Kasumi
10-02-2012, 10:21 PM
Trước đây, ở Nhật Bản khi nói đến vấn đề môi trường người ta thường đề cập đến ô nhiễm môi trường tự nhiên, ở đó thiên nhiên bị phá huỷ do các doanh nghiệp khai thác thiếu kế hoạch và chỉ nhằm tới mục tiêu lợi nhuận. Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường được hiểu ở một mức độ lớn hơn, bao trùm hơn và nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Chính hoạt động kinh doanh và hoạt động sống của người dân đã và đang làm gia tăng sức ép tới môi trường sống của người Nhật Bản và nó không chỉ làm giảm chất lượng sống của con người Nhật Bản ngày hôm nay mà còn ảnh hưởng tới các thế hệ trẻ mai sau.
http://cjs.inas.gov.vn/ImagesLiblary/O%20nhiem%20moi%20truong%20o%20NB.jpg
Bài viết này bước đầu tìm hiểu hiện trạng môi trường ở Nhật Bản và những cố gắng của quốc gia này nhằm giảm thiểu những tác hại do con người gây ra cho môi trường.
I. Những vấn đề nổi cộm về môi trường ở Nhật Bản.
Nếu ai đó đến thăm Nhật Bản ngắn ngày thì khó có thể hình dung quốc gia này đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường. Đúng vậy, ở phương diện cảnh quan tự nhiên thì Nhật Bản được coi là một trong những quốc gia thành công trong việc gìn giữ các giá trị môi trường tự nhiên. Thành phố nào cũng hiện đại, cũng đẹp và sạch sẽ. Dường như khái niệm thành phố “xanh, sạch, đẹp” mà người Việt Nam thường nói và kêu gọi mọi người phải hành động tích cực để tạo ra một thành phố như vậy thì ở Nhật Bản, họ đã tạo ra những thành phố “xanh, sạch, đẹp” từ hàng thập kỷ nay.
Tuy nhiên, trên thực tế, Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia công nghiệp phát triển khác đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường gay cấn. Sau đây là những ví dụ minh hoạ cụ thể.
1. Tầng ôzôn (ozone) bị xói mòn và ô nhiễm không khí.
Tầng ôzôn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của các loài sinh vật trên trái đất thông qua việc ngăn chặn tia cực tím xâm nhập . Tầng ôzôn bị xói mòn là kết quả của những hoạt động sản xuất, kinh doanh không kiểm soát được, nhất là của các ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Nhật Bản là quốc gia có hệ thống các ngành công nghiệp này hoạt động trên một phạm vi rộng lớn nhất là ở vùng Nam Honshu và Kyushu. Chính những chất thải như khí gas, clo (clorine) của các hệ thống công nghiệp đó là thủ phạm bào mòn và làm thủng tầng ôzôn. Khi tầng ôzôn bị phá thủng, tia cực tím xâm nhập bề ngoài hành tinh sẽ gia tăng. Kết quả là ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người và làm tổn hại đến hệ sinh thái.
Sau đây là một vài số liệu minh hoạ hiện tượng không khí bị ô nhiễm bởi số lượng khí thải độc hại quá lớn: Lượng carbon dioxide (CO2) thải vào không khí năm 1995 là 1208 triệu tấn; năm 2000 là 1237 triệu tấn. Như vậy, lượng chất thải này xâm nhập vào không khí ngày càng tăng. Và các họat động đời sống kinh tế, xã hội khác cũng là “các thủ phạm” trong việc thải CO2 vào không khí. Cụ thể như sau:
Theo các nhà phân tích nghiên cứu môi trường Nhật Bản, tầng ôzôn bị xói mòn kể từ cuối những năm 1970. Và hiện tượng này sau đó được người ta nói đến với thuật ngữ “lỗ hổng tầng ozone”. Nó đặc biệt được quan tâm khi năm 1996 người ta phát hiện ra tầng ôzôn bị thủng ở mức nghiêm trọng nhất. Điều này đã buộc các quốc gia phối hợp hành động, tìm kiếm giải pháp để khắc phục. Nghị định thư Montreal sau đó, và nghị định thư Kyoto (1997) đã được ký là sự thể hiện quyết tâm của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường. Nhật Bản là một thành viên tích cực phấn đấu nhằm làm giảm thiểu tác hại của sản xuất kinh doanh tới môi trường sống nói chung và tới tầng ozone nói riêng.
2. Mưa axit (Acid).
Mưa Acid được tạo ra do sự trộn lẫn hơi nước với Acid Sulphuric và Acid Nitric và một số Acid khác. Chúng được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và tồn tại dưới dạng khí thải từ các nhà máy. Thành phần chính của chúng bao gồm hai loại khí Sulphur Oxide và Nitrogen Oxide. Mưa Acid gây nhiễm mặn sông, hồ, đầm lầy và gây tổn hại đến các loại cá, động vật hoang dã; gây nhiễm mặn đất trồng trọt, dẫn đến làm suy giảm độ màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả của ngành trồng trọt; thậm chí mưa Acid có thể làm tổn hại đến các di sản văn hoá.
Thực tế cho thấy, ở Nhật Bản mưa Acid phân bố trên diện rộng (phạm vi cả nước) và tập trung ở vùng nam Honshu và Kyushu. Sau đây là một vài ví dụ minh hoạ.
Các chỉ số PH ở biểu 02 cho thấy mức độ nguy hiểm của mưa Acid ở Nhật Bản là khá cao, bởi các chỉ số này không cách xa nhiều so với chỉ giới trung bình cho phép. Hầu như suốt cả 5 năm cuối của thế kỷ 20 chỉ số PH trong mưa Acid ở Nhật Bản gần như không tăng (lượng axit trong mưa không giảm). Mặc dù cả Chính phủ Nhật Bản và giới doanh nghiệp nước này đã có nhiều nỗ lực để ngăn chặn ô nhiễm không khí nhưng lượng khí thải từ các khu công nghiệp ở vùng Nam Honshu vẫn tiếp tục làm nhiễm bẩn bầu trời Nhật Bản. Mặt khác để phát triển kinh tế Chính phủ Nhật Bản không thể ngừng việc xây dựng và sản xuất của các ngành công nghiệp. Vì vậy, nguy cơ gia tăng mưa axit ở Nhật Bản vừa tiềm ẩn vừa hiện hữu. Không ít các nhà nghiên cứu môi trường Nhật Bản đã cảnh báo về sự nhiễm mặn đất trồng trọt và nước sông hồ trong một vài thập kỷ tới.
3. Ô nhiễm do tiếng ồn và độ rung lớn.
Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn và độ rung lớn do hoạt động kinh doanh và hoạt động quân sự gây ra cũng đang là những vấn đề làm cho công luận Nhật Bản bất bình, bởi chính chúng làm giảm chất lượng cuộc sống của con người. Chúng ta đã biết, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải của Nhật Bản khá hoàn thiện và không nhiều quốc gia trên thế giới đạt được trình độ của Nhật Bản trong lĩnh vực này. Song không vì thế mà sự ô nhiễm môi trường sống ở Nhật Bản do tiếng ồn và độ rung của các phương tiện vận tải gây ra không có. Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc khi thiết kế các đường cao tốc đi qua các khu dân cư là phải sử dụng các loại vật liệu và làm đường chắn không khí giảm thanh. Tuy nhiên, do số lượng phương tiện giao thông vận tải quá lớn và quá đa dạng nên các vấn đề giảm thiểu tiếng ồn và gây rung động mạnh do các loại phương tiện này gây ra được Chính phủ Nhật Bản quan tâm. Thậm chí, người ta cho đây là vấn đề nghiêm trọng hơn cả khi nói về ô nhiễm môi trường sống. Chẳng hạn, theo một điều tra của Uỷ ban phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường Nhật Bản thì có tới 70% số người được hỏi cho rằng ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn động cơ có nguy hại cao hơn cả ô nhiễm không khí. Và số lượng các công ty không trực tiếp gây ra ô nhiễm loại này lên tới hơn 20.000, trong khi đó số các công ty trực tiếp gây ô nhiễm không khí và gây ô nhiễm nguồn nước chỉ trên dưới 10.000(1).
Tiếng ồn do hoạt động quân sự, nhất là của các đơn vị quân đội Mỹ đóng trên đất Nhật Bản, cũng đã đang là vấn đề gây nhức nhối công luận nước này. Với 21.000 quân và 130 máy bay chiến đấu(2)), hàng ngày lực lượng này tiến hành diễn tập, thậm chí cả vào ban đêm đã gây ra một lượng tiếng ồn và độ rung rất lớn làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình thường của người dân Nhật Bản ở xung quanh các căn cứ quân sự. Liên tục trong các năm gần đây, các cư dân địa phương sống gần căn cứ quân Mỹ ở Yosuka, Okinawa đã kiện quân Mỹ về vấn đề này. Rốt cuộc quân Mỹ đã phải cam kết di chuyển căn cứ ở Okinawa tới một vùng xa dân cư hơn và đồng ý giảm thiểu các cuộc diễn tập không quân vào ban đêm. Đó chỉ là những giải pháp tình thế để làm dịu công luận mà thôi bởi các căn cứ quân sự của Mỹ tiếp tục hiện diện tại Nhật Bản theo Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ ký năm 1960 và họ vẫn phải diễn tập theo binh nghiệp.
Cho đến năm 2003, Bộ Môi trường Nhật Bản thông báo rằng, ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn gây ra ở nước này đã giảm xuống so với các năm trước đó, song đây vẫn là vấn đề nghiêm trọng không dễ tìm ra được một giải pháp tối ưu.
4. Ô nhiễm nước ở sông, hồ, biển và nước ngầm.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các con sông, hồ và nước biển xung quanh Nhật Bản cũng đang dóng lên tiếng chuông báo động. Theo Cục Môi trường thuộc Chính phủ Nhật Bản thì chất lượng nước ở sông, hồ, biển ở Nhật Bản nhiều vùng không đạt tiêu chuẩn cho phép. Điều này, thể hiện ở mức độ nhiễm các hợp chất hữu cơ cao. Và theo thống kê thì có tới 30% vùng sông, hồ, và biển ở Nhật Bản không đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường; nhất là ở các vùng biển có nuôi trồng thuỷ sản, các con sông chảy qua vùng đô thị và hệ thống thuỷ lợi, mức ô nhiễm loại này rất cao.
Thực tế cho thấy việc xử lý ô nhiễm ở những khu vực có ô nhiễm các hợp chất hữu cơ trở nên rất khó khăn và rất khó để duy trì chất lượng nước theo tiêu chuẩn bởi ở những nơi đó phế thải kinh doanh và sinh hoạt thường xuyên thẩm thấu và trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh đó nhiều vùng biển Nhật Bản còn bị ô nhiễm bởi phế thải của tàu, thuyền hoạt động hàng hải và là điểm tập kết cuối cùng của các loại phế thải từ sông, hồ. Theo thống kê chính thức của Nhật Bản năm 1997, có tới 754 trường hợp gây ô nhiễm môi trường biển do hoạt động hàng hải; trong đó 370 trường hợp là ô nhiễm do dầu (dầu từ tàu), 249 trường hợp liên quan tới chất thải hàng hải, và chất thải công nghiệp khác(3).
Điều đáng lưu ý là kể từ những năm 1980, ở một số vùng, nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm. Điều này đã thực sự gây ra cú sốc lớn cho công luận. Theo ông Yamada, một nhà kinh doanh nhỏ ở thành phố Yokohama, “nhiều người Nhật Bản tin rằng, họ đang phải uống nước ngọt chưa đạt tiêu chuẩn” và “đây là nguyên nhân chính giải thích tại sao chất lượng sống của người Nhật Bản không được cải thiện trong những năm gần đây”(4). Nguồn nước ngầm bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ và vô cơ. Việc các hợp chất hữu cơ có trong nguồn nước ngầm là do lỗi của các nhà quản lý trong việc quản lý và kiểm soát các loại rác bẩn. Còn sự nhiễm bẩn các hợp chất vô cơ, nhất là Nitrate Nitrogen là kết quả của việc thẩm thấu các loại thức ăn chăn nuôi gia súc bị thừa và rơi vãi ở một số trang trại, cộng với người nông dân Nhật Bản ở một số vùng sử dụng một lượng lớn phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp.
5. Đất bị ô nhiễm và lún sụt.
Đã từ rất lâu, người Nhật Bản quan niệm đất là một thành tố quan trọng cấu thành vũ trụ và cấu thành môi trường sống của con người. Đất là một phần của cuộc sống con người bởi vậy, con người phải sử dụng và khai thác đất cho hợp lý cả trong trồng trọt, xây dựng và khai thác đất vì các mục đích khác. Nói cách khác, đất tạo lập cơ sở cho nền sản xuất nông nghiệp, đất bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước không có đất thì cũng không có sự sống. Phải bảo vệ cho đất khỏi bị nhiễm bẩn và chống lún cho đất là mối quan tâm của người Nhật Bản từ hàng thập kỷ nay. Người ta nhận thức rằng, khi đất bị nhiễm bẩn (chẳng hạn đất nông nghiệp bị bạc màu, bị xói mòn ...) thì đó là một vấn đề vô cùng nan giải bởi sự nhiễm bẩn được tích luỹ lại và gây ra các phản ứng tiêu cực kiểu dây chuyền tới hệ sinh thái và rất khó để khôi phục và bảo dưỡng như hiện trạng ban đầu.
Theo Bộ Môi trường Nhật Bản, hiện tượng đất bị ô nhiễm xuất hiện tại Nhật Bản từ năm 1975. Năm này có tới 232 hecta đất bị ô nhiễm. Bộ này công bố một số liệu gây sửng sốt cho nhiều người Nhật Bản, tới mức đầu những năm 1990 đã có tới 7.140 hecta đất trồng trọt bị nhiễm bẩn. Và các trường hợp đất nhiễm bẩn cứ tiếp tục tăng lên hàng năm ở nước này.
Đồng thời, hiện tượng lún đất ở nhiều vùng ở Nhật Bản cũng đang làm cho người ta quản ngại. Việc kiểm soát khai thác nước ngầm ở Nhật Bản rất có hiệu quả, nhờ đó đã cải thiện được phần nào tình trạng lún sụt đất song có lẽ do cấu tạo địa chất đặc thù ở Nhật Bản nên khắc phục sụt lún đất thật sự khó khăn. Theo số liệu thống kê của cơ quan quản lý môi trường Nhật Bản công bố năm 1997, có tới 62 khu vực trên toàn lãnh thổ Nhật Bản bị lún sụt ở các mức độ khác nhau, phần lớn tập trung ở vùng Kanto và Kyushu, mức lún nhiều nhất là 4 cm. Có hai khu vực bị lún sâu tới 4 cm. Đó là Minami - Nonuma, thuộc tỉnh Nigata và vùng lòng chảo Kanto, thuộc tỉnh Saitama, và 11 khu vực khác thuộc vùng Kanto bị lún từ trên 2 cm đến 4 cm(5).
Cho đến nay, tình trạng lún đất ở nước này vẫn tiếp tục diễn ra trên qui mô rộng lớn song dường như chưa có giải pháp hữu hiệu nào kiểm soát được tình hình.
Trên đây là năm loại vấn đề nổi cộm của môi trường sinh thái ở Nhật Bản, hay đó là năm loại thách thức về môi trường mà nước này đã và đang phải đối mặt. Tuy nhiên đây không phải là tất cả; bởi bên cạnh những vấn đề nổi cộm đó người Nhật Bản còn phải đối phó những mối đe doạ khác tới môi trường ở ngay tại Nhật Bản và cả trên phạm vi toàn cầu. Đó là việc khôi phục và phát triển thảm thực vật, sự nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính, sự biến mất của rừng nhiệt đới, bảo vệ môi trường bắc cực, sự biến mất của các loài động vật hoang dã ...Điều này cũng có nghĩa là giải quyết vấn đề môi trường ở Nhật Bản đòi hỏi phải kết hợp các nỗ lực quốc gia với những nỗ lực mang tính hợp tác trên phạm vi toàn cầu. ở phương diện quốc gia, người Nhật đã có những giải pháp gì để xử lý những vấn đề nổi cộm vừa nêu ra, chúng ta sẽ xem xét ở phần tiếp theo.
http://cjs.inas.gov.vn/ImagesLiblary/O%20nhiem%20moi%20truong%20o%20NB.jpg
Bài viết này bước đầu tìm hiểu hiện trạng môi trường ở Nhật Bản và những cố gắng của quốc gia này nhằm giảm thiểu những tác hại do con người gây ra cho môi trường.
I. Những vấn đề nổi cộm về môi trường ở Nhật Bản.
Nếu ai đó đến thăm Nhật Bản ngắn ngày thì khó có thể hình dung quốc gia này đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường. Đúng vậy, ở phương diện cảnh quan tự nhiên thì Nhật Bản được coi là một trong những quốc gia thành công trong việc gìn giữ các giá trị môi trường tự nhiên. Thành phố nào cũng hiện đại, cũng đẹp và sạch sẽ. Dường như khái niệm thành phố “xanh, sạch, đẹp” mà người Việt Nam thường nói và kêu gọi mọi người phải hành động tích cực để tạo ra một thành phố như vậy thì ở Nhật Bản, họ đã tạo ra những thành phố “xanh, sạch, đẹp” từ hàng thập kỷ nay.
Tuy nhiên, trên thực tế, Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia công nghiệp phát triển khác đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường gay cấn. Sau đây là những ví dụ minh hoạ cụ thể.
1. Tầng ôzôn (ozone) bị xói mòn và ô nhiễm không khí.
Tầng ôzôn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của các loài sinh vật trên trái đất thông qua việc ngăn chặn tia cực tím xâm nhập . Tầng ôzôn bị xói mòn là kết quả của những hoạt động sản xuất, kinh doanh không kiểm soát được, nhất là của các ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Nhật Bản là quốc gia có hệ thống các ngành công nghiệp này hoạt động trên một phạm vi rộng lớn nhất là ở vùng Nam Honshu và Kyushu. Chính những chất thải như khí gas, clo (clorine) của các hệ thống công nghiệp đó là thủ phạm bào mòn và làm thủng tầng ôzôn. Khi tầng ôzôn bị phá thủng, tia cực tím xâm nhập bề ngoài hành tinh sẽ gia tăng. Kết quả là ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người và làm tổn hại đến hệ sinh thái.
Sau đây là một vài số liệu minh hoạ hiện tượng không khí bị ô nhiễm bởi số lượng khí thải độc hại quá lớn: Lượng carbon dioxide (CO2) thải vào không khí năm 1995 là 1208 triệu tấn; năm 2000 là 1237 triệu tấn. Như vậy, lượng chất thải này xâm nhập vào không khí ngày càng tăng. Và các họat động đời sống kinh tế, xã hội khác cũng là “các thủ phạm” trong việc thải CO2 vào không khí. Cụ thể như sau:
Theo các nhà phân tích nghiên cứu môi trường Nhật Bản, tầng ôzôn bị xói mòn kể từ cuối những năm 1970. Và hiện tượng này sau đó được người ta nói đến với thuật ngữ “lỗ hổng tầng ozone”. Nó đặc biệt được quan tâm khi năm 1996 người ta phát hiện ra tầng ôzôn bị thủng ở mức nghiêm trọng nhất. Điều này đã buộc các quốc gia phối hợp hành động, tìm kiếm giải pháp để khắc phục. Nghị định thư Montreal sau đó, và nghị định thư Kyoto (1997) đã được ký là sự thể hiện quyết tâm của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường. Nhật Bản là một thành viên tích cực phấn đấu nhằm làm giảm thiểu tác hại của sản xuất kinh doanh tới môi trường sống nói chung và tới tầng ozone nói riêng.
2. Mưa axit (Acid).
Mưa Acid được tạo ra do sự trộn lẫn hơi nước với Acid Sulphuric và Acid Nitric và một số Acid khác. Chúng được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và tồn tại dưới dạng khí thải từ các nhà máy. Thành phần chính của chúng bao gồm hai loại khí Sulphur Oxide và Nitrogen Oxide. Mưa Acid gây nhiễm mặn sông, hồ, đầm lầy và gây tổn hại đến các loại cá, động vật hoang dã; gây nhiễm mặn đất trồng trọt, dẫn đến làm suy giảm độ màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả của ngành trồng trọt; thậm chí mưa Acid có thể làm tổn hại đến các di sản văn hoá.
Thực tế cho thấy, ở Nhật Bản mưa Acid phân bố trên diện rộng (phạm vi cả nước) và tập trung ở vùng nam Honshu và Kyushu. Sau đây là một vài ví dụ minh hoạ.
Các chỉ số PH ở biểu 02 cho thấy mức độ nguy hiểm của mưa Acid ở Nhật Bản là khá cao, bởi các chỉ số này không cách xa nhiều so với chỉ giới trung bình cho phép. Hầu như suốt cả 5 năm cuối của thế kỷ 20 chỉ số PH trong mưa Acid ở Nhật Bản gần như không tăng (lượng axit trong mưa không giảm). Mặc dù cả Chính phủ Nhật Bản và giới doanh nghiệp nước này đã có nhiều nỗ lực để ngăn chặn ô nhiễm không khí nhưng lượng khí thải từ các khu công nghiệp ở vùng Nam Honshu vẫn tiếp tục làm nhiễm bẩn bầu trời Nhật Bản. Mặt khác để phát triển kinh tế Chính phủ Nhật Bản không thể ngừng việc xây dựng và sản xuất của các ngành công nghiệp. Vì vậy, nguy cơ gia tăng mưa axit ở Nhật Bản vừa tiềm ẩn vừa hiện hữu. Không ít các nhà nghiên cứu môi trường Nhật Bản đã cảnh báo về sự nhiễm mặn đất trồng trọt và nước sông hồ trong một vài thập kỷ tới.
3. Ô nhiễm do tiếng ồn và độ rung lớn.
Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn và độ rung lớn do hoạt động kinh doanh và hoạt động quân sự gây ra cũng đang là những vấn đề làm cho công luận Nhật Bản bất bình, bởi chính chúng làm giảm chất lượng cuộc sống của con người. Chúng ta đã biết, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải của Nhật Bản khá hoàn thiện và không nhiều quốc gia trên thế giới đạt được trình độ của Nhật Bản trong lĩnh vực này. Song không vì thế mà sự ô nhiễm môi trường sống ở Nhật Bản do tiếng ồn và độ rung của các phương tiện vận tải gây ra không có. Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc khi thiết kế các đường cao tốc đi qua các khu dân cư là phải sử dụng các loại vật liệu và làm đường chắn không khí giảm thanh. Tuy nhiên, do số lượng phương tiện giao thông vận tải quá lớn và quá đa dạng nên các vấn đề giảm thiểu tiếng ồn và gây rung động mạnh do các loại phương tiện này gây ra được Chính phủ Nhật Bản quan tâm. Thậm chí, người ta cho đây là vấn đề nghiêm trọng hơn cả khi nói về ô nhiễm môi trường sống. Chẳng hạn, theo một điều tra của Uỷ ban phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường Nhật Bản thì có tới 70% số người được hỏi cho rằng ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn động cơ có nguy hại cao hơn cả ô nhiễm không khí. Và số lượng các công ty không trực tiếp gây ra ô nhiễm loại này lên tới hơn 20.000, trong khi đó số các công ty trực tiếp gây ô nhiễm không khí và gây ô nhiễm nguồn nước chỉ trên dưới 10.000(1).
Tiếng ồn do hoạt động quân sự, nhất là của các đơn vị quân đội Mỹ đóng trên đất Nhật Bản, cũng đã đang là vấn đề gây nhức nhối công luận nước này. Với 21.000 quân và 130 máy bay chiến đấu(2)), hàng ngày lực lượng này tiến hành diễn tập, thậm chí cả vào ban đêm đã gây ra một lượng tiếng ồn và độ rung rất lớn làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình thường của người dân Nhật Bản ở xung quanh các căn cứ quân sự. Liên tục trong các năm gần đây, các cư dân địa phương sống gần căn cứ quân Mỹ ở Yosuka, Okinawa đã kiện quân Mỹ về vấn đề này. Rốt cuộc quân Mỹ đã phải cam kết di chuyển căn cứ ở Okinawa tới một vùng xa dân cư hơn và đồng ý giảm thiểu các cuộc diễn tập không quân vào ban đêm. Đó chỉ là những giải pháp tình thế để làm dịu công luận mà thôi bởi các căn cứ quân sự của Mỹ tiếp tục hiện diện tại Nhật Bản theo Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ ký năm 1960 và họ vẫn phải diễn tập theo binh nghiệp.
Cho đến năm 2003, Bộ Môi trường Nhật Bản thông báo rằng, ô nhiễm môi trường sống do tiếng ồn gây ra ở nước này đã giảm xuống so với các năm trước đó, song đây vẫn là vấn đề nghiêm trọng không dễ tìm ra được một giải pháp tối ưu.
4. Ô nhiễm nước ở sông, hồ, biển và nước ngầm.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các con sông, hồ và nước biển xung quanh Nhật Bản cũng đang dóng lên tiếng chuông báo động. Theo Cục Môi trường thuộc Chính phủ Nhật Bản thì chất lượng nước ở sông, hồ, biển ở Nhật Bản nhiều vùng không đạt tiêu chuẩn cho phép. Điều này, thể hiện ở mức độ nhiễm các hợp chất hữu cơ cao. Và theo thống kê thì có tới 30% vùng sông, hồ, và biển ở Nhật Bản không đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường; nhất là ở các vùng biển có nuôi trồng thuỷ sản, các con sông chảy qua vùng đô thị và hệ thống thuỷ lợi, mức ô nhiễm loại này rất cao.
Thực tế cho thấy việc xử lý ô nhiễm ở những khu vực có ô nhiễm các hợp chất hữu cơ trở nên rất khó khăn và rất khó để duy trì chất lượng nước theo tiêu chuẩn bởi ở những nơi đó phế thải kinh doanh và sinh hoạt thường xuyên thẩm thấu và trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh đó nhiều vùng biển Nhật Bản còn bị ô nhiễm bởi phế thải của tàu, thuyền hoạt động hàng hải và là điểm tập kết cuối cùng của các loại phế thải từ sông, hồ. Theo thống kê chính thức của Nhật Bản năm 1997, có tới 754 trường hợp gây ô nhiễm môi trường biển do hoạt động hàng hải; trong đó 370 trường hợp là ô nhiễm do dầu (dầu từ tàu), 249 trường hợp liên quan tới chất thải hàng hải, và chất thải công nghiệp khác(3).
Điều đáng lưu ý là kể từ những năm 1980, ở một số vùng, nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm. Điều này đã thực sự gây ra cú sốc lớn cho công luận. Theo ông Yamada, một nhà kinh doanh nhỏ ở thành phố Yokohama, “nhiều người Nhật Bản tin rằng, họ đang phải uống nước ngọt chưa đạt tiêu chuẩn” và “đây là nguyên nhân chính giải thích tại sao chất lượng sống của người Nhật Bản không được cải thiện trong những năm gần đây”(4). Nguồn nước ngầm bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ và vô cơ. Việc các hợp chất hữu cơ có trong nguồn nước ngầm là do lỗi của các nhà quản lý trong việc quản lý và kiểm soát các loại rác bẩn. Còn sự nhiễm bẩn các hợp chất vô cơ, nhất là Nitrate Nitrogen là kết quả của việc thẩm thấu các loại thức ăn chăn nuôi gia súc bị thừa và rơi vãi ở một số trang trại, cộng với người nông dân Nhật Bản ở một số vùng sử dụng một lượng lớn phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp.
5. Đất bị ô nhiễm và lún sụt.
Đã từ rất lâu, người Nhật Bản quan niệm đất là một thành tố quan trọng cấu thành vũ trụ và cấu thành môi trường sống của con người. Đất là một phần của cuộc sống con người bởi vậy, con người phải sử dụng và khai thác đất cho hợp lý cả trong trồng trọt, xây dựng và khai thác đất vì các mục đích khác. Nói cách khác, đất tạo lập cơ sở cho nền sản xuất nông nghiệp, đất bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước không có đất thì cũng không có sự sống. Phải bảo vệ cho đất khỏi bị nhiễm bẩn và chống lún cho đất là mối quan tâm của người Nhật Bản từ hàng thập kỷ nay. Người ta nhận thức rằng, khi đất bị nhiễm bẩn (chẳng hạn đất nông nghiệp bị bạc màu, bị xói mòn ...) thì đó là một vấn đề vô cùng nan giải bởi sự nhiễm bẩn được tích luỹ lại và gây ra các phản ứng tiêu cực kiểu dây chuyền tới hệ sinh thái và rất khó để khôi phục và bảo dưỡng như hiện trạng ban đầu.
Theo Bộ Môi trường Nhật Bản, hiện tượng đất bị ô nhiễm xuất hiện tại Nhật Bản từ năm 1975. Năm này có tới 232 hecta đất bị ô nhiễm. Bộ này công bố một số liệu gây sửng sốt cho nhiều người Nhật Bản, tới mức đầu những năm 1990 đã có tới 7.140 hecta đất trồng trọt bị nhiễm bẩn. Và các trường hợp đất nhiễm bẩn cứ tiếp tục tăng lên hàng năm ở nước này.
Đồng thời, hiện tượng lún đất ở nhiều vùng ở Nhật Bản cũng đang làm cho người ta quản ngại. Việc kiểm soát khai thác nước ngầm ở Nhật Bản rất có hiệu quả, nhờ đó đã cải thiện được phần nào tình trạng lún sụt đất song có lẽ do cấu tạo địa chất đặc thù ở Nhật Bản nên khắc phục sụt lún đất thật sự khó khăn. Theo số liệu thống kê của cơ quan quản lý môi trường Nhật Bản công bố năm 1997, có tới 62 khu vực trên toàn lãnh thổ Nhật Bản bị lún sụt ở các mức độ khác nhau, phần lớn tập trung ở vùng Kanto và Kyushu, mức lún nhiều nhất là 4 cm. Có hai khu vực bị lún sâu tới 4 cm. Đó là Minami - Nonuma, thuộc tỉnh Nigata và vùng lòng chảo Kanto, thuộc tỉnh Saitama, và 11 khu vực khác thuộc vùng Kanto bị lún từ trên 2 cm đến 4 cm(5).
Cho đến nay, tình trạng lún đất ở nước này vẫn tiếp tục diễn ra trên qui mô rộng lớn song dường như chưa có giải pháp hữu hiệu nào kiểm soát được tình hình.
Trên đây là năm loại vấn đề nổi cộm của môi trường sinh thái ở Nhật Bản, hay đó là năm loại thách thức về môi trường mà nước này đã và đang phải đối mặt. Tuy nhiên đây không phải là tất cả; bởi bên cạnh những vấn đề nổi cộm đó người Nhật Bản còn phải đối phó những mối đe doạ khác tới môi trường ở ngay tại Nhật Bản và cả trên phạm vi toàn cầu. Đó là việc khôi phục và phát triển thảm thực vật, sự nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính, sự biến mất của rừng nhiệt đới, bảo vệ môi trường bắc cực, sự biến mất của các loài động vật hoang dã ...Điều này cũng có nghĩa là giải quyết vấn đề môi trường ở Nhật Bản đòi hỏi phải kết hợp các nỗ lực quốc gia với những nỗ lực mang tính hợp tác trên phạm vi toàn cầu. ở phương diện quốc gia, người Nhật đã có những giải pháp gì để xử lý những vấn đề nổi cộm vừa nêu ra, chúng ta sẽ xem xét ở phần tiếp theo.