Minh Hiếu
23-08-2006, 07:24 PM
Người dân Nhật Bản thường xuyên nghe thấy khẩu hiệu: chào mừng đến với Nhật Bản mới! từ những nhà bình luận hay một vị quan chức nào đó muốn tuyên bố rằng trong một đất nước mà dường như chẳng có gì thay đổi, vẫn có một vài xu hướng mới rất ấn tượng có thể nhìn thấy. Nhưng thật là sai lầm hoặc quá cường điệu vì Nhật Bản không bao giờ làm được điều kỳ diệu (và điều đó không chỉ là lời bình luận trên Kabuki hay Nod) trừ khi đất nước này cảm thấy bị đe doạ bị xâm lược, như trong những năm 1860, hoặc phải chịu đựng hậu quả bị thua trong chiến tranh như năm 1945. Sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán và bất động sản bắt đầu từ năm 1990 đã gây sốc đối với những nước theo sau họ và chắc chắn đã tạo ra một sự thay đổi rõ nét trong ý niệm về Nhật Bản trên thế giới cũng nhận thức của Nhật Bản về chính mình. Nhưng sự phản ứng về mặt xã hội và chính trị thì hoàn toàn mờ nhạt. Nhật Bản đã loay hoay vượt qua được, bởi lúc đầu họ phủ nhận thực tế nhưng rồi sau đó họ cũng phải đưa ra hàng loạt điều chỉnh dần dần. Mười lăm năm đã qua, với một đảng cầm quyền chiếm đa số phiếu trong chính phủ, xã hội được duy trì ổn định và công ty Toyota là công ty ô tô danh tiếng nhất toàn cầu. Ai cũng biêt đến người nhật vì plus ca change, plus c’est la même chose?
Tuy nhiên, theo như nghiên cứu đã tranh luận, điều đó cũng lại sai lầm. Những điều chỉnh lớn trong lĩnh vực chính trị, luật công ty, các quy định về tài chính, thị trường vốn, luật lao động và những thông lệ, và rất nhiều lĩnh vực khác, đã làm biến đổi những động lực đang định hướng phát triển xã hội, nền kinh tế và chính trị Nhật Bản. Hiệu quả của sự điều chỉnh này một phần nhằm giảm tình trạng không chính xác, phân bổ vốn bất hợp lý, và thiếu kỷ luật tồn tại trong khoảng hai thập kỷ qua bên trong những điểm mạnh đã có từ lâu về kinh tế và chính trị của Nhật Bản: nền giáo dục tuyệt vời, quan hệ hợp tác thân thiện trong các công ty và có nền công nghệ hiện đại tiên tiến.Tuy nhiên, trong giai đoạn dài hơn, tích luỹ dần nhiều cải cách nhỏ sẽ đưa Nhật Bản tiến theo những hướng phát triển mới, đặc biệt xét trong những thay đổi gần đây tại nền kinh tế Đông Á và nền kinh tế thế giới, cùng với những chuyển biến trong chính môi trường nhân khẩu của chính Nhật bản. Không ai có thể thực sự biết liệu những hướng phát triển này sẽ đưa Nhật Bản đến đâu sau 15 nữa. Nhưng một vài có thể được đưa ra.
Điểm dễ nhất để bắt đầu là dự đoán về nhân khẩu. Với tỷ lệ sinh đang giảm mạnh kể từ cuộc bùng nổ trẻ em sau của những năm 50 và tuổi thọ trung bình đang kéo dài thêm từng năm thì chiều hường chắc chắn rằng trong vòng ít nhất 15-20 năm tới: Chính phủ cho rằng tổng dân số Nhật Bản sẽ bắt đầu thu hẹp lại trong nửa đầu năm nay và chắc chắn là sẽ liên tục giảm từ năm 2007 trở đi. Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội cho biết: sự thu hẹp đó sẽ diễn ra chậm, nhưng với lượng ít hơn trẻ em sẵn sàng để gia nhập lực lượng lao động và những người về hưu lại nhiều dần lên thì lượng dân số trong độ tuổi lao động (từ 15-64 tuổi) sẽ giảm khoảng 0,7% một năm.
Nếu suy ra từ xu hướng hiện nay cho những năm sau năm 2020, thì con số thu được sẽ đáng giật mình. Một dự đoán của Bộ Y tế đưa ra rằng dân số Nhật Bản sẽ giảm từ 128 triệu dân vào thời điểm này xuống còn 100 triệu người vào năm 2050. Peter Morgan, nhà kinh tế cấp cao ở Tokyo ở Ngân hàng HSBC, cho rằng bộ Y tế đang quá lạc quan về tỷ lệ sinh bởi vì ngày càng có nhiều phụ nữ kết hôn muộn hoặc không muốn kết hôn. Ông ấy cho rằng nếu dự đoán cẩn thận thì dân số sẽ giảm xuống tới 86 triệu người vào năm 2050. Tuy nhiên, theo như Morgan biết, vấn đề này không phải là điều mặc định như vậy sau hơn 15-20 năm nữa. Pháp, Scandinavia và trên hết là Mỹ gần đây đã minh chứng rằng tỷ lệ sinh sản đang giảm xuống của họ đã tăng trở lại. Và điều này cũng có thể xảy ra tương tự ở Nhật.
Vấn đề là ở chỗ chính sách làm tăng lực lượng lao động và phục hồi lại mức độ tăng dân số có thể mâu thuẫn với chính sách khác. Với lực lượng lao động đang co lại và già đi, các công ty và chính phủ đều đang cố gắng hơn nữa để đưa nhiều phụ nữ hơn vào lực lượng lao động và sử dụng họ ở những vị trí đòi hỏi kỹ năng và tinh thần trách nhiệm. Nhưng những nỗ lực này mà càng đạt được thành công, thì ngày càng ít trẻ em được sinh ra. Nếu chính phủ cố gắng khuyến khích phụ nữ sinh nhiều hơn, thì ngược lại sẽ có ít phụ nữ ở độ tuổi 20-30 tham gia vào lực lượng lao động.
Để đạt được cả hai mục tiêu trên có lẽ sẽ phải chi nhiều tiền đóng góp của công chúng cũng như của các đoàn thể vào đầu tư vào thực hiện các biện pháp chăm sóc trẻ em, những thứ mà hiện đang rất thiếu. Theo truyền thống, thường trẻ em được ông bà trông coi, nhưng ngày nay và trong tương lai các ông bà muốn dành thời gian nghỉ hưu của mình đi du lịch thế giới, và những người phụ nữ trẻ thì không thích vướng bận với những đứa trẻ ở nhà. Do đó, đầu tư vào việc chăm sóc trẻ em chính là biện pháp nên làm.
Khó khăn thay, áp lực đối với sự chi tiêu đó sẽ đến cùng một lúc với những khoảng tài chính công cộng phải phân chia cho những mục đích khác nữa. Về ý tưởng, bạn sẽ không muốn giải quyết những khoản chi tiêu này khi mà thâm hụt ngân sách lên tới mức 6,4% GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và tổng nợ công cộng là 170% GDP, như trong năm 2004-2005 vừa qua. Đó là lý do giải thích tại sao xu hướng mà tổng thống Kuizumi đang rất bận bịu để đẩy nhanh biện pháp cắt giảm, cụ thể là cắt giảm chi tiêu quốc gia, đặc biệt là trong các chương trình xây dựng công cộng và cho vay trợ cấp, vẫn đang tiếp tục. Chi tiêu công cộng cần có các khoản chi riêng cho chăm sóc trẻ em, các quỹ lương hưu và chăm sóc y tế.
Lực lượng lao động đang thu lại, với những nỗ lực để đem lại cho người phụ nữ một vai trò lớn hơn, cũng có nghĩa rằng nỗi lo lắng lớn của 5 năm trước rằng việc tăng lao động công việc thời vụ và làm việc bán thời gian mà tạo ra lực lượng lao động hai lớp đã dần biến mất. Có thể có một vài sự sắp xếp các biện pháp bảo hộ đối với người lao động thường xuyên để giữ mọi việc được linh hoạt, nhưng với lực lượng lao động khan hiếm, số lao động chuyển đổi mới không phù hợp, mà hiện nay chiếm khoảng 30% lực lượng lao động, chắc chắn sẽ giảm đi.
Tuy nhiên, theo như nghiên cứu đã tranh luận, điều đó cũng lại sai lầm. Những điều chỉnh lớn trong lĩnh vực chính trị, luật công ty, các quy định về tài chính, thị trường vốn, luật lao động và những thông lệ, và rất nhiều lĩnh vực khác, đã làm biến đổi những động lực đang định hướng phát triển xã hội, nền kinh tế và chính trị Nhật Bản. Hiệu quả của sự điều chỉnh này một phần nhằm giảm tình trạng không chính xác, phân bổ vốn bất hợp lý, và thiếu kỷ luật tồn tại trong khoảng hai thập kỷ qua bên trong những điểm mạnh đã có từ lâu về kinh tế và chính trị của Nhật Bản: nền giáo dục tuyệt vời, quan hệ hợp tác thân thiện trong các công ty và có nền công nghệ hiện đại tiên tiến.Tuy nhiên, trong giai đoạn dài hơn, tích luỹ dần nhiều cải cách nhỏ sẽ đưa Nhật Bản tiến theo những hướng phát triển mới, đặc biệt xét trong những thay đổi gần đây tại nền kinh tế Đông Á và nền kinh tế thế giới, cùng với những chuyển biến trong chính môi trường nhân khẩu của chính Nhật bản. Không ai có thể thực sự biết liệu những hướng phát triển này sẽ đưa Nhật Bản đến đâu sau 15 nữa. Nhưng một vài có thể được đưa ra.
Điểm dễ nhất để bắt đầu là dự đoán về nhân khẩu. Với tỷ lệ sinh đang giảm mạnh kể từ cuộc bùng nổ trẻ em sau của những năm 50 và tuổi thọ trung bình đang kéo dài thêm từng năm thì chiều hường chắc chắn rằng trong vòng ít nhất 15-20 năm tới: Chính phủ cho rằng tổng dân số Nhật Bản sẽ bắt đầu thu hẹp lại trong nửa đầu năm nay và chắc chắn là sẽ liên tục giảm từ năm 2007 trở đi. Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội cho biết: sự thu hẹp đó sẽ diễn ra chậm, nhưng với lượng ít hơn trẻ em sẵn sàng để gia nhập lực lượng lao động và những người về hưu lại nhiều dần lên thì lượng dân số trong độ tuổi lao động (từ 15-64 tuổi) sẽ giảm khoảng 0,7% một năm.
Nếu suy ra từ xu hướng hiện nay cho những năm sau năm 2020, thì con số thu được sẽ đáng giật mình. Một dự đoán của Bộ Y tế đưa ra rằng dân số Nhật Bản sẽ giảm từ 128 triệu dân vào thời điểm này xuống còn 100 triệu người vào năm 2050. Peter Morgan, nhà kinh tế cấp cao ở Tokyo ở Ngân hàng HSBC, cho rằng bộ Y tế đang quá lạc quan về tỷ lệ sinh bởi vì ngày càng có nhiều phụ nữ kết hôn muộn hoặc không muốn kết hôn. Ông ấy cho rằng nếu dự đoán cẩn thận thì dân số sẽ giảm xuống tới 86 triệu người vào năm 2050. Tuy nhiên, theo như Morgan biết, vấn đề này không phải là điều mặc định như vậy sau hơn 15-20 năm nữa. Pháp, Scandinavia và trên hết là Mỹ gần đây đã minh chứng rằng tỷ lệ sinh sản đang giảm xuống của họ đã tăng trở lại. Và điều này cũng có thể xảy ra tương tự ở Nhật.
Vấn đề là ở chỗ chính sách làm tăng lực lượng lao động và phục hồi lại mức độ tăng dân số có thể mâu thuẫn với chính sách khác. Với lực lượng lao động đang co lại và già đi, các công ty và chính phủ đều đang cố gắng hơn nữa để đưa nhiều phụ nữ hơn vào lực lượng lao động và sử dụng họ ở những vị trí đòi hỏi kỹ năng và tinh thần trách nhiệm. Nhưng những nỗ lực này mà càng đạt được thành công, thì ngày càng ít trẻ em được sinh ra. Nếu chính phủ cố gắng khuyến khích phụ nữ sinh nhiều hơn, thì ngược lại sẽ có ít phụ nữ ở độ tuổi 20-30 tham gia vào lực lượng lao động.
Để đạt được cả hai mục tiêu trên có lẽ sẽ phải chi nhiều tiền đóng góp của công chúng cũng như của các đoàn thể vào đầu tư vào thực hiện các biện pháp chăm sóc trẻ em, những thứ mà hiện đang rất thiếu. Theo truyền thống, thường trẻ em được ông bà trông coi, nhưng ngày nay và trong tương lai các ông bà muốn dành thời gian nghỉ hưu của mình đi du lịch thế giới, và những người phụ nữ trẻ thì không thích vướng bận với những đứa trẻ ở nhà. Do đó, đầu tư vào việc chăm sóc trẻ em chính là biện pháp nên làm.
Khó khăn thay, áp lực đối với sự chi tiêu đó sẽ đến cùng một lúc với những khoảng tài chính công cộng phải phân chia cho những mục đích khác nữa. Về ý tưởng, bạn sẽ không muốn giải quyết những khoản chi tiêu này khi mà thâm hụt ngân sách lên tới mức 6,4% GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và tổng nợ công cộng là 170% GDP, như trong năm 2004-2005 vừa qua. Đó là lý do giải thích tại sao xu hướng mà tổng thống Kuizumi đang rất bận bịu để đẩy nhanh biện pháp cắt giảm, cụ thể là cắt giảm chi tiêu quốc gia, đặc biệt là trong các chương trình xây dựng công cộng và cho vay trợ cấp, vẫn đang tiếp tục. Chi tiêu công cộng cần có các khoản chi riêng cho chăm sóc trẻ em, các quỹ lương hưu và chăm sóc y tế.
Lực lượng lao động đang thu lại, với những nỗ lực để đem lại cho người phụ nữ một vai trò lớn hơn, cũng có nghĩa rằng nỗi lo lắng lớn của 5 năm trước rằng việc tăng lao động công việc thời vụ và làm việc bán thời gian mà tạo ra lực lượng lao động hai lớp đã dần biến mất. Có thể có một vài sự sắp xếp các biện pháp bảo hộ đối với người lao động thường xuyên để giữ mọi việc được linh hoạt, nhưng với lực lượng lao động khan hiếm, số lao động chuyển đổi mới không phù hợp, mà hiện nay chiếm khoảng 30% lực lượng lao động, chắc chắn sẽ giảm đi.