PDA

View Full Version : Một số vấn đề ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản



Kasumi
10-02-2012, 10:21 PM
Trước đây, ở Nhật Bản khi nói đến vấn đề môi trường người ta thường đề cập đến ô nhiễm môi trường tự nhiên, ở đó thiên nhiên bị phá huỷ do các doanh nghiệp khai thác thiếu kế hoạch và chỉ nhằm tới mục tiêu lợi nhuận. Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường được hiểu ở một mức độ lớn hơn, bao trùm hơn và nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Chính hoạt động kinh doanh và hoạt động sống của người dân đã và đang làm gia tăng sức ép tới môi trường sống của người Nhật Bản và nó không chỉ làm giảm chất lượng sống của con người Nhật Bản ngày hôm nay mà còn ảnh hưởng tới các thế hệ trẻ mai sau.


http://cjs.inas.gov.vn/ImagesLiblary/O%20nhiem%20moi%20truong%20o%20NB.jpg

Bài viết này bước đầu tìm hiểu hiện trạng môi trường ở Nhật Bản và những cố gắng của quốc gia này nhằm giảm thiểu những tác hại do con người gây ra cho môi trường.

I. Những vấn đề nổi cộm về môi trường ở Nhật Bản.

Nếu ai đó đến thăm Nhật Bản ngắn ngày thì khó có thể hình dung quốc gia này đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường. Đúng vậy, ở phương diện cảnh quan tự nhiên thì Nhật Bản được coi là một trong những quốc gia thành công trong việc gìn giữ các giá trị môi trường tự nhiên. Thành phố nào cũng hiện đại, cũng đẹp và sạch sẽ. Dường như khái niệm thành phố “xanh, sạch, đẹp” mà người Việt Nam thường nói và kêu gọi mọi người phải hành động tích cực để tạo ra một thành phố như vậy thì ở Nhật Bản, họ đã tạo ra những thành phố “xanh, sạch, đẹp” từ hàng thập kỷ nay.

Tuy nhiên, trên thực tế, Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia công nghiệp phát triển khác đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường gay cấn. Sau đây là những ví dụ minh hoạ cụ thể.

1. Tầng ôzôn (ozone) bị xói mòn và ô nhiễm không khí.

Tầng ôzôn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của các loài sinh vật trên trái đất thông qua việc ngăn chặn tia cực tím xâm nhập . Tầng ôzôn bị xói mòn là kết quả của những hoạt động sản xuất, kinh doanh không kiểm soát được, nhất là của các ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Nhật Bản là quốc gia có hệ thống các ngành công nghiệp này hoạt động trên một phạm vi rộng lớn nhất là ở vùng Nam Honshu và Kyushu. Chính những chất thải như khí gas, clo (clorine) của các hệ thống công nghiệp đó là thủ phạm bào mòn và làm thủng tầng ôzôn. Khi tầng ôzôn bị phá thủng, tia cực tím xâm nhập bề ngoài hành tinh sẽ gia tăng. Kết quả là ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người và làm tổn hại đến hệ sinh thái.

Sau đây là một vài số liệu minh hoạ hiện tượng không khí bị ô nhiễm bởi số lượng khí thải độc hại quá lớn: Lượng carbon dioxide (CO2) thải vào không khí năm 1995 là 1208 triệu tấn; năm 2000 là 1237 triệu tấn. Như vậy, lượng chất thải này xâm nhập vào không khí ngày càng tăng. Và các họat động đời sống kinh tế, xã hội khác cũng là “các thủ phạm” trong việc thải CO2 vào không khí. Cụ thể như sau:

Theo các nhà phân tích nghiên cứu môi trường Nhật Bản, tầng ôzôn bị xói mòn kể từ cuối những năm 1970. Và hiện tượng này sau đó được người ta nói đến với thuật ngữ “lỗ hổng tầng ozone”. Nó đặc biệt được quan tâm khi năm 1996 người ta phát hiện ra tầng ôzôn bị thủng ở mức nghiêm trọng nhất. Điều này đã buộc các quốc gia phối hợp hành động, tìm kiếm giải pháp để khắc phục. Nghị định thư Montreal sau đó, và nghị định thư Kyoto (1997) đã được ký là sự thể hiện quyết tâm của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường. Nhật Bản là một thành viên tích cực phấn đấu nhằm làm giảm thiểu tác hại của sản xuất kinh doanh tới môi trường sống nói chung và tới tầng ozone nói riêng.

2. Mưa axit (Acid).

Mưa Acid được tạo ra do sự trộn lẫn hơi nước với Acid Sulphuric và Acid Nitric và một số Acid khác. Chúng được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và tồn tại dưới dạng khí thải từ các nhà máy. Thành phần chính của chúng bao gồm hai loại khí Sulphur Oxide và Nitrogen Oxide. Mưa Acid gây nhiễm mặn sông, hồ, đầm lầy và gây tổn hại đến các loại cá, động vật hoang dã; gây nhiễm mặn đất trồng trọt, dẫn đến làm suy giảm độ màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả của ngành trồng trọt; thậm chí mưa Acid có thể làm tổn hại đến các di sản văn hoá.

Thực tế cho thấy, ở Nhật Bản mưa Acid phân bố trên diện rộng (phạm vi cả nước) và tập trung ở vùng nam Honshu và Kyushu. Sau đây là một vài ví dụ minh hoạ.

Các chỉ số PH ở biểu 02 cho thấy mức độ nguy hiểm của mưa Acid ở Nhật Bản là khá cao, bởi các chỉ số này không cách xa nhiều so với chỉ giới trung bình cho phép. Hầu như suốt cả 5 năm cuối của thế kỷ 20 chỉ số PH trong mưa Acid ở Nhật Bản gần như không tăng (lượng axit trong mưa không giảm). Mặc dù cả Chính phủ Nhật Bản và giới doanh nghiệp nước này đã có nhiều nỗ lực để ngăn chặn ô nhiễm không khí nhưng lượng khí thải từ các khu công nghiệp ở vùng Nam Honshu vẫn tiếp tục làm nhiễm bẩn bầu trời Nhật Bản. Mặt khác để phát triển kinh tế Chính phủ Nhật Bản không thể ngừng việc xây dựng và sản xuất của các ngành công nghiệp. Vì vậy, nguy cơ gia tăng mưa axit ở Nhật Bản vừa tiềm ẩn vừa hiện hữu. Không ít các nhà nghiên cứu môi trường Nhật Bản đã cảnh báo về sự nhiễm mặn đất trồng trọt và nước sông hồ trong một vài thập kỷ tới.

3. Ô nhiễm do tiếng ồn và độ rung lớn.

Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn và độ rung lớn do hoạt động kinh doanh và hoạt động quân sự gây ra cũng đang là những vấn đề làm cho công luận Nhật Bản bất bình, bởi chính chúng làm giảm chất lượng cuộc sống của con người. Chúng ta đã biết, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải của Nhật Bản khá hoàn thiện và không nhiều quốc gia trên thế giới đạt được trình độ của Nhật Bản trong lĩnh vực này. Song không vì thế mà sự ô nhiễm môi trường sống ở Nhật Bản do tiếng ồn và độ rung của các phương tiện vận tải gây ra không có. Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc khi thiết kế các đường cao tốc đi qua các khu dân cư là phải sử dụng các loại vật liệu và làm đường chắn không khí giảm thanh. Tuy nhiên, do số lượng phương tiện giao thông vận tải quá lớn và quá đa dạng nên các vấn đề giảm thiểu tiếng ồn và gây rung động mạnh do các loại phương tiện này gây ra được Chính phủ Nhật Bản quan tâm. Thậm chí, người ta cho đây là vấn đề nghiêm trọng hơn cả khi nói về ô nhiễm môi trường sống. Chẳng hạn, theo một điều tra của Uỷ ban phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường Nhật Bản thì có tới 70% số người được hỏi cho rằng ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn động cơ có nguy hại cao hơn cả ô nhiễm không khí. Và số lượng các công ty không trực tiếp gây ra ô nhiễm loại này lên tới hơn 20.000, trong khi đó số các công ty trực tiếp gây ô nhiễm không khí và gây ô nhiễm nguồn nước chỉ trên dưới 10.000(1).

Tiếng ồn do hoạt động quân sự, nhất là của các đơn vị quân đội Mỹ đóng trên đất Nhật Bản, cũng đã đang là vấn đề gây nhức nhối công luận nước này. Với 21.000 quân và 130 máy bay chiến đấu(2)), hàng ngày lực lượng này tiến hành diễn tập, thậm chí cả vào ban đêm đã gây ra một lượng tiếng ồn và độ rung rất lớn làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình thường của người dân Nhật Bản ở xung quanh các căn cứ quân sự. Liên tục trong các năm gần đây, các cư dân địa phương sống gần căn cứ quân Mỹ ở Yosuka, Okinawa đã kiện quân Mỹ về vấn đề này. Rốt cuộc quân Mỹ đã phải cam kết di chuyển căn cứ ở Okinawa tới một vùng xa dân cư hơn và đồng ý giảm thiểu các cuộc diễn tập không quân vào ban đêm. Đó chỉ là những giải pháp tình thế để làm dịu công luận mà thôi bởi các căn cứ quân sự của Mỹ tiếp tục hiện diện tại Nhật Bản theo Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ ký năm 1960 và họ vẫn phải diễn tập theo binh nghiệp.

Cho đến năm 2003, Bộ Môi trường Nhật Bản thông báo rằng, ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn gây ra ở nước này đã giảm xuống so với các năm trước đó, song đây vẫn là vấn đề nghiêm trọng không dễ tìm ra được một giải pháp tối ưu.

4. Ô nhiễm nước ở sông, hồ, biển và nước ngầm.

Tình trạng ô nhiễm nước ở các con sông, hồ và nước biển xung quanh Nhật Bản cũng đang dóng lên tiếng chuông báo động. Theo Cục Môi trường thuộc Chính phủ Nhật Bản thì chất lượng nước ở sông, hồ, biển ở Nhật Bản nhiều vùng không đạt tiêu chuẩn cho phép. Điều này, thể hiện ở mức độ nhiễm các hợp chất hữu cơ cao. Và theo thống kê thì có tới 30% vùng sông, hồ, và biển ở Nhật Bản không đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường; nhất là ở các vùng biển có nuôi trồng thuỷ sản, các con sông chảy qua vùng đô thị và hệ thống thuỷ lợi, mức ô nhiễm loại này rất cao.

Thực tế cho thấy việc xử lý ô nhiễm ở những khu vực có ô nhiễm các hợp chất hữu cơ trở nên rất khó khăn và rất khó để duy trì chất lượng nước theo tiêu chuẩn bởi ở những nơi đó phế thải kinh doanh và sinh hoạt thường xuyên thẩm thấu và trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh đó nhiều vùng biển Nhật Bản còn bị ô nhiễm bởi phế thải của tàu, thuyền hoạt động hàng hải và là điểm tập kết cuối cùng của các loại phế thải từ sông, hồ. Theo thống kê chính thức của Nhật Bản năm 1997, có tới 754 trường hợp gây ô nhiễm môi trường biển do hoạt động hàng hải; trong đó 370 trường hợp là ô nhiễm do dầu (dầu từ tàu), 249 trường hợp liên quan tới chất thải hàng hải, và chất thải công nghiệp khác(3).

Điều đáng lưu ý là kể từ những năm 1980, ở một số vùng, nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm. Điều này đã thực sự gây ra cú sốc lớn cho công luận. Theo ông Yamada, một nhà kinh doanh nhỏ ở thành phố Yokohama, “nhiều người Nhật Bản tin rằng, họ đang phải uống nước ngọt chưa đạt tiêu chuẩn” và “đây là nguyên nhân chính giải thích tại sao chất lượng sống của người Nhật Bản không được cải thiện trong những năm gần đây”(4). Nguồn nước ngầm bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ và vô cơ. Việc các hợp chất hữu cơ có trong nguồn nước ngầm là do lỗi của các nhà quản lý trong việc quản lý và kiểm soát các loại rác bẩn. Còn sự nhiễm bẩn các hợp chất vô cơ, nhất là Nitrate Nitrogen là kết quả của việc thẩm thấu các loại thức ăn chăn nuôi gia súc bị thừa và rơi vãi ở một số trang trại, cộng với người nông dân Nhật Bản ở một số vùng sử dụng một lượng lớn phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp.

5. Đất bị ô nhiễm và lún sụt.

Đã từ rất lâu, người Nhật Bản quan niệm đất là một thành tố quan trọng cấu thành vũ trụ và cấu thành môi trường sống của con người. Đất là một phần của cuộc sống con người bởi vậy, con người phải sử dụng và khai thác đất cho hợp lý cả trong trồng trọt, xây dựng và khai thác đất vì các mục đích khác. Nói cách khác, đất tạo lập cơ sở cho nền sản xuất nông nghiệp, đất bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước không có đất thì cũng không có sự sống. Phải bảo vệ cho đất khỏi bị nhiễm bẩn và chống lún cho đất là mối quan tâm của người Nhật Bản từ hàng thập kỷ nay. Người ta nhận thức rằng, khi đất bị nhiễm bẩn (chẳng hạn đất nông nghiệp bị bạc màu, bị xói mòn ...) thì đó là một vấn đề vô cùng nan giải bởi sự nhiễm bẩn được tích luỹ lại và gây ra các phản ứng tiêu cực kiểu dây chuyền tới hệ sinh thái và rất khó để khôi phục và bảo dưỡng như hiện trạng ban đầu.

Theo Bộ Môi trường Nhật Bản, hiện tượng đất bị ô nhiễm xuất hiện tại Nhật Bản từ năm 1975. Năm này có tới 232 hecta đất bị ô nhiễm. Bộ này công bố một số liệu gây sửng sốt cho nhiều người Nhật Bản, tới mức đầu những năm 1990 đã có tới 7.140 hecta đất trồng trọt bị nhiễm bẩn. Và các trường hợp đất nhiễm bẩn cứ tiếp tục tăng lên hàng năm ở nước này.
Đồng thời, hiện tượng lún đất ở nhiều vùng ở Nhật Bản cũng đang làm cho người ta quản ngại. Việc kiểm soát khai thác nước ngầm ở Nhật Bản rất có hiệu quả, nhờ đó đã cải thiện được phần nào tình trạng lún sụt đất song có lẽ do cấu tạo địa chất đặc thù ở Nhật Bản nên khắc phục sụt lún đất thật sự khó khăn. Theo số liệu thống kê của cơ quan quản lý môi trường Nhật Bản công bố năm 1997, có tới 62 khu vực trên toàn lãnh thổ Nhật Bản bị lún sụt ở các mức độ khác nhau, phần lớn tập trung ở vùng Kanto và Kyushu, mức lún nhiều nhất là 4 cm. Có hai khu vực bị lún sâu tới 4 cm. Đó là Minami - Nonuma, thuộc tỉnh Nigata và vùng lòng chảo Kanto, thuộc tỉnh Saitama, và 11 khu vực khác thuộc vùng Kanto bị lún từ trên 2 cm đến 4 cm(5).

Cho đến nay, tình trạng lún đất ở nước này vẫn tiếp tục diễn ra trên qui mô rộng lớn song dường như chưa có giải pháp hữu hiệu nào kiểm soát được tình hình.

Trên đây là năm loại vấn đề nổi cộm của môi trường sinh thái ở Nhật Bản, hay đó là năm loại thách thức về môi trường mà nước này đã và đang phải đối mặt. Tuy nhiên đây không phải là tất cả; bởi bên cạnh những vấn đề nổi cộm đó người Nhật Bản còn phải đối phó những mối đe doạ khác tới môi trường ở ngay tại Nhật Bản và cả trên phạm vi toàn cầu. Đó là việc khôi phục và phát triển thảm thực vật, sự nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính, sự biến mất của rừng nhiệt đới, bảo vệ môi trường bắc cực, sự biến mất của các loài động vật hoang dã ...Điều này cũng có nghĩa là giải quyết vấn đề môi trường ở Nhật Bản đòi hỏi phải kết hợp các nỗ lực quốc gia với những nỗ lực mang tính hợp tác trên phạm vi toàn cầu. ở phương diện quốc gia, người Nhật đã có những giải pháp gì để xử lý những vấn đề nổi cộm vừa nêu ra, chúng ta sẽ xem xét ở phần tiếp theo.

Kasumi
10-02-2012, 10:21 PM
II. Các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản.

Có thể nói kế hoạch bảo vệ môi trường mang tính quốc gia lần đầu tiên được Chính phủ Nhật Bản thông qua vào năm 1994, ở đó những mục tiêu từ trung hạn đến dài hạn về bảo vệ môi trường sinh thái được vạch ra, nhất là nhấn mạnh, trong vài thập niên tới Nhật Bản phấn đấu sẽ là quốc gia đạt các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường. Và nước này cố gắng đạt tới là một trong những quốc gia thực hiện tốt các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường.

1. Bảo vệ môi trường không khí, giảm hiệu ứng nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn.

Từ năm 1998, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập 3 chương trình kiểm soát ô nhiễm môi trường khu vực tại Sapporo, Yokkaichi và Aichi. Đây là 3 vùng có nguy cơ ô nhiễm không khí cao nhất nước bởi ở đây chính là những vùng tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp nặng và hoá chất. Các khuyến cáo hàng năm được gửi tới Thủ tướng Chính phủ, Bộ Môi trường và các công ty trong các khu vực này. Những số liệu, những thỉnh cầu, những khuyến nghị trong báo cáo thường niên được các chính giới quan tâm nhất là đối với những người hoạch định chính sách môi trường và những công ty trực tiếp thải Cacbon dioxide, Chlo - Fluorua - Cacbon (CFC), vào bầu khí quyển.

Chính phủ Nhật Bản khuyến khích các sáng kiến sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm nhất đối với các nhà máy, các công sở, các chủ trang thiết bị và phương tiện giao thông vận tải. Và thường gửi các khuyến cáo nhắc nhở họ hãy sử dụng năng lượng phù hợp với "đạo luật sử dụng hợp lí các nguồn năng lượng". Bên cạnh đó, chính phủ nước này còn khuyến khích sử dụng tiết kiệm năng lượng bằng cách giảm thuế và thực thi chính sách tín dụng mềm đối với các hoạt động kinh doanh đặc biệt. Và chính sách này cũng được áp dụng đối với các cơ sở lắp đặt các thiết bị tiết kiệm năng lượng. Khuyến khích sử dụng các nguyên liệu tái chế. Điều đáng lưu ý, nước Nhật được coi là quốc gia có hệ thống tái chế nguyên liệu phế thải vào loại hiện đại nhất thế giới. Tuy nhiên, không vì thế mà các loại chất thải rắn đã được xử lí hết. Việc sử dụng tiết kiệm này hiện còn được khuyến khích thông qua các dự án thu hồi và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhiệt lãng phí từ các hệ thống lò sưởi và hệ thống thông hơi ở các công trình dân sự. Bằng cách này người ta có thể giảm tới mức tối thiểu nguồn nhiệt lãng phí. Các chương trình thu hồi nguồn nhiệt lãng phí này thường được cấp kinh phí hoặc được hưởng chế độ tín dụng rẻ. Theo một số nhà nghiên cứu môi trường thì Nhật Bản là một trong rất ít quốc gia công nghiệp phát triển đã rất thành công trong việc thu hồi và sử dụng nguồn nhiệt lãng phí từ hệ thống công nghiệp và dân sự.

Nhật Bản khuyến khích các nhà chế tạo ô tô sản xuất các chủng loại ôtô tiết kiệm năng lượng và hạn chế thải CO2 vào môi trường; đồng thời xây dựng các chương trình phát triển phương tiện giao thông thay thế ôtô tải như phát triển hệ thống đường sắt sử dụng các loại xe điện siêu tốc chạy bằng điện từ v.v...

Đa dạng hoá các chương trình phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng. Chẳng hạn khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng ít gây ra hiệu ứng nhà kính; sản xuất và sử dụng năng lượng mặt trời, thuỷ điện, địa nhiệt và phát triển năng lượng điện hạt nhân. Đáng lưu ý là việc phát triển năng lượng điện hạt nhân trong thời gần đây không được công luận ủng hộ như trước. Cho dù chính phủ nước này cho phép xây dựng các cơ sở năng lượng hạt nhân xa khu dân cư song sự cố rò rỉ phóng xạ hạt nhân ở Tokaimura, Ibaraki năm 1999, đã gây lo ngại thực sự đối với công luận Nhật Bản. Đối với việc sử dụng năng lượng mới như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, Quốc hội Nhật Bản trong kỳ họp lần thứ 140, đã thông qua đạo luật "Những biện pháp đặc biệt thúc đẩy sử dụng nguồn năng lượng mới". Đạo luật này khuyến khích các tổ chức và cá nhân sử dụng các nguồn năng lượng mới với sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ từ chính phủ.

Quốc hội nước này cũng đã ban hành đạo luật bảo vệ tầng ôzôn và giảm lượng mưa axit. Đây là cơ sở pháp lí quan trọng điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các loại sản phẩm có thể thải ra các khí thải như CFCs, Halon, Carbon tetrachloride, Methyl bromide...; các loại khí thải này trực tiếp đe doạ và làm xói mòn tầng ozone.

2. Bảo vệ môi trường nước.

Điều hiển nhiên là tiêu chuẩn chất lượng môi trường liên quan trực tiếp đến chất lượng nguồn nước ở một quốc gia có trình độ phát triển cao như Nhật Bản thì yêu cầu có một môi trường nước đạt tiêu chuẩn luôn luôn hiện hữu như là một mục tiêu trọng yếu của chính sách môi trường. Nói đến tiêu chuẩn chất lượng của môi trường nước, người Nhật Bản thường quan tâm đến hai khía cạnh, đó là tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ sức khoẻ con người và tiêu chuẩn chất lượng nước bảo vệ môi trường sống nói chung. Nói cách khác, đề cập tới môi trường nước đạt tiêu chuẩn quy định và nguồn nước cung cấp trực tiếp cho dân cư phải đạt tiêu chuẩn qui định và nguồn nước cung cấp cho các mục đích sử dụng khác nhau như nước cho sông hồ, cho thuỷ lợi.v.v...

Như đã đề cập ở trên về nguồn nước phục vụ công nghiệp ở Nhật Bản, trong một số khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao, và trên thực tế đã bị ô nhiễm. Để khắc phục tình trạng này và nhằm bảo vệ môi trường nước tiêu chuẩn phục vụ cho các mục tiêu dân sinh và phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ Nhật Bản đã thực thi nhiều giải pháp khác nhau trong hơn hai thập kỷ qua.

Từ đầu những năm 1980, khi phát hiện ra ở một số khu vực nguồn nước ngầm bị ô nhiễm, Chính phủ Nhật Bản đã cảnh báo và yêu cầu chính quyền địa phương nơi có nguồn nước ngầm bị ô nhiễm phải kiểm soát được hiện trạng ô nhiễm và cần thực hiện ngay những giải pháp cần thiết để khắc phục và một khoản ngân sách hàng năm từ chính phủ trung ương được dành cho công tác chống ô nhiễm nguồn nước ngầm. Năm 1989, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua đạo luật "kiểm soát ô nhiễm nguồn nước". Đạo luật cho phép chính quyền trung ương và chính quyền các địa phương xây dựng các kế hoạch thường niên bảo vệ nguồn nước (kể cả nước ngầm) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nguồn nước. Điều lưu ý là ở Nhật Bản, có tới 70% nguồn cung cấp nước là "nước nổi" - nước từ sông, hồ mà đây là nguồn cung cấp nước bị ảnh hưởng nhiều nhất từ ô nhiễm môi trường; chỉ có 30% nguồn cung cấp nước là "nước ngầm". Thống kế chính thức cho thấy năm 1994 có tới 99 địa phương có người bị ngộ độc do nước bị ô nhiễm.

Bởi vậy, các giải pháp xử lí ô nhiễm nguồn nước phải mang tính tổng thể và kết hợp với các giải pháp chống ô nhiễm môi trường nói chung, chẳng hạn kiểm soát việc sử dụng các loại hoá chất phục vụ nông nghiệp, áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt đối phó với rủi ro đối với các sự cố tràn dầu trên biển và bảo vệ kho chứa dầu, chứa hóa chất của các cơ sở sản xuất kinh doanh. Theo đạo luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước sửa đổi năm 1994, tỉnh trưởng các tỉnh có quyền sử dụng các biện pháp đặc biệt và phù hợp với yêu cầu của địa phương mình trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Sau đó, Bộ Môi trường Nhật Bản cũng đã công bố bản "hướng dẫn bảo vệ nguồn nước ngầm và kiểm soát ô nhiễm". Đây là tài liệu quan trọng mang tính phổ cập để giúp người dân và nhà kinh doanh biết cách khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá đó.

3. Bảo vệ môi trường đất.

Như đã nói ở trên ô nhiễm đất, nhất là đất trồng trọt và đất phục vụ nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh (đất ở và đất xây dựng công sở) ở Nhật Bản trong nhiều khu vực cũng ở mức báo động. Theo thống kê của Chính phủ Nhật Bản, năm 1995 có tới 722 ha đất ở ở 13 vùng trong 6 tỉnh bị ô nhiễm, là chủ yếu bởi chất Cadnium và có 10 ha đất ở một tỉnh bị ô nhiễm bởi chất thạch tím (arsenic). Và một số công trình nghiên cứu khác cũng chỉ ra có tới 7140 ha đất ở 129 vùng bị phát hiện ô nhiễm trên tiêu chuẩn cho phép(6). Để giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại đến môi trường đất, chính phủ nước này cũng đã và đang thực hiện một số giải pháp sau đây.

Thứ nhất, kiểm soát và ngăn chặn việc thải các hoá chất vào đất, bằng cách yêu cầu các chủ thể kinh doanh có các giải pháp công nghệ để xử lí các chất thải hoá chất trước khi đổ ra môi trường đất và yêu cầu các chủ thể này tuân thủ theo quy định của luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và môi trường nước.

Thứ hai, những ngành công nghiệp khai thác có sử dụng chất nổ (mìn) cần áp dụng các giải pháp chống ô nhiễm do chất nổ gây ra phù hợp với đạo luật an toàn chất nổ. Thực tế cho thấy, ô nhiễm do dùng mìn để khai khoáng không chỉ diễn ra khi nổ mìn mà nó còn để hậu quả cả sau khi ngừng hoạt động bởi vậy yêu cầu sử dụng nghiêm ngặt các giải pháp cần thiết hạn chế tác hại của mìn đối với môi trường đất là hết sức quan trọng.

Bên cạnh đó các hoạt động hỗ trợ để bảo vệ môi trường đất cũng được nhiều công ty quan tâm. Chẳng hạn Tổng công ty khai thác kim loại Nhật Bản đã hỗ trợ tài chính cho việc phục hồi và cải thiện môi trường đất ở những vùng mà họ hoạt động, các chương trình nghiên cứu về chống ô nhiễm môi trường đất do sử dụng mìn cũng được chính quyền các địa phương chú trọng.

Và thứ ba, thực hiện các giải pháp kết hợp (công nghệ với sinh học, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương...) nhằm cải tạo đất bạc màu do ô nhiễm gây ra. Cho tới những năm 1990, có hơn 7000 ha đất nông nghiệp bạc màu được cải tạo. Như đã biết, đất trồng trọt ở Nhật Bản bị ô nhiễm do các loại hoá chất trong canh tác, trong chăn nuôi và do cả nhưng nguyên nhân khác, đã làm cho đất canh tác ở một số khu vực bị bạc màu, bởi vậy khôi phục đất theo hiện trạng tự nhiên và đáp ứng các yêu cầu của trồng trọt được cả chính quyền và các nông trại Nhật Bản quan tâm.

4. Giảm thiểu và tái chế rác thải.

Rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp ngày càng gia tăng đang là nỗi lo của người Nhật Bản. Đó là kết quả của sản xuất đại chúng, của tiêu dùng đại chúng. Nói cách khác, sự gia tăng của các hoạt động kinh tế - xã hội ở quy mô rất lớn tại một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế hàng đầu thế giới đã kéo theo hậu quả là rác thải cũng gia tăng và đạt quy mô cực lớn. Hoa Kỳ là quốc gia số một thế giới về kinh tế và rác thải của nước này cũng chiếm vị trí số một thế giới. Nhật Bản chiếm vị trí số hai sau Mỹ về kinh tế và rác thải của Nhật Bản cũng chiếm vị trí số hai trong số 7 quốc gia công nghiệp hàng đầu. Tính trung bình hàng năm trong thập kỷ 1990, Nhật Bản đã tạo ra xấp xỉ 400 triệu tấn phế thải và như vậy mỗi người dân nước này vừa tạo ra vừa phải gánh chịu trách nhiệm 3 tấn phế thải trong một năm.

Rõ ràng phế thải (rác thải) là một tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường sống. Xử lý vấn đề này không quá khó đối với Nhật Bản nếu xét trên phương diện công nghệ và tài chính. Vấn đề mà người Nhật vào gặp phải ở đây là khối lượng rác thải ngày càng gia tăng và dường như họ thiếu một chính sách hữu hiệu để hạn chế sự gia tăng của lượng rác thải này.
Ngay từ khi kết thúc giai đoạn thần kỳ (1973) Chính phủ Nhật Bản đã nhìn thấy sức ép của vấn đề phế thải và hướng tới phát triển kinh tế bền vững trên cơ sở xử lý tốt rác thải và bảo vệ môi trường sinh thái.

Đối với vấn đề rác thải, trước hết cần kiểm soát được sự gia tăng của lượng rác thải. Điều lưu ý là sự gia tăng của rác thải công nghiệp gắn liền với qúa trình sản xuất và phân phối sản phẩm của các chủ thể kinh doanh. Chính sự hợp lí của quá trình tạo ra sản phẩm kể từ khâu chuẩn bị nguyên nhiên vật liệu, sản xuất sản phẩm, đóng góp, lưu kho và vận chuyển - góp phần hạn chế phế thải công nghiệp. Hệ thống kinh doanh Nhật Bản cộng với phương thức quản lí đặc thù mà người Nhật áp dụng đã làm giảm thiểu đáng kể rác thải công nghiệp. Tuy nhiên, sự gia tăng khối lượng rác thải hàng năm vẫn đang gây sức ép lớn cho vấn đề bảo vệ môi trường ở nước này. Chính phủ Nhật Bản khuyến khích các chủ thể kinh doanh áp dụng các công nghệ tiên tiến và gia tăng tái sử dụng các sản phẩm tái chế nhất là đối với các loại bao bì sản phẩm. ở phương diện doanh nghiệp, người ta cũng chú ý nhiều hơn đến các sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, bao bì sản phẩm kéo dài chu kỳ sống cùng sản phẩm. Để giảm thiểu những phế thải cứng như các sản phẩm điện tử, ôtô, xe máy hết hạn sử dụng, người ta khuyến khích các nhà sản xuất phải quan tâm từ khi thiết kế sản phẩm mang tính tiết kiệm và khi hết hạn sử dụng có thể xử lí dễ dàng và ít làm phương hại đến môi trường.

Để giảm bớt rác thải cứng từ dân cư và tạo thuận lợi cho quá trình tái chế phế thải, các tổ chức môi trường Nhật Bản đã hướng dẫn và cung cấp phương tiện cho người dân để họ phân loại rác thải ngay tại nhà trước khi đưa ra tập trung tại một điểm cố định. Thực tế cho thấy phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản rất có ý thức trong vấn đề xử lí rác thải sinh hoạt và bảo vệ môi trường song ở nhiều thành phố lớn người ta vẫn thấy thỉnh thoảng có những ôtô hỏng, xe đạp hỏng vô chủ "bị bỏ quên" ngay trên đường phố và sau đó công ty môi trường đo thị phải cho phương tiện đến thu lượm. Cho dù Nhật Bản đã áp dụng các hình phạt (phạt tiền là chính) đối với hành vi cố ý "bỏ quên" đó song việc tìm được chủ nhân của chiếc ôtô hỏng đã bị tẩy xoá số đăng ký quả là khó khăn.

Bên cạnh giải pháp kiềm chế rác thải ngay từ khâu sản xuất sản phẩm, Chính phủ Nhật Bản còn khuyến khích các hoạt động tái sử dụng các phế thải, sử dụng các nguyên liệu và sản phẩm tái chế từ phế thải. Tháng 10 năm 1991, Quốc hội Nhật Bản đã ban hành đạo luật khuyến khích sử dụng nguyên liệu tái chế. Đạo luật này yêu cầu các chủ thể kinh doanh phải đẩy mạnh tái chế các loại phế thải một cách có kế hoạch để giảm thiểu sức ép của phế thải đối với môi trường sống của con người. Đạo luật cũng yêu cầu các cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương và các chủ thể kinh doanh liên kết, hợp tác trong vấn đề tái chế và sử dụng phế thải. Chính phủ Nhật Bản cũng đã thực hiện một số giải pháp cần thiết để thúc đẩy vấn đề này; chẳng hạn hỗ trợ về tài chính và thực thi chính sách tín dụng mềm và giảm thuế đối với các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới trong tái chế phế thải. Tháng 10 hàng năm được coi là tháng hành động vì tái chế phế thải (Recycling Promotion Month). Trong tháng này các cơ quan thuộc chính phủ, chính quyền địa phương và các hiệp hội nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền, quảng bá các chương trình hành động ủng hộ việc tái chế phế thải, sử dụng các sản phẩm phế thải. Trong tháng 10 người ta tổ chức nhiều hội thảo liên quan tới vấn đề này và trao các giải thưởng cho những cá nhân, tổ chức có nhiều sáng kiến trong việc tái chế và sử dụng sản phẩm tái chế. Bộ Môi trường chủ động khuyến khích, hướng dẫn khu vực tư nhân thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về tái chế phế thải với sự tài trợ tích cực của Quỹ Môi trường toàn cầu của Nhật Bản (Japan Fund for Global Environment).

5. Gia tăng hoạt động giáo dục môi trường và các hoạt động khác nhằm cải thiện môi trường sống của người dân.

Chính phủ Nhật Bản coi việc thúc đẩy giáo dục môi trường, nhất là cho lứa tuổi học đường là hết sức quan trọng. Giáo dục môi trường không chỉ cung cấp các kiến thức cần thiết về môi trường cho mọi người, mà nó còn tạo cơ hội cho con người biết sống hoà hợp với môi trường. ở Mỹ, năm 1990, đã ban hành đạo luật “giáo dục môi trường quốc gia” theo đó các chương trình giáo dục môi trường đã được giảng dạy ở các trường học. ở Nhật Bản, năm 1993 Luật bảo vệ môi trường được thực thi. Luật này khuyến khích các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu về môi trường. Luật này cũng yêu cầu mỗi cá nhân cần tham gia tích cực vào quá trình giáo dục môi trường. Giáo dục về môi trường được thực hiện theo hình thức “học suốt đời” kể từ khi cắp sách đến trường, cho đến lúc lớn lên và cả khi đã ở tuổi già. Và cách thức giáo dục về môi trường cũng rất phong phú và đa dạng như học ở trường, ở nhà, ở cộng đồng và ở nơi làm việc. Và người ta khuyến cáo rằng, để giải quyết vấn đề môi trường ở Nhật Bản, điều trở nên vô cùng quan trọng là mỗi người phải tự giác nâng cao ý thức tự học tập và tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, các hoạt động tự nguyện bảo vệ môi trường bao gồm cả ủng hộ tài chính của mỗi người dân, của các tổ chức, doanh nghiệp và của chính quyền các địa phương cũng được sự quan tâm của toàn xã hội.


*
* *

Từ sự phân tích trên đây về những vấn đề môi trường nổi cộm mà nước Nhật đã và đang phải đối mặt, cũng như những giải pháp mà chính phủ nước này sử dụng nhằm cải thiện môi trường sinh thái ở Nhật Bản, cho phép rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, những giải pháp chính mà Chính phủ Nhật Bản đã và đang triển khai thu được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này một cách có hiệu quả hơn đòi hỏi Chính phủ Nhật Bản phải nỗ lực hơn nữa cả về chính sách, tài chính và khoa học, công nghệ.

Thứ hai, vấn đề môi trường nổi cộm không chỉ có ở Nhật Bản hay một số nước phát triển mà nó còn là vấn đề mang tính toàn cầu. Bởi vậy, để giải quyết vấn đề này không những đòi hỏi sự nỗ lực của một quốc gia mà nó còn cần sự cố gắng của tất cả các nước trên thế giới; làm sao để vừa phát triển kinh tế nâng cao đời sống con người vừa giữ được môi trường sinh thái luôn là câu hỏi khó cho mọi quốc gia.

Và thứ ba, nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những vấn đề về môi trường mà ta phải đối mặt ngày càng nhiều chẳng hạn nạn chặt phá rừng bừa bãi, ô nhiễm đất, nước, không khí, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp khắc phục ngay từ đầu. Những bài học kinh nghiệm của Nhật Bản trong vấn đề bảo vệ môi trường, nhất là các khía cạnh chính sách can thiệp của nhà nước sẽ là những tư liệu tham khảo bổ ích. Điều cần nhấn mạnh là việc giáo dục kiến thức môi trường cho thế hệ trẻ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

---

Tài liệu tham khảo

1.Quality of the Environment in Japan 1997, 2000, Environment Agency, Government of Japan.
2. The Asahi Shimbun, Japan Almanac, 2003, Tokyo, Japan.
3. Views of the environment in Asian countries, 2001, asia Pacific.
4. Nature and Hurmandkind in the age of environmental crisis, Ito, Shuntaro- yasuda, Yoshinori, international symposium. 1995.
5. Trái đất tổ quốc chung, Tuyên ngôn cho thiên niên kỷ mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
6. Thaddeus C. Trzyna (Chủ biên) Thế giới bền vững, xuất bản theo sự hỗ trợ của Quỹ tưởng nhớ Fred Hirsch, Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, Hà Nội, 2001.
7. Ngô Xuân Bình, Điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Nhật Bản - khía cạnh khoa học công nghệ và môi trường, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Số 5 (41), tháng 10 - 2002.
8. Con đường đi đến năm 2015, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 (Sách dịch).
9. Dự báo thế kỷ 21, NXB Thống kê, Hà Nội, 1998.


Nguyễn Thị Ngọc
Viên Nghiên cứu Môi trường và phát triển bền vững
Lược trích từ tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á