Go shoumi kudasai" và viết chữ Hán khác thay thế có cùng cách đọc. Tuy nhiên Shoumi (笑味) ở đây mang ý: xin hãy cười nhạo cái vị tầm thường của thức này mà thọ dụng nó.
Như thế mới là cách biểu hiện thuần Nhật.

Acmagiro
07-09-2008, 03:35 PM
Baiu (梅雨) hay còn gọi là Tsuyu là mùa mưa kéo dài từ thượng tuần tháng sáu cho tới thượng tuần tháng bảy và là một hiện tượng đặc trưng của vùng lưu vực sông Dương Tử, Đại Hàn và phần lớn lãnh thổ Nhật Bản trừ vùng Hokkaidou. Baiu xuất hiện rất nhiều trong văn thơ và còn là một từ chỉ mùa (季語- Kigo) trong thơ Haiku.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4974.jpg

Khi vào mùa Baiu thì thức ăn dễ ôi thiu nên các vụ ngộ độc thực phẩm cũng hay thấy trên mặt báo. Khi trúng độc thực phẩm thì việc tiên quyết đầu tiên cần làm là cho người bệnh thổ hết thức ăn trong dạ dày ra. Động từ này là "haku" (吐く), mang nghĩa là lấy những thứ trong cơ thể ra thông qua đường mũi hay đường miệng. Như vậy, trong trường hợp này thì không rõ là lấy ra từ phổi hay từ dạ dày. Điều này nói lên rằng người Nhật ngày xưa không rành mạch lắm về giải phẫu và sinh lý. Chẳng hạn nếu có bệnh nhân nói 赤いものをはきました (tôi thổ ra huyết) thì bác sẽ sĩ bối rối vì không biết là loét dạ dày hay loét phổi.

Dường như ngày xưa người Nhật không biết rằng trong cổ họng có cả khí quản và thực quản nên một chuyện mê tín ngày xưa cho rằng khi ăn ngấu nghiến thì không nói được thành tiếng. Có thể họ nghĩ rằng trong thực quản có thanh đới! Cũng là động từ "thổ ra" nhưng trong tiếng Anh có phân biệt rạch ròi giữa "Spit" và "Vomit" và trong tiếng Hoa cũng thế, phân biệt rạch ròi giữa thổ đồ trong dạ dày và từ trong phổi ra.
Như thế ngày xưa người Nhật không để tâm đến chuyện sinh lý lắm nhỉ.

Acmagiro
09-09-2008, 10:04 AM
Trong Phật giáo có những vị tôn cách gọi là Minh Vương (明王 - Myou Ou) mang hình tướng Phẫn nộ, bảo vệ Phật pháp và trấn áp Phật địch, tà ma ngoại đạo. Có vị tên gọi Đại Nguyên Súy Minh Vương (大元帥明王 - Daigensui Myou Ou) vốn là thần tướng dạ xoa, sau được đức Phật giáo hóa mà nguyện bảo vệ Phật pháp. Công đức của vị này là phù trợ quốc gia an ổn không bị ngoại xâm quấy nhiễu.
Triều đình đã từng làm lễ cúng dường vị Đại Nguyên Súy Minh Vương này trong cuộc nổi loạn của Taira no Masakado (平将門) và trong cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông sau đó mà nước Nhật vẫn vững như bàn thạch.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4253.jpg

Ngày mùng tám tháng giêng là ngày Hoàng cung cúng dường vị Đại Nguyên Súy Minh Vương này, cầu nguyện cho đất nước được hòa bình yên ổn. Nghĩ lễ này được gọi là Daigen no Hou (大元法). Tên gọi đầu đủ phải là Daigensui no Hou (大元帥法) nhưng vì như thế rất khó đọc nên người ta đã lược bỏ một chữ 帥 để trở thành Daigen no Hou cho đến ngày nay.
Tuy mất công viết ra nhưng không đọc chữ đó cũng là trường hợp thường thấy trong tiếng Anh, không phát âm "gh" hay "h".

Ngày xưa nước Nhật bị chia cắt thành nhiều vùng tự trị khác nhau (tuy vẫn thần phục Thiên Hoàng), trong đó có xứ Izumi và được viết ra Hán tự là 和泉. Thực tế chỉ có chữ 泉 mới đọc là Izumi, còn chữ 和 ở đầu là âm câm không đọc. Tương tự có xứ Yamato viết là 大和 và Oumi được viết là 近江 nhưng thực tế chỉ đọc chữ cuối mà không đọc chữ đầu.
Ngược lại còn có chuyện tuy viết ra nhưng không đọc, chẳng hạn như một họ thường thấy là Igarashi, viết là 五十嵐. Đáng lý phải viết là 五十日嵐 mới đầy đủ.
Lại như tên đất Kameido được viết giản lược thành 亀戸 trong khi nếu viết đầy đủ theo cách đọc phải là 亀井戸.
Họ Hattori được viết là 服部 nhưng vốn ban đầu nó được viết là 服織部 và đọc là Hattoribe nhưng bị giản lược thành Hattori. Đây là một hiện tượng phức tạp của tiếng Nhật.

pisco
09-09-2008, 01:36 PM
Sao 2 bài dưới em vô blog anh mà không thấy vậy? ^^.

Acmagiro
10-09-2008, 10:48 AM
Thì.... nó chậm tiêu so với thời đại :d

Đối với người học tiếng Nhật thì không gì khó bằng tên họ của người Nhật. Đây là đất nước có nhiều họ nhất thế giới và cách viết, cách đọc cũng rất phức tạp, ngay cả người Nhật nhiều khi cũng phải lúng túng không biết viết và đọc tên họ của đồng bào mình ra sao.
Việc này cũng có lý do của nó.

Trước thời Minh Trị thì người bình dân ở Nhật không có họ, mãi đến ngày mười ba tháng hai năm Minh Trị thứ tám thì họ mới được phép mang họ. Những người bình dân trước giờ vốn đã quen với những tên gọi dân dã như anh Kuma, chị Orin nay phát hoảng lên, luống cuống chạy đi tìm những anh tri thức, những nhà bác vật hay trưởng thôn để xin cái họ. Họ gì cũng được, miễn là có để đăng ký hộ tịch thôi. Vì có quá nhiều người nên trưởng thôn lo không xuể mới giao phó cho họ rằng:

- Nhà mày có một cây tùng nên lấy họ là Matsushita (松下 - nghĩa là dưới gốc tùng).
- Nhà chú phía trước con sông nên lấy họ là Maekawa (前川 - nghĩa là con sông phía trước).

Thế là bách tính đua nhau tự đặt họ như vậy. Anh nào ở trong núi thì mang họ Yamashita, anh nào ngoài đảo thì lấy Nakajima,....
Theo giáo sư nghiên cứu tên họ là Sakuma Ei thì ở tỉnh Aichi có một ngôi làng mà toàn bộ dân làng đều mang họ thực vật như Daikon (củ cải), Ninjin (cà rốt). Lại có một vùng khác mà dâng làng toàn mang họ tôm cá như Tai (鯛 ), Himera,... hệt như thủy tộc dưới long cung.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4695.jpg

Ngoài ra cũng có những ngôi làng mà toàn bộ dân chúng ở đó đều mang cùng một họ. Như ở tỉnh Shimane có một vùng mà hơn năm chục hộ đều mang họ Kuwabara. Chắc là do trưởng thôn khi đặt tên cho dân làng đã lười biếng ? Chỉ khổ cho bác đưa thư, ngày nào cũng đi hô khản cổ "Kuwabara, Kuwabara".

PS: Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, đất nước Nhật Bản cũng do dòng họ Thiên Hoàng trị vì nhưng có một điểm lạ thường là: đây là dòng họ duy nhất ở Nhật không có họ.

Acmagiro
12-09-2008, 09:30 AM
Ngày mồng tám tháng tư là ngày đức Phật Thích Ca (釈迦 - Shaka) đản sinh. Để kỷ niệm ngày này, từ cổ tới nay các chùa ở Nhật tổ chức lễ hội tắm Phật (潅仏会 - Kanbutsu e). Người ta dựng một căn nhà nhỏ xinh đẹp được trang trí nhiều hoa gọi là Hanamidou (花御堂), bên trong có tượng đức Phật Thích Ca mới ra đời. Người đến hành lễ tay cầm cái gầu tre múc nước ngọt tưới lên đầu tượng Phật.

Lễ hội này bắt nguồn từ truyền thuyết Hoàng Hậu Maya sinh ra Phật Thích Ca ở vườn Lâm Tỳ Ny (ルンビニ園 - Rumbini en hay còn gọi là 藍毘尼園- Rambini on, xuất phát từ chữ Phạn Lumbin ) dưới gốc cây Vô Ưu (無憂樹 - Mu uju ). Vì sao gọi là cây Vô Ưu? Vô Ưu mang nghĩa là không phiền não. Cây này còn gọi là cây Ashoka, cây họ đậu cao, giống ở Ấn Độ. Hoàng Hậu Maya sinh ngài Tất Đạt Đa dưới gốc cây dễ dàng mà không đau đớn gì nên dân chúng gọi đây là cây Vô Ưu.
Sau khi Phật Thích Ca được sinh ra thì ngài đi bảy bước, chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất mà rằng: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" (天上天下唯我独尊 - Tenjou tenga Yuiga Dokuson) nghĩa là khắp gầm trời này ta là duy nhất không ai bằng.

http://static6.photo.sina.com.cn/bmiddle/4cf5e6bb4674db652de35

Lúc này tám vị Long vương từ trên trời phun mưa lành xuống tắm cho Phật, và tục lệ xối nước trà ngọt lên đầu tượng Phật trong hội Kambutsu cũng bắt nguồn từ đó. Ngày nay lễ hội này còn được biết đến với cái tên Hana Matsuri (花まつり - lễ hội hoa).
Đối với người Nhật thì danh tư "Hana" (hoa) là mặc nhiên chỉ cả hoa Anh đào (Sakura). Nhưng ở địa phương Mikawa tỉnh Aichi còn có một lễ hội khác cũng tên là Hana Matsuri nhưng không liên quan gì đến hội tắm Phật. "Hana" của vùng này mang nghĩa là hoa lúa và lễ hội ở Mikawa là để cầu được lúa tốt ngon cơm.

Acmagiro
14-09-2008, 06:59 PM
Người Nhật có khuynh hướng lấy tên các loài hoa đặt cho con gái, từ những loài hoa điển hình như Cúc (菊 - Kiku) hay Mơ (梅 - Ume) cho tới những khuynh hướng mới như lấy tên hoa Sumire, Kanna. Vì thế ta hay thấy những tên gọi như Umeko, Kikoko là vậy. Rất nhiều phụ nữ mang tên hoa, nhưng tuyệt nhiên không thấy người nào mang tên hoa hồng (Barako) cả, mặc dù nó được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4925.jpg

Đây không phải là do người Nhật ghét hoa hồng mà là vì họ ghét cái trọc âm (âm đục) bắt đầu bằng "B" của hoa hồng (Bara). Người Nhật cảm thấy những từ ngữ bắt đầu bằng trọc âm đều bẩn thỉu và ghét nó. Đây có lẽ là đặc điểm mà chỉ có dân tộc Nhật sử dụng tiếng Nhật mới có, những dân tộc khác không thấy có. Rất nhiều từ trong tiếng Nhật có nghĩa không hay bắt đầu bằng trọc âm như "Baka" (ngu ngốc), Debu (từ xấu chỉ những người béo, kiểu như "thằng mập"), Biri (hạng chót, hạng bét), Boke (người đần),....
Nhưng ngược lại, tiếng Anh cũng có nhiều từ bắt đầu bằng trọc âm mang nghĩa tốt như Beautiful (đẹp), Best,....
Cảm giác của người Nhật cũng dần thay đổi, điều này cũng không còn đúng như xưa nữa nên sau này có thể chúng ta sẽ thấy người tên là Barako chăng?

Ren Shuyamaru
14-09-2008, 07:27 PM
Cảm ơn a Hiba, cho phép e đưa topic bổ ích này thành loạt bài dài kì trên trang News nhé. Đón chờ loạt bài tiếp theo của a :)

Mà a post ở JPN ko chi tiết = bên TTVNOL nhé :p

Acmagiro
16-09-2008, 12:27 PM
Viết nhật ký không chỉ là đặc điểm của người phương Tây mà người Nhật cũng có thói quen này. Nhưng sổ nhật ký của người Nhật có một đặc điểm là sau khi viết sự kiện gì xảy ra vào ngày nào tháng nào giờ nào thì họ luôn chừa một dòng dành cho thời tiết của ngày đó. Quả nhiên Nhật là dân tộc luôn sinh hoạt theo thời tiết.
Vì thế mà tiếng Nhật đã sản sinh ra nhiều từ liên quan tới thời tiết mà các ngôn ngữ khác không có hay ít thấy.
Khoảng đầu tháng tư thì công nhân viên chức được nghỉ nhiều ngày liên tục nên họ thường tổ chức đi dã ngoại, leo núi. Và họ thường "cấm" những người được gọi là "Ame Otoko" (雨男 - người mưa?) đi theo. Ame Otoko là từ độc đáo để chỉ những người hễ khi bắt tay làm chuyện gì, khi đi đâu đó là trời đổ mưa. Không biết là mê tín hay trùng hợp mà thực tế là có nhiều người như vậy.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4810.jpg

Một trong tứ đại văn hào thời Minh Trị là Ozaki Kouyou (尾崎紅葉 - những ai từng học tiếng Nhật ở bậc đại học chắc cũng có lần đọc qua một vài tác phẩm của văn hào này) cũng là một Ame Otoko, hễ ông ta đi ra ngoài là trời đổ mưa. Lúc bấy giờ có Sasaki Nobutsuna (佐々木信綱), ngọn cờ đầu của thi đàn thời Minh Trị cũng là một Ame Otoko nổi tiếng.
Nhưng kỳ lạ là khi hai ông này đi chung với nhau thì trời lại khô ráo sáng sủa. Người ta cho rằng hai ông này đều là "người mưa", nên âm tính gặp âm tính lại thành ra dương tính và trời nắng ráo.

Acmagiro
17-09-2008, 01:25 PM
Bài hát Akatombo (chuồn chuồn đỏ) mở đầu bằng một đoạn rất nên thơ là Yuuyake Koyake no Akatombo...(夕焼け小焼けの赤蜻蛉). (Nghe bài hát và lời dịch tiếng Việt tại: http://www.youtube.com/watch?v=oGCnZ3yETXE )

Yuuyake là ráng chiều, nhưng còn Koyake thì phải hiểu làm sao đây? Có lẽ là hiện tượng ráng chiều nhưng không toàn phần như Yuuyake? Nếu nhìn tự dạng 小 thì có lẽ nhiều người sẽ đoán như vậy. Không phải, tiếp đầu ngữ "Ko" (小) rất thường hay xuất hiện trong những trường hợp như vậy. おお寒小寒 (Oosamu Kosamu, trong một bài hát của trẻ con vào mùa đông) cũng là một ví dụ cho trường hợp này.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4893.jpg

Thời Taishou (大正), bọn trẻ con ở Tokyo hay chơi trò "tuột quần" chúng bạn. Chúng giữ chặt Kimono của mình không cho đối phương giở lên và tranh nhau giở gấu quần của bạn lên để xem mông. Đây là trò chơi "oshiri no youjin koyoujin" (おしりの用心小用心) (hãy cẩn thận với cái mông) và tiếp đầu ngữ "Ko" ở đây chỉ mang ý nhấn mạnh.
Vì thế nên Yuuyake Koyake chỉ là hình thức nhấn mạnh của Yuuyake mà thôi.

Câu thứ hai trong bài là "Owarete mita noha itsu no hika" (負われて見たのは いつの日か)
sẽ khiến người đọc nghĩ đến cảnh tác giả bị rượt đuổi trên đồng (追われ) nếu không nhìn chữ. Kỳ thật "Ou" ở đây tức là "Ombu suru" (負んぶ), nên câu này phải hiểu là tác giả nhìn thấy khi được cõng trên lưng.
Đây là bài hát mang âm hưởng buồn về một cảnh làng quê thanh bình. Bài hát này rất quen thuộc với học sinh tiểu học trên khắp đất nước Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Thế giới sắp kết thúc. Đối với người Đài Loan trong thế hệ đó, những người được hưởng nền giáo dục của Nhật thì không ai có thể quên được bài hát này. Bài hát được phổ nhạc từ bài thơ của tác giả Miki Rofu viết về ký ức tuổi thơ đồng quê của mình. Quê hương tác giả là vùng Hakodate phía bắc, bài này gợi nhớ lại những mảnh ký ức của tác giả khi được người chị cõng đi trên con đường làng trong buổi chiều tà. Hình ảnh con chuồn chuồn đậu trên cây sào tre là một hình ảnh nông thôn bình dị, đẹp đẽ nhưng cũng man mác buồn. Có lẽ vì thế mà sau khi bại chiến, người Nhật đã đón nhận bài hát này hết sức nồng nhiệt. Không một ai không biết đến bài này, nó gợi lên những kỷ niệm buồn về một quá khứ yên ả, thah bình đã qua...

Nhất Như tạm dịch ý

"Trong ráng chiều, chú chuồn chuồn đỏ. Tôi nhớ ngày nào chị cõng trên lưng Trên cánh đồng năm xưa, tiếng trẻ hái dâu, hái đầy một giỏ mộng mơ. Tôi nhớ chị tôi mười lăm đi lấy chồng, mãi ngóng trông tin tức quê nhà. Trong ráng chiều, chú chuồn chuồn đỏ, đậu mãi trên ngọn sào năm xưa".

Acmagiro
19-09-2008, 09:22 AM
Mukou Jima (向島) là một địa danh ở Tokyo, ngay bên bờ sông Sumida là một địa điểm ngắm hoa Anh đào rất nổi tiếng thời tiền chiến. Có một người khách miền quê vào một quán trà trên bờ đê sông Sumida, gọi món đặc sản là bánh Sakura mochi. Người khách này ra vẻ như không biết cách ăn nên ăn luôn cả phần lá bọc bên ngoài bánh. Bà chủ quán thấy thế mới nói

- Bánh đó anh hãy lột vỏ ra rồi ăn...

Vị khách chỉ đáp lại "vậy sao" rồi ngoảnh mặt ra phía sông Sumida mà ăn.
Câu chuyện cười này rất phổ biến ở Tokyo vì người vùng này phát âm cụm từ "lột vỏ" (皮をむく -kawa wo muku) có dấu nhấn trùng với cụm từ "hướng ra sông" (川を向く-kawa wo muku) vốn đồng âm với nhau.
Nhưng câu chuyện này sẽ trở nên vô ý vị ở miền Kansai như Kyoto, Osaka vì ở đó người ta phát âm có giấu nhấn phân biệt rõ ràng giữa "lột vỏ" và "hướng ra sông".

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/124z.jpg

Bây giờ phát âm của vùng Tokyo được xem là chuẩn của tiếng Nhật nhưng không phải vì thế mà nói phát âm của vùng này là hoàn hảo nhất mà chỉ là vì lý do lịch sử mà thôi.

Acmagiro
21-09-2008, 08:57 PM
Giáng sinh là nghi lễ tôn giáo của người phương Tây nhưng ngày nay nó đã mất đi ý nghĩa tôn giáo mà trở thành một sự kiện văn hóa của nhân loại. Nếu có ai đó ở Hawaii gửi cho bạn tấm thiệp mừng Giáng sinh từ Hawaii thì trên thiệp sẽ thấy đề là Meli Kalikimaka và người Nhật sẽ đọc là メリ. カリキマカ. Lễ Giáng sinh cũng được người Nhật mô phỏng theo âm của chữ Christmas mà thành Kurisu Masu (クリスマス).

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/26.jpg

Tiếng Hawaii không có nhiều phụi âm, chỉ chừng mười âm là hết. Vì không có âm s nên họ dùng âm k gần giống để thay nên Christmas đã trở thành Kalikimaka. Ngoài ra tiếng Hawaii cũng không có âm d, t và b nên dùng k thay cho d, t và p thay cho b. Nên tháng mười hai (December) trở thành Kekemapa.

Tuy nhiên người Mỹ cũng thường đùa nhạo người Nhật bằng cách phát âm rõ từng chữ Ku. Ri. Su. Ma. Su và có lẽ họ nhìn cách phát âm này cũng hệt như người Nhật nhìn cách phát âm của người Hawaii.
Người ta thường có cái tự phụ ngôn ngữ của nước mình siêu việt, nhưng thực ra nếu lấy từ con mắt của một người nước khác thì họ cũng sẽ thấy tiếng nước họ như vậy và tiếng nước mình...kém hơn. Đúng là ai cũng thấy mình đẹp và người khác xấu cả.

__________________________________________________ _____

Acmagiro
02-10-2008, 12:19 PM
Train, từ tiếng Anh có nghĩa là xe lửa, tàu lửa, hỏa xa. Từ “hỏa xa” nếu viết sang Hán tự sẽ là  火車. Trong tiếng Nhật cũng có chữ Hán này, đọc là “kasha” nhưng lại hoàn toàn không mang nghĩa “xe lửa” như trong tiếng Việt và tiếng Tàu. Xe lửa trường hợp này là Ressha (列車).

Thế còn Kasha (火車) thì như thế nào?

Đó là một từ phát tích từ Phật Giáo. Kasha là chuyến xe (có lửa) chở người lúc sống làm nhiều chuyện ác xuống địa ngục. Vì thế mà phái sinh thêm một từ rủa người: Kasha baba (火車婆). Đây là tiếng rủa bà già ác độc, mụ già ác, trong kiếp sau sẽ bị Kasha đưa xuống địa ngục. Từ này tương tợ với Oni baba (鬼婆).

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/DSC_4324.jpg

Tiếng Nhật và tiếng Việt đều sử dụng chung một lượng lớn từ gốc Hán. đây là thành phần không thể thiếu trong cả hai ngôn ngữ. Người Việt có thuận lợi khi học tiếng Nhật, theo nhiều người nói, là kho từ gốc Hán. Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp viết cùng chữ Hán nhưng nghĩa của nó trong tiếng Việt và tiếng Nhật hoàn toàn khác nhau. Trường hợp “Kasha” chỉ là một ví dụ.

Acmagiro
04-10-2008, 11:09 PM
Mới dọn đến nhà mới một ngày mà bà lão hàng xóm đã sang nhờ… lôi con chuột ra khỏi miếng keo. Nhà toàn đàn bà nên chẳng ai dám làm. Khi vừa nói tiếng “Chuột!” đẫ bị chỉnh ngay.


-Ấy cháu đừng gọi tên. Phải gọi là anh tí đấy.


Không ngờ lại có nhiều người kiêng kỵ không dám gọi thẳng tên con chuột mà phải vòng vo tam quốc như “bác”, “cậu”, “anh tí”…..


Ở Nhật cũng thế. Ở những địa phương nuôi tằm người ta rất ghét chuột vì chúng phá tằm nên tránh tên Nezumi mà gọi thành “Yome ga Kimi”.(嫁が君)

Từ này chỉ dùng trong ngày Tết như một thứ Engi kotoba.

Nhà thơ Haiku Masaoka Shiki cũng từng viết


  あんどんの油なめけり嫁が君

Ando no

Abura namekeri

Yome ga Kimi


Con chuột

Trộm đèn dầu


Vì vậy Yome ga Kimi được dùng như Kigo (từ chỉ mùa trong thơ Haiku) chỉ mùa xuân.

Acmagiro
06-10-2008, 05:27 PM
Thịt cá voi (Kujira - 鯨) là loại thực phẩm rất được ưa chuộng tại Nhật. Cá voi còn là hình ảnh tượng trưng cho mùa đông. Về Hán tự, chữ "Kujira" được viết bằng chữ "kinh" bên cạnh bộ "ngư". Như vậy có thể thấy cổ nhân đã xem "cá voi" là một loài cá. Nhưng ngày nay khoa học phát triển đã nhìn nhận Kujira không còn là cá nữa mà là một loài động vật hữu nhũ. Nhiều người nghĩ rằng việc này cho thấy sự chậm tiến và không biến đổi cho thích hợp của Hán tự. Tương tự, con rắn (hebi - 蛇) và ếch (kaeru - 蛙) cũng được viết Hán tự với bộ "trùng" bên cạnh cho thấy quan niệm của người xưa rằng hai loài bò sát này thuộc sâu bọ. Nhưng thực ra không nên quan niệm chặt chẽ như thế.

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Hokuriku/109z.jpg

Ngay cả trong ngôn ngữ các nước Tây phương, là nơi khoa học phát triển mạnh mẽ cũng có tình trạng tương tự. Như trong tiếng Anh có từ Crawfish hay Crayfish chỉ con tôm đồng (tiếng Nhật: Zarigani, cho thấy nó có họ hàng với cua) hay từ Cuttle-fish chỉ con mực (Ika). Chứng tỏ người Anh xem mực và tôm đồng thuộc họ cá. Tương tự tiếng Thụy Điển gọi cá voi là Valfsik. Fisk ở đây tương đồng với Fish trong tiếng Anh, nghĩa là cá. Vậy người Thụy Điển cũng xem "cá" voi là cá. Hoặc như con bươm bướm trong tiếng Đan Mạch là sommerfugl, tức là xem như một loài chim. Con bọ rùa (Tentou-mushi) trong tiếng Anh lại là lady-bird, là một loại chim? Nhưng cũng có từ lady-bug chỉ bọ rùa.

Acmagiro
09-12-2008, 11:59 PM
Ngày 11 tháng 12 là ngày kỷ niệm điện thoại của nước Nhật. Đây là ngày lắp điện thoại đầu tiên ở Đông Kinh nhưng người đầu tiên sở hữu số điện thoại lại thấy thật vô ích, bởi lúc đó chẳng có ai khác có điện thoại nên ông ta không gọi được cho ai.
Bây giờ, mỗi khi gọi điện người Nhật vẫn nói "mosi mosi", kiểu như người Việt "a-lô". Đây là từ tỉnh lược, vì đầu tiên người ta nói "mousimasu, mousimasu" (tôi nói đây, tôi nói đây), chứ không phải từ mosi mang nghĩa là nếu như trong câu もし私ならば (nếu là tôi). Vì thế, có một số người khi nói chuyện điện thoại với người Âu Mỹ lại tự động "dịch" ra thành "If if", như thế là sai trầm trọng. Cái sai này bắt nguồn từ sự không hiểu biết mà hay nói chữ như người ta vẫn nói.

Lúc cục điện thoại mới thành lập thì toàn bộ nhân viên trực điện thoại đều là nam giới. Khi có khách hàng yêu cầu được nối máy với số cần gọi thì anh nhân viên này hay cao giọng 「お前の方は何番だ? よし、じゃあかけてやる」(số của ông là số mấy? Được rùi, để tui nối cho). Thái độ này làm khách hàng rất bất mãn nên về sau toàn bộ nhân viên trực điện thoại được thay bằng nhân viên nữ hết.
Trên xe điện cũng thế. Ngày xưa (cũng gần trăm năm rồi) khi hành khách nhỏ nhẹ yêu cầu 「まことにすみませんが 小川町まで乗せて下さりますか」(thà nh thật xin lỗi anh, cho tôi đến đến phố Ogawa được không) thì anh lơ xe đáp lại như ban ơn rằng:
「よし、のれ」(được, lên đi).

Hóa ra nước Nhật cũng có thời kỳ "bao cấp" như Việt Nam.
Nhưng đó là chuyện của trăm năm trước. Còn bây giờ thì?

Acmagiro
11-12-2008, 02:38 PM
Gần cuối năm, khí hậu Việt Nam dễ chịu hơn hẳn. Không còn những ngày oi bức đến nỗi mới dội nước lên người đã thấy bốc hơi đâu hết như mấy tháng trước. Nhưng cũng có lắm người phàn nàn "lạnh quá!".
Ngẫm lại tiếng Việt cũng có lắm từ "lạnh" đấy chứ. Rét, buốc, giá, còn gì nữa không nhỉ? Tiếng Nhật cũng có những từ đại loại thế: samui (寒い ), tumetai (冷たい), nhưng tiếng Anh lại gom cả hai từ, một chỉ sự khách quan và một chỉ sự chủ quan vào chỉ bằng một từ: cold. Tiếng Anh kém phong phú hơn tiếng Nhật, tiếng Việt ở mảng thời tiết chăng? Chẳng hạn, tiếng Nhật có câu

「おお、寒い、手がこんな冷たくな たわ」(Ôi lạnh quá, tay cóng cả rồi nè)
thì samui là sự lạnh khách quan, tumetai là sự lạnh chủ quan, thuộc cảm nhận của người nói. Không hiểu câu này nếu dịch sang tiếng Anh sẽ như thế nào? Freeze, frozen chắc khó mà tương đương với cảm giác tumetai của tiếng Nhật được.
Tính từ "tumetai" này có nguồn gốc từ "tume ga itai" (ツメが痛い) (đau cái tume, ý nói rét đến đau cả tume). Tume ở đây không phải là móng tay như từ điển hiện đại định nghĩa, nó không phải là cái "nail" trong tiếng Anh mà chỉ toàn bộ phần đầu cả ngón tay, gồm cả móng nữa. Ngày xưa nghĩa của từ つめ (tume) là như vậy. Bằng chứng là trong tiếng Nhật có động từ つまびく (tumabiku) mang nghĩa là kéo dây cung bằng đầu ngón tay, khảy dây đàn bằng móng tay. Động từ つまむ (tumamu) là nắm, kéo, vặn bằng đầu ngón tay, bốc bằng tay, gắp bằng đũa....

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/Kenkyusha/Butsuzou%201/Yakushinyorai.jpg

Tượng Dược Sư Như Lai (Yakushi Nyorai)

Tiếng Nhật còn có từ 爪印 (tume-in), lật nhiều từ điển bây giờ ra thì thấy giải thích là "đóng dấu bằng móng tay". Nhưng cách giải thích này là sai. Theo từ điển Koujien, từ điển uy tín nhất hiện nay thì từ này có nghĩa đóng dấu (trong văn thư) bằng đầu ngón tay. Như vậy có thể thấy được rằng người Nhật rất mù mờ trong chuyện đặt tên các bộ phận cơ thể.Tương tự, từ 手 (te) đối với người Nhật (ngày xưa) cũng không phải rõ ràng là "bàn tay", "hand" mà nó mơ hồ, có thể vừa là "hand" nhưng cũng vừa là "cánh tay", "arm", 腕 (ude).

Như vậy, tiếng Nhật tuy phong phú về khoảng từ vựng chỉ thời tiết, cá, thảo mộc, tình cảm hướng nội nhưng lại rất mơ hồ về từ ngữ chỉ bộ phận thân thể.

Acmagiro
24-12-2008, 09:34 PM
Tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ có sự tiếp nhận, hấp thu, dung hòa nhiều thứ tiếng khác nhau và phát triển nên một hệ thống đặc biệt của riêng nó. Thuyết vững chắc nhất hiện nay cho rằng tiếng Nhật thuộc cùng ngữ hệ với tiếng Mông Cổ, Triều Tiên và tiếng Bascus ở châu Âu, nhưng xét kỹ thì thấy nó có nhiều điểm dị biệt so với các ngôn ngữ kia. Chữ Hán đóng một vai trò quan trọng trong tiếng Nhật (cũng như yếu tố Hán trong tiếng Việt), ngoài ra các nhà nghiên cứu còn cho rằng phát âm của tiếng Nhật còn chịu ảnh hưởng của tiếng Phạn nữa. Thành ra nếu đọc các chữ đầu trong bảng chữ cái Iroha của tiếng Nhật thì sẽ thấy âm hưởng như kinh Phật :

a-ka-sa-ta-na-ha-ma-ya-ra-wa-n

Khi dạy tiếng Nhật cho người ngoại quốc, người ta không dạy thứ tự a-ka-sa-ta-na-ha-ma-ya-ra-wa-n này nhưng từ điển tiếng Nhật luôn sắp thứ tự vần theo lối này.
Người ta còn cho rằng người nghĩ ra bài thơ Iroha là nhà sư Koubou Daisi (Hoằng Pháp Đại sư, tức sư Kukai, Không Hải, ông tổ Mật tông ở Nhật). Có thể nói không ngoa rằng Iroha, bảng chữ Kana là một thành tựu lớn của tiếng Nhật. Nó chấm dứt thời kỳ vay mượn chữ Hán "không có chọn lọc", vốn không diễn tả được âm tiếng của tiếng Nhật và khó diễn đạt được tâm hồn người Nhật. Ai cũng biết là chữ Hiragana (tức chữ mềm) là lối viết thảo của chữ Hán (Kanji) còn chữ Katakana (tức chữ cứng) là một phần của chữ Hán. Thế nhưng do đâu dẫn đến sự ra đời của Hiragana?
Có hai nguyên nhân chính:

+ Ban đầu người Nhật dùng toàn bộ chữ Hán để diễn đạt ý tưởng của mình qua công văn, sách vở, nhưng chữ Hán vốn nhiều nét, viết chậm nên hiệu suất làm việc của quan lại (ghi chép) không cao. Vì thế cần có một loại chữ đơn giản hơn.

+ Thời kỳ đầu người Nhật dùng chữ Hán để diễn đạt ý tưởng của mình qua thơ ca, văn nghệ (Waka). Nhưng chữ Hán chỉ thích hợp với Hán văn, Hán thi và khó diễn tả được cảm xúc tinh tế của tâm hồn người. Hơn nữa nét chữ Hán viết theo lối khải, chân phương thường cứng và chỉ có lối viết thảo, tức Hiragana sau này mới thể hiện được cảm xúc tinh tế của Waka.

Ban đầu (thời Heian) chỉ có nữ giới dùng chữ Hiragana, vốn mềm mại uyển chuyển, còn chữ Hán vẫn là biểu tượng của quyền lực và tri thức độc quyền của nam giới. Nhưng sau này cả nam giới cũng dùng chữ Hiragana. Và mãi đến sau này, khi đã giao du hòa nhập với Thế giới thì người Nhật mới bắt đầu dùng chữ La Tinh (Romaji) để biểu âm cho ngôn ngữ của mình như là một phương tiện để dạy tiếng Nhật cho người ngoại quốc dễ dàng hơn. Ngày nay người ta vẫn sử dụng song song hai hệ thống Romaji là

+ Hệ thống của Nhật (日本式), trong đó あ được biểu ký là a, か là ka, và tiếp theo là ki, ku, ke, ko, sa, si, su, se, so, ta, ti, tu, te, to, na, ni, nu, ne, no, ha, hi, hu, he, ho, ma, mi, mu, me, mo, ya, (i), yu, (e), yo, wa, wi (i-ゐ), (u), we (e, -ゑ), wo, n....

+ Hệ thống Hebon (ヘボン式): tương tự như hệ thống của Nhật, chỉ khác là し được biểu ký bằng shi thay vì si, ち là chi thay vì ti, つ là tsu thay vì tu, しゃ là sha thay vì sya, しゅ là shu thay cho syu....

http://i33.photobucket.com/albums/d95/Yamato-Ichiro/iroha.gif

Bài thơ Iroha, sẽ nói kỹ hơn trong bài sau.


Hệ thống biểu ký của Nhật thường được dùng cho mọi ghi chép quốc nội còn hệ thống Hebon được dùng cho ghi chép mang tính Quốc tế và người Tây phương chuộng lối này hơn. Nhưng hệ thống Hebon cũng không phải là hoàn hảo. Lấy ví dụ

待つ (matsu, matu: chờ đợi) --> 待たない (không chờ). Nếu chọn lối Hebon thì theo lý luận sẽ thành mattsanai (bất tự nhiên), còn nếu chọn lối của Nhật sẽ hợp lý hơn: matanai.

Nhưng nhìn chung thì lối biểu ký Hebon hợp với phát âm của tiếng Nhật hơn. Nhưng bản thân người Nhật lại không rành lắm và không để ý lắm đến chuyện biểu ký tiếng nói của họ bằng chữ La Tinh ra sao. Rất nhiều người không biết đến những quy tắc như ん(n) phải viết thành nếu đứng trước b, p (こんばん phải viết là komban). Mà có lẽ họ cũng chẳng cần thiết phải để tâm đến chuyện này, bởi lẽ tiếng Nhật chỉ có toàn Romaji thì cũng hệt như tiếng Việt không có dấu.

Nhìn lại thì thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ đặc biệt ở châu Á, âm điệu của nó hoàn toàn phù hợp với biểu ký bằng chữ La Tinh, một điều mà các ngôn ngữ Á châu khác, trong đó có tiếng Nhật, dù muốn cũng không làm được.