Kasumi
10-05-2006, 03:35 PM
Vào thời điểm này mối quan hệ lao động Việt Nam-Nhật Bản rất tốt đẹp. Cơ hội mới dành cho tu nghiệp sinh và lao động Việt Nam vào Nhật Bản sẽ nhiều hơn trong năm nay và những năm tới.
Kinh tế phát triển và vấn đề thiếu lao động
Kinh tế phát triển nhưng Nhật Bản đang phải đối đầu với tình trạng thiếu lao động một cách trầm trọng. Trước hết, do tình trạng dân số già đi rất nhanh, tuổi thọ tăng cao (nam: 78,32 tuổi; nữ: 85,23 tuổi). Bên cạnh đó, vì sức ép của công việc, một phần do cuộc sống tiêu thụ hiện đại, giới trẻ Nhật Bản thường không muốn kết hôn, hoặc kết hôn muộn, và không sinh con sau khi kết hôn hoặc sinh con rất muộn.
Cùng với tình trạng dân số già đi và tỷ lệ sinh sản rất thấp đã đẩy Nhật Bản vào tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Thông thường, nếu quốc gia nào thiếu lao động thì họ tiếp nhận và sử dụng lao động nước ngoài. Nhưng Nhật Bản lại không thể làm như thế. Tính tự tôn dân tộc rất cao cũng góp phần làm cho các doanh nghiệp Nhật Bản lúc nào cũng bị rơi vào tình trạng khát lao động. Nhiều cuộc thăm dò dư luận xã hội và tranh luận ở Quốc hội vẫn chưa đi đến ngã ngũ là Nhật Bản có tiếp nhận và sử dụng lao động nước ngoài hay không? Hiện thời, Quốc hội Nhật Bản vẫn duy trì chính sách “tiếp nhận TNS sang học nghề kỹ thuật và làm việc (rèn nghề) tại Nhật Bản”, chưa chấp nhận người nước ngoài vào làm việc tại Nhật Bản với tư cách là người lao động.
Tình trạng thiếu lao động trầm trọng đến mức Nhật Bản phải có chính sách kéo dài thời gian công tác của viên chức; nhiều cơ quan, doanh nghiệp tiếp tục ký lại hợp đồng làm việc với người lao động đã về hưu; đầu tư đào tạo lại nguồn nhân lực hiện thất nghiệp để nâng cao năng lực sử dụng hết nguồn lao động hiện có... Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp tình thế, nhất thời. Biện pháp cơ bản và hợp lý nhất là Nhật Bản cần phải mở cửa thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho một nền kinh tế đang phát triển rất mạnh.
Theo hướng này, gần đây, một số cơ quan có quan điểm cứng rắn trong việc tiếp nhận lao động nước ngoài, như Bộ Y tế-Lao động, cũng đề xuất giải pháp khá cởi mở như “Xúc tiến một cách tích cực việc tiếp nhận người nước ngoài có kỹ thuật và kiến thức chuyên môn thông dụng trên thế giới”. Đề xuất ấy, có nghĩa là, Nhật Bản sẽ thay đổi cơ bản về nhận thức và hành động: Chuyển hẳn từ việc tiếp nhận TNS sang tiếp nhận lao động, trước hết là đối với lao động có nghề, lao động kỹ thuật có thể làm việc ở các ngành nghề thông dụng, ở các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản. Nhiều nước cung ứng lao động như Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Thái-lan đã nhanh chóng “bắt” lấy cơ hội này bằng cách xây dựng chủ trương, chính sách; chuẩn bị nguồn nhân lực có tay nghề, sẵn sàng “đổ bộ” vào thị trường lao động Nhật Bản khi cánh cửa được mở ra.
Việt Nam và thị trường lao động Nhật Bản
Nhật Bản luôn dành cho Việt Nam viện trợ ODA ở mức cao nhất, ngay cả trong thời kỳ nền kinh tế Nhật Bản còn gặp khó khăn. Ở Nhật Bản, chúng tôi đã gặp một số nhà đầu tư, nhà hoạt động nhân đạo xã hội, chủ doanh nghiệp đã tiếp nhận tu nghiệp sinh (TNS) Việt Nam, ai cũng dành cho Việt Nam mối thiện cảm và tỏ ý hợp sức làm ăn bền vững, lâu dài. Trong câu chuyện, chúng tôi đều thấy họ có ý thăm dò tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian gần đây, và tỏ ý sẽ đầu tư nếu các điều kiện đầu tư của Việt Nam thoả mãn nhu cầu của họ. Trong trường hợp, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tăng lên, đồng thời Nhật Bản lại mở cửa thị trường lao động cho Việt Nam, thì sẽ đạt hiệu quả “kép”: Lao động Việt Nam sang Nhật Bản với số lượng nhiều hơn, và khi hết hạn hợp đồng làm việc, những lao động Việt Nam đã được tôi rèn tay nghề và phong cách làm việc hiện đại ở Nhật Bản sẽ trở về nước tiếp tục làm việc ở doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản, phát huy tay nghề và kinh nghiệm góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Từ năm 1992, khi Nhật Bản ban hành chính sách tiếp nhận TNS thì Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên có TNS đến học nghề và lao động kỹ thuật tại Nhật Bản. Hàng chục nghìn TNS Việt Nam đã đến làm việc ở hàng nghìn doanh nghiệp trên đất nước hoa anh đào.
Ông Lê Văn Thanh, tham tán, Trưởng Ban Quản lý lao động Việt Nam tại Nhật Bản, cho biết: Ở thời điểm hiện nay, Nhật Bản đang sử dụng 760 nghìn lao động nước ngoài, trong đó, Việt Nam chỉ có 9.500 TNS và lao động. Ba tháng đầu năm 2006, Nhật Bản tiếp nhận 17.646 TNS, trong đó Trung Quốc đạt 14.500 (tỷ lệ 82,2%); Indonesia: 950 (5,38%); Việt Nam: 610 (3,46%); Philippinnes: 633 (3,59%); Thái-lan: 545 (3,09%). Một câu hỏi đặt ra là, tại sao Nhật Bản lại tiếp nhận nhiều TNS Trung Quốc? Câu trả lời rất đơn giản: Lao động Trung Quốc làm việc tốt, tính kỷ luật cao, đặc biệt là không bỏ hợp đồng ra làm việc bất hợp pháp ở bên ngoài. Những năm trước đây, tình trạng TNS Việt Nam ở Nhật Bản bỏ hợp đồng rất cao (tỷ lệ có lúc tới hơn 35%) gây ra nhức nhối trong quan hệ lao động Việt Nam-Nhật Bản.
Chính phủ Việt Nam cũng thấy sự nghiêm trọng của tình trạng này, đã ban hành nhiều biện pháp xử lý nghiêm minh, gần đây là Nghị định 141/CP xử lý hành chính và hình sự đối với lao động bỏ hợp đồng và người bảo lãnh cho lao động. Nhờ thế, từ chỗ tỷ lệ bỏ hợp đồng cao, đến cuối năm 2005 tỷ lệ này giảm hẳn còn 11,14%. Nhiều nghiệp đoàn và doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao những cố gắng của Việt Nam trong việc ngăn chặn, xử lý nghiêm minh TNS và lao động bỏ hợp đồng, đồng thời coi đây là một yếu tố tích cực thúc đẩy việc Nhật Bản tiếp nhận TNS Việt Nam.
Công ty AIC và Công ty VINAMOTOR (Bộ Giao thông vận tải) là những doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam điển hình trong việc kiên quyết ngăn chặn tình trạng lao động bỏ hợp đồng, lấy lại uy tín cho TNS Việt Nam trên thị trường lao động Nhật Bản. Trong hai năm (2004 và 2005), Công ty VINAMOTOR chỉ có 0,5% lao động bỏ hợp đồng.
Ông Nguyễn Lương Ngọc, trưởng phòng thị trường Nhật Bản của VINAMOTOR cho biết: Những năm trước đây, VINAMOTOR đau tai và đau đầu khi làm việc với các đối tác Nhật Bản. Một vấn đề đã trở thành “điệp khúc” mà lần làm việc nào các bạn Nhật Bản cũng đặt ra: Bao giờ thì các ông (doanh nghiệp) và Việt Nam mới ngăn chặn được tình trạng TNS và lao động bỏ hợp đồng? Khi nào Việt Nam ngăn chặn được tình trạng kể trên thì các nghiệp đoàn và doanh nghiệp Nhật Bản mới có thể tiếp nhận thêm nữa TNS và lao động Việt Nam.
Kinh tế phát triển và vấn đề thiếu lao động
Kinh tế phát triển nhưng Nhật Bản đang phải đối đầu với tình trạng thiếu lao động một cách trầm trọng. Trước hết, do tình trạng dân số già đi rất nhanh, tuổi thọ tăng cao (nam: 78,32 tuổi; nữ: 85,23 tuổi). Bên cạnh đó, vì sức ép của công việc, một phần do cuộc sống tiêu thụ hiện đại, giới trẻ Nhật Bản thường không muốn kết hôn, hoặc kết hôn muộn, và không sinh con sau khi kết hôn hoặc sinh con rất muộn.
Cùng với tình trạng dân số già đi và tỷ lệ sinh sản rất thấp đã đẩy Nhật Bản vào tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Thông thường, nếu quốc gia nào thiếu lao động thì họ tiếp nhận và sử dụng lao động nước ngoài. Nhưng Nhật Bản lại không thể làm như thế. Tính tự tôn dân tộc rất cao cũng góp phần làm cho các doanh nghiệp Nhật Bản lúc nào cũng bị rơi vào tình trạng khát lao động. Nhiều cuộc thăm dò dư luận xã hội và tranh luận ở Quốc hội vẫn chưa đi đến ngã ngũ là Nhật Bản có tiếp nhận và sử dụng lao động nước ngoài hay không? Hiện thời, Quốc hội Nhật Bản vẫn duy trì chính sách “tiếp nhận TNS sang học nghề kỹ thuật và làm việc (rèn nghề) tại Nhật Bản”, chưa chấp nhận người nước ngoài vào làm việc tại Nhật Bản với tư cách là người lao động.
Tình trạng thiếu lao động trầm trọng đến mức Nhật Bản phải có chính sách kéo dài thời gian công tác của viên chức; nhiều cơ quan, doanh nghiệp tiếp tục ký lại hợp đồng làm việc với người lao động đã về hưu; đầu tư đào tạo lại nguồn nhân lực hiện thất nghiệp để nâng cao năng lực sử dụng hết nguồn lao động hiện có... Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp tình thế, nhất thời. Biện pháp cơ bản và hợp lý nhất là Nhật Bản cần phải mở cửa thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho một nền kinh tế đang phát triển rất mạnh.
Theo hướng này, gần đây, một số cơ quan có quan điểm cứng rắn trong việc tiếp nhận lao động nước ngoài, như Bộ Y tế-Lao động, cũng đề xuất giải pháp khá cởi mở như “Xúc tiến một cách tích cực việc tiếp nhận người nước ngoài có kỹ thuật và kiến thức chuyên môn thông dụng trên thế giới”. Đề xuất ấy, có nghĩa là, Nhật Bản sẽ thay đổi cơ bản về nhận thức và hành động: Chuyển hẳn từ việc tiếp nhận TNS sang tiếp nhận lao động, trước hết là đối với lao động có nghề, lao động kỹ thuật có thể làm việc ở các ngành nghề thông dụng, ở các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản. Nhiều nước cung ứng lao động như Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Thái-lan đã nhanh chóng “bắt” lấy cơ hội này bằng cách xây dựng chủ trương, chính sách; chuẩn bị nguồn nhân lực có tay nghề, sẵn sàng “đổ bộ” vào thị trường lao động Nhật Bản khi cánh cửa được mở ra.
Việt Nam và thị trường lao động Nhật Bản
Nhật Bản luôn dành cho Việt Nam viện trợ ODA ở mức cao nhất, ngay cả trong thời kỳ nền kinh tế Nhật Bản còn gặp khó khăn. Ở Nhật Bản, chúng tôi đã gặp một số nhà đầu tư, nhà hoạt động nhân đạo xã hội, chủ doanh nghiệp đã tiếp nhận tu nghiệp sinh (TNS) Việt Nam, ai cũng dành cho Việt Nam mối thiện cảm và tỏ ý hợp sức làm ăn bền vững, lâu dài. Trong câu chuyện, chúng tôi đều thấy họ có ý thăm dò tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian gần đây, và tỏ ý sẽ đầu tư nếu các điều kiện đầu tư của Việt Nam thoả mãn nhu cầu của họ. Trong trường hợp, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tăng lên, đồng thời Nhật Bản lại mở cửa thị trường lao động cho Việt Nam, thì sẽ đạt hiệu quả “kép”: Lao động Việt Nam sang Nhật Bản với số lượng nhiều hơn, và khi hết hạn hợp đồng làm việc, những lao động Việt Nam đã được tôi rèn tay nghề và phong cách làm việc hiện đại ở Nhật Bản sẽ trở về nước tiếp tục làm việc ở doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản, phát huy tay nghề và kinh nghiệm góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Từ năm 1992, khi Nhật Bản ban hành chính sách tiếp nhận TNS thì Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên có TNS đến học nghề và lao động kỹ thuật tại Nhật Bản. Hàng chục nghìn TNS Việt Nam đã đến làm việc ở hàng nghìn doanh nghiệp trên đất nước hoa anh đào.
Ông Lê Văn Thanh, tham tán, Trưởng Ban Quản lý lao động Việt Nam tại Nhật Bản, cho biết: Ở thời điểm hiện nay, Nhật Bản đang sử dụng 760 nghìn lao động nước ngoài, trong đó, Việt Nam chỉ có 9.500 TNS và lao động. Ba tháng đầu năm 2006, Nhật Bản tiếp nhận 17.646 TNS, trong đó Trung Quốc đạt 14.500 (tỷ lệ 82,2%); Indonesia: 950 (5,38%); Việt Nam: 610 (3,46%); Philippinnes: 633 (3,59%); Thái-lan: 545 (3,09%). Một câu hỏi đặt ra là, tại sao Nhật Bản lại tiếp nhận nhiều TNS Trung Quốc? Câu trả lời rất đơn giản: Lao động Trung Quốc làm việc tốt, tính kỷ luật cao, đặc biệt là không bỏ hợp đồng ra làm việc bất hợp pháp ở bên ngoài. Những năm trước đây, tình trạng TNS Việt Nam ở Nhật Bản bỏ hợp đồng rất cao (tỷ lệ có lúc tới hơn 35%) gây ra nhức nhối trong quan hệ lao động Việt Nam-Nhật Bản.
Chính phủ Việt Nam cũng thấy sự nghiêm trọng của tình trạng này, đã ban hành nhiều biện pháp xử lý nghiêm minh, gần đây là Nghị định 141/CP xử lý hành chính và hình sự đối với lao động bỏ hợp đồng và người bảo lãnh cho lao động. Nhờ thế, từ chỗ tỷ lệ bỏ hợp đồng cao, đến cuối năm 2005 tỷ lệ này giảm hẳn còn 11,14%. Nhiều nghiệp đoàn và doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao những cố gắng của Việt Nam trong việc ngăn chặn, xử lý nghiêm minh TNS và lao động bỏ hợp đồng, đồng thời coi đây là một yếu tố tích cực thúc đẩy việc Nhật Bản tiếp nhận TNS Việt Nam.
Công ty AIC và Công ty VINAMOTOR (Bộ Giao thông vận tải) là những doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam điển hình trong việc kiên quyết ngăn chặn tình trạng lao động bỏ hợp đồng, lấy lại uy tín cho TNS Việt Nam trên thị trường lao động Nhật Bản. Trong hai năm (2004 và 2005), Công ty VINAMOTOR chỉ có 0,5% lao động bỏ hợp đồng.
Ông Nguyễn Lương Ngọc, trưởng phòng thị trường Nhật Bản của VINAMOTOR cho biết: Những năm trước đây, VINAMOTOR đau tai và đau đầu khi làm việc với các đối tác Nhật Bản. Một vấn đề đã trở thành “điệp khúc” mà lần làm việc nào các bạn Nhật Bản cũng đặt ra: Bao giờ thì các ông (doanh nghiệp) và Việt Nam mới ngăn chặn được tình trạng TNS và lao động bỏ hợp đồng? Khi nào Việt Nam ngăn chặn được tình trạng kể trên thì các nghiệp đoàn và doanh nghiệp Nhật Bản mới có thể tiếp nhận thêm nữa TNS và lao động Việt Nam.