Kasumi
10-02-2012, 10:29 PM
LTS: Nhận lời mời của Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, được sự hỗ trợ của Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản (The Japan Foundation), Giáo sư Koji Akino, chuyên gia văn hoá, Trường Đại học EiyoJyoshi đã sang Trung tâm thuyết trình về những vấn đề liên quan đến văn hoá Nhật.
http://cjs.inas.gov.vn/ImagesLiblary/su%20thay%20doi%20trong%20gtri%20an%20uong%20nb.jp g
Chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây của Giáo sư Akino, một trong những kết quả nghiên cứu văn hoá lối sống trích từ tập sách "Một trăm năm văn hoá ẩm thực của Nhật Bản" do Hiệp hội văn hoá đời sống Nhật Bản biên soạn và đã xuất bản năm 2001.
1. Những vấn đề chung
Trong các nghi lễ như ma chay, hiếu hỷ, các lễ hội trong năm hoặc các mối quan hệ, giao tiếp xã hội trong đời sống hàng ngày, việc tặng quà trong xã hội Nhật Bản rất được coi trọng.
Nguồn gốc của việc tặng quà theo các nhà văn hoá nhân chủng học như Yanagida Kunio và Wakamori Taro thì nó xuất phát từ tập quán con người dâng cúng các món ăn tế thần thánh rồi cùng nhau ăn uống những thứ đó. Có nghĩa là sự giao tiếp giữa thần thánh và người qua một vật trung gian, đó là đồ ăn uống. Từ tập quán tế thức ăn cho thần rồi cùng nhau ăn uống đã trở thành tập quán tặng quà, một phương tiện giao tiếp giữa các cá nhân cũng như giữa các tập đoàn với nhau.
Việc quan tâm tới nhau, trao đổi tín vật giữa người với người xuất phát từ hành động trên đã được các nhà nghiên cứu chứng minh, giải thích bằng lý luận. Họ cho rằng chức năng xã hội của việc trao tặng quà không chỉ đơn thuần là trao đổi vật chất mà còn có cả ý nghĩa trao đổi quyền lực và danh tiếng. Ngoài ra, nó còn thể hiện sự thống nhất của tập đoàn xã hội, tăng cường mối quan hệ giữa người với người. Các kết quả nghiên cứu về việc tặng quà nhìn chung đều có một ý nghĩa như vậy. Còn ở Nhật Bản tập quán tặng quà có đặc điểm gì, sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu.
Nhà nghiên cứu Ito Kanzi đã cho rằng: “Tập quán tặng quà trong xã hội Nhật Bản xuất phát từ việc nhớ ơn nhau, từ đó tạo ra mối quan hệ giữa con người với con người. Nguồn gốc vật chất được sử dụng trong việc tặng quà là một thông điệp hoàn chỉnh trong giao tiếp”. Đây là một nhận xét đúng.
Khi chọn quà, người tặng phải quan tâm đến giá trị xã hội của quà tặng với mục đích làm sao thoả mãn sở thích của đối tượng. Vì vậy, trong quà tặng còn chứa đựng cả lời nhắn gửi của người tặng. Trong số quà tặng, thứ được sử dụng nhiều nhất là đồ ăn. Bài viết này sẽ điểm lại những thay đổi quan trọng trong trăm năm qua của đồ ăn, một loại hình chính trong quà tặng. Đặc biệt, trong quá trình hiện đại hoá (Âu hoá + công nghiệp hoá) bắt đầu từ việc mở cửa đất nước thời Minh Trị và những thay đổi lớn sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Tập quán tặng quà của các tập thể cộng đồng làng xã trước chiến tranh chủ yếu xuất phát từ sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng, sau chiến tranh các cộng đồng làng xã tan rã, chuyển sang thời đại tiêu dùng, thức ăn được sản xuất hàng loạt nên quà tặng cũng thay đổi một cách đa dạng. Sau đây là những kết quả nghiên cứu so sánh giá trị xã hội của quà tặng để thấy chúng được thay đổi như thế nào trong quá trình biến đổi xã hội ở Nhật Bản.
2. Quà tặng trong xã hội làng xã
Arigaki Zaemon đã nghiên cứu các tài liệu ghi chép về tập quán tặng quà ở một địa phương của tỉnh Nagano là Kami Ina và rút ra được những nhận xét như sau: quà tặng được chia thành 2 loại, đó là loại định kỳ và không định kỳ. Quà định kỳ dành cho các dịp lễ trong năm như Tết trẻ em, Tiết lập xuân, Ngày cuối năm và Tết nguyên đán. Ví dụ, hồng khô tặng vào dịp cuối năm, giấy gấp để mừng tuổi, xôi nắm và bánh lá vào Tiết lập xuân, bánh gói vào Tết trẻ em, bột mỳ và gạo vào dịp Lễ Obon. Những thứ này đều liên quan đến tín ngưỡng dân gian, chẳng hạn như mỳ ống nhỏ (somen) xưa kia là loại thức ăn dùng để cúng tổ tiên. Những thức ăn chính được sử dụng làm quà tặng chúc mừng hôn lễ là loại quà tặng không định kỳ đã được nghiên cứu như sau: Năm 1853, vào triều đại Ansei trước Minh Trị, trong số 112 người tặng quà bằng giấy có 4 người tặng giấy Nakaori, 29 người tặng giấy Kosugi. Theo sổ ghi chép những thứ thu được trong dịp mừng lễ cưới vào năm Minh Trị thứ 22 thì trong số 192 người có 68 người tặng khăn tay, 14 người tặng tiền, 39 người tặng giấy, 2 người tặng vải tấm, 17 người tặng khăn gói (furosiki)... Ariga còn cho rằng trước thời Minh Trị giấy là tặng phẩm chính, việc thay đổi tặng giấy bằng tặng mùi xoa vào thời Minh Trị là phổ biến và cho rằng phạm vi sử dụng loại này nhiều hơn. Trong số quà tặng vào các ngày lễ trong năm, hồng khô thường được tặng vào dịp cuối năm và sau thời Minh Trị nó đã được thay thế bằng đường.
Khoảng năm 1934 (Showa năm thứ 9) trong quà tặng vào dịp lễ Obon, dành cho nhà có giỗ đầu, nhiều nhất là mì ống nhỏ. Còn những nhà khác người ta tặng bánh kẹo, khăn mùi xoa, guốc gỗ, bột, gạo và tiền v.v... Đồng thời ông còn đưa ra nhận xét: Trừ đồ phúng tang lễ ra thì quà tặng ở nông thôn hầu hết là kẹo bánh, khăn và vải. Nếu phân tích tính văn hoá trong báo cáo của Ariga thì quà tặng vào các ngày lễ trong năm được dân làng có ý thức chia ra như vậy là có sự kế thừa truyền thống ăn uống cùng thần thánh như Yanagida đã nêu ra. Mặt khác những loại quà không định kỳ như quà tặng trong hôn lễ là những thứ đều có giá trị xã hội. Chẳng hạn trước thời Minh Trị là giấy, đầu thời Minh Trị là khăn mùi xoa và tiền. Còn khoảng giữa thời Minh Trị dù là định kỳ hay không định kỳ quà tặng chủ yếu là bánh kẹo.
Nhà nghiên cứu Otsukarrikku khi liệt kê những quà tặng cho phụ nữ mới sinh, năm Minh Trị 18 (1885) ở phường Tsurumi (hiện nay là khu Tsurumi, thành phố Yokohama) cho thấy trong số 22 người tặng quà có 4 người tặng đường trắng 3 người tặng cá khô, mực khô, còn kẹo màu, đường phèn mỗi người một loại. Tất cả quà tặng thời kỳ đó đều là thức ăn. Điều đặc biệt là đường trắng được nhiều người dùng làm quà nhất. Ông còn nói rằng việc sử dụng đường trong đời sống ăn uống hàng ngày được phổ biến nhất từ sau năm 1945 trở đi. Tsuruto Nhà nghiên cứu đã cho rằng đường trắng là loại quà tặng quý có giá trị xã hội từ thời Minh Trị cho đến Showa ở thành phố Sosha tỉnh Okayama vào dịp Tết Trung Nguyên.
Từ việc Asiga cho rằng quà tặng vào dịp cuối năm được thay đổi từ hồng khô sang đường trắng và việc Otsuka và Tsuruto nêu ra, người ta hiểu được rằng từ thời Minh Trị cho đến hết Chiến tranh Thái Bình Dương thời đại Showa, đường trắng là tặng vật quý mang giá trị xã hội. Tuy nhiên, đồ phúng viếng trong tang lễ được sử dụng nhiều nhất vẫn là những đồ ăn hàng ngày. Theo ghi chép trong một cuốn sổ tang lễ năm 1864, trước thời Minh Trị, người ta thấy trong 159 người phúng quà có 50 người phúng gạo, 26 người phúng bột mì, 19 người phúng cặp ***g có đồ ăn (xôi nấm, cơm đỏ...), 49 người phúng tiền giấy và 34 người phúng hương...
Còn vào năm Minh Trị thứ 10, trong số 216 người phúng có 85 người phúng gạo, 27 người phúng cặp ***g có đồ ăn, 14 người phúng bột mì và 120 người phúng gạo ngon. Trong số này, Arita đã chia thành 2 loại, 127 thứ là sản phẩm do gia đình tự làm ra và 126 thứ là đồ phải mua.
Năm Minh Trị 32, trong số 372 người có 109 người phúng gạo, 34 người phúng cặp ***g có đồ ăn, 266 người phúng tiền. Trong số đó có 146 thứ do gia đình làm ra và 280 thứ phải mua.
Từ những tài liệu lịch sử, người ta thấy rằng cho đến đầu thời kỳ Minh Trị những quà tặng chính đều là đồ ăn do gia đình làm ra, và gạo - một thứ đồ phúng tang lễ, xuất phát từ tập quán giúp đỡ nhau trong xã hội cộng đồng làng xã nông thôn đã được sử dụng. Nhưng, bước vào giai đoạn gần cuối thời đại Minh Trị do sự xâm nhập của chế độ tiền tệ vào nông thôn, những quà tặng chính là đồ ăn trong đời sống hàng ngày đã được thay thế bằng hàng hoá, chủ yếu là tiền.
Theo theo tài liệu nghiên cứu của Ishimi Risyojo tại phường Kamisato, quận Kami Ina, tỉnh Nagano thì ở đây người ta hay sử dụng cơm đỏ để phúng tang lễ và cơm đỏ được coi là đồ ăn sang trọng nên được dùng trong cả hai trường hợp ma chay và cưới xin, lấy ví dụ trong số đồ phúng tang lễ vào năm 1846, cơm đỏ chiếm gần 40%. Nhưng từ khoảng năm 1861, khuynh hướng tặng tiền thay cho cơm đỏ đã trở nên phổ biến hơn.
Cho đến khoảng năm 1905, những đồ tế lễ được đem đến trong ngày cúng nhị tuần hầu hết vẫn là cơm trộn, cơm nếp, nhưng đến năm 1880 đã xuất hiện đồ cúng là bánh kẹo, và từ năm 1939 đồ cúng hoàn toàn là bánh kẹo.
Năm 1861, đồ cúng trong ngày giỗ đầu là mì sợi, bột mì và tiền giấy, sang năm 1880 mì sợi tăng lên. Nhưng đến năm 1961, tất cả đồ phúng đều được thay bằng tiền.
Những quà thăm người ốm theo điều tra năm 1861 thường là các thực phẩm như susi, cá, nhưng từ thời Minh Trị trở đi những thứ đó được thay bằng bánh kẹo. Ishimori khi đề cập đến sự thay đổi quà tặng đã nêu lên những đặc trưng quan trọng, đó là sự thay đổi đồng nhất từ bánh kẹo sang tiền.
Ngay từ xa xưa, trong quà tặng thường ngày ở thành phố, kẹo bánh đã rất được coi trọng. Trong hạng mục quà tặng mà Fukuzawa Yukichi ghi chép đã thấy xuất hiện bánh kẹo hộp trước thời Minh Trị và khi bước vào thời đại Minh Trị số quà là kẹo bánh ngày càng tăng lên. Điều này cho thấy, thời đại này bánh kẹo đã trở thành một tặng phẩm có giá trị xã hội. Vào năm Minh Trị thứ 5 (1872) bắt đầu có kẹo bánh châu Âu, đến năm Minh Trị thứ 19 (1886) đã có các loại bánh gato cao cấp. Điều này chứng tỏ người tặng quà bắt đầu chú ý đến sở thích gắn liền với tư tưởng phương Tây nên đã gửi kèm theo cả những giá trị này vào trong quà tặng.
3. Quà tặng trong xã hội tiêu dùng
Sau chiến tranh, tình trạng sản xuất hàng hóa bị đình trệ và thiếu lương thực kéo dài, nhưng vào những năm 1950 tình hình tạm ổn định và bắt đầu bước sang một thời kỳ sản xuất, tiêu dùng ồ ạt. Hơn thế, lúc này giao thông và thông tin đại chúng ở Nhật Bản cũng đã phát triển nên khoảng cách lối sống giữa nông thôn và thành phố được thu hẹp dần. Trong sự thay đổi đó, tập quán tặng quà - một hình thức duy trì mối quan hệ xã hội vẫn được tiếp tục. Sau đây chúng ta hãy xem xét đặc trưng tập quán tặng quà trong thời đại tiêu dùng, đặc biệt là quà tặng vào dịp cuối năm.
Theo Niên biểu thống kê văn hoá ẩm thực Nhật Bản thời kỳ hiện đại, mì chính là thứ thường được sử dụng. Ngoài ra, những quà tặng được ưa thích vào dịp Tết Trung nguyên thường được bày bán ở cửa hàng bách hoá Tokyo, giá cả từ 300 yên đến 500 yên và từ 1000 yên đến 2000 yên, đó là bia và các thứ khác. Bia gồm các loại như Nippon, Asahi, Kirin, Wishky tập trung ở các cửa hàng nổi tiếng như Kotobukiya, Dainihonkaju (hiện nay là Nikka) giá từ 1200 đến 1300 yên. Trong đồ uống, Karubisu được ghi chép là bán chạy nhất. Những thực phẩm được giới thiệu làm quà tặng vào dịp cuối năm ở bách hoá Mitsukoshi là rượu Satory chai vuông, rong biển và đường. Còn ở bách hoá Isetan là cá hồi khô, rượu Nada nổi tiếng và đường. Vào năm 1964, bách hoá Mitsukoshi lần đầu tiên mở cửa trung tâm quà tặng Tết Trung nguyên, sau đó cứ mỗi dịp Tết Trung nguyên hay ngày lễ cuối năm, các quầy đặc biệt đều mở cửa.
Bắt đầu từ thời kỳ này nền kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh, các loại quà tặng cũng được đa dạng hoá. Đường, một thứ quà mang giá trị xã hội trước đây, nay giá trị đã bị hạ thấp. Trong mục quảng cáo trên báo vào dịp Tết Trung nguyên và cuối năm có in đậm tên những món ăn hàng ngày như thịt hộp, giò, gia vị cùng các đồ uống như rượu Tây, rượu Nhật, bia, cà phê, trà Trung Quốc, trà Nhật. Năm 1992 trong số đó có nhiều loại rượu được giảm giá, cửa hàng bán hạ giá xuất hiện nhiều hơn cho nên những cửa hiệu đắt tiền không còn được ưa chuộng như trước nữa. Kết quả là giá trị của những quà tặng như đường bị giảm thấp.
Dõi theo quá trình lịch sử, chúng ta thấy những quà tặng cuối năm hay Tết Trung nguyên hiện nay có gì đặc biệt?
Trước hết, hãy xem xét bắt đầu từ khu vực đô thị. Từ tháng 7 đến tháng 8/2000, Phòng Nghiên cứu văn hóa nhân chủng học của Trường Đại học Joshieiyo đã tiến hành một cuộc điều tra về tập quán tặng quà, trọng tâm là quà tặng Tết Trung nguyên ở khu Furukura, phường Yusa, quận Akumi, tỉnh Yamagata và rút ra những kết luận như sau:
Phường Yusa nằm ở vị trí cực bắc Hiranosyonai có diện tích 20.841 km vuông, dân số 18.548 người với 5.091 hộ, số hộ nông dân là 1.801 hộ, số người làm nông nghiệp là 2.489 người. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp phát triển. Cuộc điều tra được tiến hành với 617 hộ, nhận được bản trả lời từ 527 hộ, kết quả là:
Số hộ tổ chức Tết trung nguyên có 71%. Quà gửi tặng vào dịp này có: 32% tặng đặc sản địa phương, 25% tặng bia, 13% tặng rượu, 7% tặng bánh kẹo, 6% tặng xà phòng, 4% tặng cà phê, 4% tặng dưa muối, 4% tặng phiếu mua hàng, 3% tặng rong biển, 2% tặng giò. Quà được tặng có: 19% là bia, 17% là đặc sản địa phương, 15% là bánh kẹo, 10% là rượu, 10% là xà phòng, 8% là cà phê, 8% là giò, 6% là phiếu mua hàng, 5% là rong biển khô, 2% dưa muối. Trong các địa chỉ được gửi quà thì: 60% là họ hàng, 20% bạn thân, 5% bè bạn, người quen, 4% hàng xóm, 3% cấp trên, 3% thầy hướng dẫn và 5% các loại khác. Ngoài ra, trong số những người tặng quà vào dịp Tết Trung nguyên thì: 65% là quan hệ họ hàng, 19% là bạn thân, 6% hàng xóm, 3% cấp trên, 1% người bè bạn và 6% các loại khác. Tiến hành điều tra về mối quan hệ giữa quà tặng với địa chỉ gửi tặng quà ở khu vực dân cư ngoài vùng Syonai, tỉnh Yamagata, người ta thấy có 80% người gửi quà tặng đặc sản vùng Syonai và tặng phẩm gửi người ở khu vực Syonai có 40% theo sở thích của địa chỉ gửi và 34% theo tính thực dụng. Những người gửi đặc sản của Syonai rất ít, chỉ có 7%.
Masuku melon (một loại dưa) sản phẩm của khu vực Syonai, Yamagata là một loại đặc sản mùa hè có giá trị cao, ngoài ra những thứ khác như gạo Ogamic (gạo sạch, không sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học) cũng là loại có giá trị. Những đặc sản gạo khác như Haemuki, Domannaka hoặc hồng, nho, củ cải đỏ muối, đậu nành của Syonai cũng là những đặc sản được cả nước biết đến.
Ngoài ra còn những loại không phải đặc sản chính của vùng Syonai như Sakurambo (quả anh đào), Furafurasu (lê Tây) cũng có giá trị như đặc sản của vùng Yamagata nên kẹo bánh làm từ những thứ đó cũng được cho là quà tặng quý. Có thể nói quà tặng là một cầu nối trung gian nối quan hệ giữa con người với con người cho nên người gửi quà cũng không thể coi nhẹ hoàn cảnh gia đình cũng như vị trí xã hội của địa chỉ mình gửi quà. Và vì thế, vấn đề này đã được nghiên cứu cụ thể. Một ví dụ về cuộc điều tra tìm hiểu ý thức tặng quà của người gửi, trong đó chủ yếu là xem xét người gửi đã suy nghĩ như thế nào về tính thực dụng cũng như sở thích của người nhận quà, sao cho khi nhận đối tượng cảm thấy thấy vui mà không áy náy về giá cả của món quà.
Từ kết quả điều tra có thể thấy phần lớn cho rằng tiền chi phí cho quà tặng phụ thuộc vào hai yếu tố: địa vị xã hội và cá nhân người nhận. Nhóm A thấy chi phí 3000 yên là vừa. Nhóm B cho rằng cần chi phí khoảng 5000 yên. Những người nhóm B coi trọng sở thích của người được tặng hơn, còn nhóm A có khuynh hướng nghĩ đến tính thực dụng.
Dưới đây, chúng tôi sẽ xem xét và so sánh những tài liệu công bố đặc trưng của từng khu vực đô thị và nông thôn đối với tập quán tặng quà. Đối tượng điều tra là các bà nội trợ thành phố Kobe.
Trong cuộc điều tra quà tặng cuối năm vào năm 1992, người ta thấy có: (1)_ rong biển, chè 25,1%, (2) giò 24,6%, (3) bánh kẹo Tây, Nhật 24,1%, (4) rượu Nhật, (5) những thứ gửi trực tiếp từ nơi sản xuất 23,6%, (6) phiếu mua hàng 19,9%, (7) thức ăn 19,4%, (8) bia 17,3%, (9) dầu ăn, gia vị 14,1%, cà phê, hồng trà 13,1%,cá ngừ, trứng cá muối 9,9%, (12) rượu Tây 8,9%, (13) các phẩm sữa 6,8%, (14) nước ngọt và các đồ uống khác 5,8%, (15) đồ tắm gội 5,7%. Ngoài ra, xà phòng giặt và xà phòng tắm là 0,5%, những thứ này chiếm tỉ lệ nhỏ. Tiêu chuẩn lựa chọn quà liên quan đến tính thực dụng 59,2%, sở thích của người được tặng 57,6%, giá cả 39,8%, được nhận là tốt 29,2%, cũng khá cao. Người ta không coi trọng nhãn hiệu chỉ có 3,1%. Đặc biệt, đối với bao gói, khá chú trọng là 17,8%, hơi chú trọng là 29,8%, không chú trọng mấy 23%, hoàn toàn không quan tâm 6,8%. Địa chỉ gửi quà 73,8% cho họ hàng, 22% cho người quen biết, 21,5% cho cấp trên của chồng, 21,5% cho thày dạy của mình, 13,1% cho bạn thân của chồng, 12% cho bạn mình, 11,5% cho đồng nghiệp, cấp dưới của chồng, 9,4% cho bác sĩ, 4,2% cho cấp trên của mình, 3,7% cho bè bạn. Số lần gửi từ 1 đến 4 là 47,1%, từ 5 đến 9 là 38,2%, một tỉ lệ khá cao. Quà gửi có giá bình quân 5000 yên là 46,1%, là cao nhất.
Theo kết quả cuộc điều tra ý thức đối với Tết cuối năm 2000 ở thành phố (trực tiếp hỏi 300 phụ nữ nội trợ từ 20 đến 50 tuổi ở các thành phố Tokyo, Osaka, mỗi nơi 150 người) thì những hàng hoá Tết muốn gửi là: bia 28,5%, cà phê 22,2%, thực phẩm tươi sống 18,1%, rượu Nhật 16%, giò 14,9%, xà phòng giặt 13,9%, dầu, các gia vị khác 13,5%, phiếu mua hàng 9,7%, trà Nhật 8%, kẹo bánh Tây 6,9%. Những quà tặng phù hợp với mùa đông: rượu Nhật 35%, cá ướp muối 30,7%, cà phê 30%, giò các loại 28%, thực phẩm tươi sống 26%, trà Nhật 23,3%, hồng trà 8,7%, hàng khô 8,7%, phiếu mua hàng 8,3%, gia vị, dầu ăn, cá kho 8%. Những quà muốn được nhận chủ yếu là: phiếu mua hàng 65,3%, bia 29,3%, xà phòng 27,3%... Điểm được cân nhắc khi mua quà: muốn cho người nhận vui 83.3%, những thứ có tính thực dụng 68,8%, những thứ không làm cho người nhận áy náy 48,6%.
Nơi gửi quà cuối năm bố mẹ 48,6%, họ hàng 40,3%, cấp trên 30,9%, bạn bè, người quen 25,3%, bạn 22,6%, anh em 21,2%, thầy giáo cũ, thày giáo dạy thêm 18,4% và hàng xóm thấp nhất 2,1%. Tiền quà dự kiến bình quân là 4.428 yên, số lần gửi quà bình quân là 4,4 lần.
Điều tra quà tặng Tết Trung nguyên, tỉ lệ cho rằng những thứ phù hợp với mùa hè: bia 79,7%, mì sợi nhỏ 67,7%, đồ uống là nước hoa quả nguyên chất 51,3%, cà phê 28,7%, đồ uống 100% hoa quả tươi 18,7%, xà phòng 12,7%, sữa tươi 8%, thực phẩm tươi sống 4,7%, rượu vang 4,3%, xà phòng tắm 4%. Điểm quan trọng khi mua quà đối với cả hai lễ tết đều được suy nghĩ như nhau. Địa chỉ gửi quà Tết Trung nguyên cha mẹ 58,1%, họ hàng 35,9%, cấp trên 33,1%, bè bạn 32,4%, anh em 26,4%, người quen 23,2%, thày giáo của các con 18,3%, và hàng xóm 1%. Tiền dự định mua quà bình quân là 4.478 yên, số lần gửi bình quân là 4,4 lần.
Điều tra so sánh tập quán gửi quà ở đô thị và nông thôn thì thấy nông thôn chú trọng đặc sản địa phương. Những quà tặng hai bên chọn giống nhau phần nhiều là bia, rượu, cà phê. Đặc biệt những đồ uống mát như bia được chọn nhiều nhất vào Tết Trung nguyên mùa hè. Những đồ ăn thức uống mang phong vị đặc trưng theo mùa làm cho người nhận vui thích, chính vì vậy cảm giác thời tiết là một yếu tố quan trọng chi phối việc mua quà tặng cho nhau. Phiếu mua hàng là một thứ chiếm tỉ lệ khá cao nhưng trong thực tế không được sử dụng như quà tặng. Phiếu mua hàng có tác dụng như một phương tiện trao đổi hàng hóa. Theo Moos thì chế độ trao đổi quà tặng và nhận biếu đồ vật bao gồm ý nghĩa công lợi. Tuy nhiên, trong tập quán tặng quà của người Nhật lại không có khuynh hướng đó. Mặt khác, quà tặng tết cuối năm và Trung nguyên chỉ chú trọng đến việc duy trì quan hệ thân thiện nên còn sử dụng phiếu mua hàng để tránh ấn tượng trao đổi về kinh tế. Dù là nông thôn hay đô thị thì địa chỉ gửi quà là bố mẹ, họ hàng bao giờ cũng chiếm tỉ lệ cao.ở nông thôn việc tặng quà cho bạn bè khá nhiều nhưng ở khu vực đô thị cùng với bè bạn, người quen biết, tỉ lệ tặng cấp trên nơi mình làm việc cũng chiếm khá cao.
Minami Chieko cho rằng “để khẳng định mối quan hệ xã hội hành vi trao đổi kinh tế được tiến hành thông qua giá cả của quà tặng được coi trọng hơn việc trao đổi tượng trưng không yêu cầu giá trị kinh tế”. Nhưng qua cuộc điều tra ở Yamagata, chúng ta có thể thấy ngoài phần phù hợp với nhận định của Minami, ở vùng nông thôn hiện nay vẫn còn đang tồn tại hành vi trao đổi tượng trưng, mang tình cảm, lễ nghi được duy trì để phát triển mối quan hệ xã hội.
4. Kết luận
Nhìn lại lịch sử tập quán tặng quà của người Nhật gần 100 năm qua, ta thấy vai trò quan trọng của quà tặng là để phát triển mối quan hệ thân thiện hoặc duy trì quan hệ xã hội của con người không thay đổi. Đồng thời quà tặng, với tư cách là đồ vật mang tính chất nghi lễ trung gian, chủ yếu vẫn là thức ăn hàng ngày, nếu không tính tới sự thay đổi thành tiền. Hơn thế nữa, trong điều kiện lịch sử, những thứ được chọn làm quà tặng đều có giá trị xã hội. Cho đến tận thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, năm 1945, đồ ăn không thể thiếu được và những sản phẩm thực dụng được coi trọng. Sau chiến tranh, bước vào thời kỳ tăng trưởng kinh tế, quà tặng được đa dạng hoá, tuy nhiên chiếm tỉ lệ chủ yếu trong các loại quà tặng vẫn là đồ ăn.
Trong đời sống xã hội, tập quán tặng quà vào dịp cuối năm và Tết Trung nguyên được hình thành từ việc lo lễ tết trong năm. Điều này thể hiện ở điểm phần lớn quà tặng đều là đồ ăn thức uống. Vào nửa cuối thế kỷ 19, quà tặng tết cuối năm ở nông thôn đã thay đổi từ hồng khô sang đường, và đường trở thành quà tặng chính trong dịp cuối năm và Tết Trung nguyên. Đường là thực phẩm quý, có giá trị xã hội cao, nó đã được dùng làm quà tặng chính cho đến cho đến thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh vào những năm 1960. Và thời kỳ này, từ thực phẩm hàng ngày, quà tặng được chuyển sang báng kẹo. Bánh kẹo, đặc biệt bánh kẹo phương Tây là quà tặng chính vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay.
Trong quá trình thay đổi, mì ống sợi nhỏ có ý nghĩa như đồ cúng tế tổ tiên, vào dịp Lễ Obon hiện nay tỉ lệ sử dụng vẫn cao. Mì được coi như quà tặng định kỳ trong xã hội làng xã vẫn có giá trị là quà tặng mùa xuân, dù trong thời đại kinh tế tăng trưởng đã xuất hiện nhiều loại quà tặng khác.Có thể nói, quà tặng loại này vẫn được duy trì vì nó hợp phong thổ, khí hậu mùa hè ở Nhật Bản.
Quà tặng ở nông thôn hiện nay mang giá trị xã hội rất cao, nhất là những đặc sản địa phương. Thông qua kết quả nghiên cứu ở phường Yura tỉnh Yamagata, người ta thấy được những đồ ăn làm quà tặng có giá trị xã hội cao là những thứ độc đáo mà ở địa phương đó không sản xuất được. Ngoài ra là những thực phẩm sạch không gây độc hại, đem lại sức khoẻ cho mọi người. Quà tặng còn phản ánh tình trạng xã hội, văn hoá của thời đại. Thông qua quá trình lịch sử của tập quán tặng quà Tết Trung nguyên và dịp cuối năm, chúng ta thấy đồ ăn vẫn là quà tặng chính được lựa chọn trong mọi hoàn cảnh, bất kể tình hình kinh tế hay văn hóa thay đổi. Về vấn đề này, người ta liên tưởng đến sự trao đổi mang tính chất lễ nghi để duy trì mối quan hệ xã hội giữa người với người trong Tết Trung nguyên và Tết cuối năm. Đồng thời, tuy quà tặng đồ ăn, thức uống, những thứ ăn xong hết ngay không thể giữ lâu như các thứ khác nhưng ở nó ẩn dấu một tình cảm giúp đỡ thông qua việc trả ơn mang giá trị kinh tế.
Người dịch: Hồ Hoàng Hoa
Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản
Koji Akino
Giáo sư Đại học EiyoJyoshi
Lược trích từ tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
http://cjs.inas.gov.vn/ImagesLiblary/su%20thay%20doi%20trong%20gtri%20an%20uong%20nb.jp g
Chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây của Giáo sư Akino, một trong những kết quả nghiên cứu văn hoá lối sống trích từ tập sách "Một trăm năm văn hoá ẩm thực của Nhật Bản" do Hiệp hội văn hoá đời sống Nhật Bản biên soạn và đã xuất bản năm 2001.
1. Những vấn đề chung
Trong các nghi lễ như ma chay, hiếu hỷ, các lễ hội trong năm hoặc các mối quan hệ, giao tiếp xã hội trong đời sống hàng ngày, việc tặng quà trong xã hội Nhật Bản rất được coi trọng.
Nguồn gốc của việc tặng quà theo các nhà văn hoá nhân chủng học như Yanagida Kunio và Wakamori Taro thì nó xuất phát từ tập quán con người dâng cúng các món ăn tế thần thánh rồi cùng nhau ăn uống những thứ đó. Có nghĩa là sự giao tiếp giữa thần thánh và người qua một vật trung gian, đó là đồ ăn uống. Từ tập quán tế thức ăn cho thần rồi cùng nhau ăn uống đã trở thành tập quán tặng quà, một phương tiện giao tiếp giữa các cá nhân cũng như giữa các tập đoàn với nhau.
Việc quan tâm tới nhau, trao đổi tín vật giữa người với người xuất phát từ hành động trên đã được các nhà nghiên cứu chứng minh, giải thích bằng lý luận. Họ cho rằng chức năng xã hội của việc trao tặng quà không chỉ đơn thuần là trao đổi vật chất mà còn có cả ý nghĩa trao đổi quyền lực và danh tiếng. Ngoài ra, nó còn thể hiện sự thống nhất của tập đoàn xã hội, tăng cường mối quan hệ giữa người với người. Các kết quả nghiên cứu về việc tặng quà nhìn chung đều có một ý nghĩa như vậy. Còn ở Nhật Bản tập quán tặng quà có đặc điểm gì, sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu.
Nhà nghiên cứu Ito Kanzi đã cho rằng: “Tập quán tặng quà trong xã hội Nhật Bản xuất phát từ việc nhớ ơn nhau, từ đó tạo ra mối quan hệ giữa con người với con người. Nguồn gốc vật chất được sử dụng trong việc tặng quà là một thông điệp hoàn chỉnh trong giao tiếp”. Đây là một nhận xét đúng.
Khi chọn quà, người tặng phải quan tâm đến giá trị xã hội của quà tặng với mục đích làm sao thoả mãn sở thích của đối tượng. Vì vậy, trong quà tặng còn chứa đựng cả lời nhắn gửi của người tặng. Trong số quà tặng, thứ được sử dụng nhiều nhất là đồ ăn. Bài viết này sẽ điểm lại những thay đổi quan trọng trong trăm năm qua của đồ ăn, một loại hình chính trong quà tặng. Đặc biệt, trong quá trình hiện đại hoá (Âu hoá + công nghiệp hoá) bắt đầu từ việc mở cửa đất nước thời Minh Trị và những thay đổi lớn sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Tập quán tặng quà của các tập thể cộng đồng làng xã trước chiến tranh chủ yếu xuất phát từ sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng, sau chiến tranh các cộng đồng làng xã tan rã, chuyển sang thời đại tiêu dùng, thức ăn được sản xuất hàng loạt nên quà tặng cũng thay đổi một cách đa dạng. Sau đây là những kết quả nghiên cứu so sánh giá trị xã hội của quà tặng để thấy chúng được thay đổi như thế nào trong quá trình biến đổi xã hội ở Nhật Bản.
2. Quà tặng trong xã hội làng xã
Arigaki Zaemon đã nghiên cứu các tài liệu ghi chép về tập quán tặng quà ở một địa phương của tỉnh Nagano là Kami Ina và rút ra được những nhận xét như sau: quà tặng được chia thành 2 loại, đó là loại định kỳ và không định kỳ. Quà định kỳ dành cho các dịp lễ trong năm như Tết trẻ em, Tiết lập xuân, Ngày cuối năm và Tết nguyên đán. Ví dụ, hồng khô tặng vào dịp cuối năm, giấy gấp để mừng tuổi, xôi nắm và bánh lá vào Tiết lập xuân, bánh gói vào Tết trẻ em, bột mỳ và gạo vào dịp Lễ Obon. Những thứ này đều liên quan đến tín ngưỡng dân gian, chẳng hạn như mỳ ống nhỏ (somen) xưa kia là loại thức ăn dùng để cúng tổ tiên. Những thức ăn chính được sử dụng làm quà tặng chúc mừng hôn lễ là loại quà tặng không định kỳ đã được nghiên cứu như sau: Năm 1853, vào triều đại Ansei trước Minh Trị, trong số 112 người tặng quà bằng giấy có 4 người tặng giấy Nakaori, 29 người tặng giấy Kosugi. Theo sổ ghi chép những thứ thu được trong dịp mừng lễ cưới vào năm Minh Trị thứ 22 thì trong số 192 người có 68 người tặng khăn tay, 14 người tặng tiền, 39 người tặng giấy, 2 người tặng vải tấm, 17 người tặng khăn gói (furosiki)... Ariga còn cho rằng trước thời Minh Trị giấy là tặng phẩm chính, việc thay đổi tặng giấy bằng tặng mùi xoa vào thời Minh Trị là phổ biến và cho rằng phạm vi sử dụng loại này nhiều hơn. Trong số quà tặng vào các ngày lễ trong năm, hồng khô thường được tặng vào dịp cuối năm và sau thời Minh Trị nó đã được thay thế bằng đường.
Khoảng năm 1934 (Showa năm thứ 9) trong quà tặng vào dịp lễ Obon, dành cho nhà có giỗ đầu, nhiều nhất là mì ống nhỏ. Còn những nhà khác người ta tặng bánh kẹo, khăn mùi xoa, guốc gỗ, bột, gạo và tiền v.v... Đồng thời ông còn đưa ra nhận xét: Trừ đồ phúng tang lễ ra thì quà tặng ở nông thôn hầu hết là kẹo bánh, khăn và vải. Nếu phân tích tính văn hoá trong báo cáo của Ariga thì quà tặng vào các ngày lễ trong năm được dân làng có ý thức chia ra như vậy là có sự kế thừa truyền thống ăn uống cùng thần thánh như Yanagida đã nêu ra. Mặt khác những loại quà không định kỳ như quà tặng trong hôn lễ là những thứ đều có giá trị xã hội. Chẳng hạn trước thời Minh Trị là giấy, đầu thời Minh Trị là khăn mùi xoa và tiền. Còn khoảng giữa thời Minh Trị dù là định kỳ hay không định kỳ quà tặng chủ yếu là bánh kẹo.
Nhà nghiên cứu Otsukarrikku khi liệt kê những quà tặng cho phụ nữ mới sinh, năm Minh Trị 18 (1885) ở phường Tsurumi (hiện nay là khu Tsurumi, thành phố Yokohama) cho thấy trong số 22 người tặng quà có 4 người tặng đường trắng 3 người tặng cá khô, mực khô, còn kẹo màu, đường phèn mỗi người một loại. Tất cả quà tặng thời kỳ đó đều là thức ăn. Điều đặc biệt là đường trắng được nhiều người dùng làm quà nhất. Ông còn nói rằng việc sử dụng đường trong đời sống ăn uống hàng ngày được phổ biến nhất từ sau năm 1945 trở đi. Tsuruto Nhà nghiên cứu đã cho rằng đường trắng là loại quà tặng quý có giá trị xã hội từ thời Minh Trị cho đến Showa ở thành phố Sosha tỉnh Okayama vào dịp Tết Trung Nguyên.
Từ việc Asiga cho rằng quà tặng vào dịp cuối năm được thay đổi từ hồng khô sang đường trắng và việc Otsuka và Tsuruto nêu ra, người ta hiểu được rằng từ thời Minh Trị cho đến hết Chiến tranh Thái Bình Dương thời đại Showa, đường trắng là tặng vật quý mang giá trị xã hội. Tuy nhiên, đồ phúng viếng trong tang lễ được sử dụng nhiều nhất vẫn là những đồ ăn hàng ngày. Theo ghi chép trong một cuốn sổ tang lễ năm 1864, trước thời Minh Trị, người ta thấy trong 159 người phúng quà có 50 người phúng gạo, 26 người phúng bột mì, 19 người phúng cặp ***g có đồ ăn (xôi nấm, cơm đỏ...), 49 người phúng tiền giấy và 34 người phúng hương...
Còn vào năm Minh Trị thứ 10, trong số 216 người phúng có 85 người phúng gạo, 27 người phúng cặp ***g có đồ ăn, 14 người phúng bột mì và 120 người phúng gạo ngon. Trong số này, Arita đã chia thành 2 loại, 127 thứ là sản phẩm do gia đình tự làm ra và 126 thứ là đồ phải mua.
Năm Minh Trị 32, trong số 372 người có 109 người phúng gạo, 34 người phúng cặp ***g có đồ ăn, 266 người phúng tiền. Trong số đó có 146 thứ do gia đình làm ra và 280 thứ phải mua.
Từ những tài liệu lịch sử, người ta thấy rằng cho đến đầu thời kỳ Minh Trị những quà tặng chính đều là đồ ăn do gia đình làm ra, và gạo - một thứ đồ phúng tang lễ, xuất phát từ tập quán giúp đỡ nhau trong xã hội cộng đồng làng xã nông thôn đã được sử dụng. Nhưng, bước vào giai đoạn gần cuối thời đại Minh Trị do sự xâm nhập của chế độ tiền tệ vào nông thôn, những quà tặng chính là đồ ăn trong đời sống hàng ngày đã được thay thế bằng hàng hoá, chủ yếu là tiền.
Theo theo tài liệu nghiên cứu của Ishimi Risyojo tại phường Kamisato, quận Kami Ina, tỉnh Nagano thì ở đây người ta hay sử dụng cơm đỏ để phúng tang lễ và cơm đỏ được coi là đồ ăn sang trọng nên được dùng trong cả hai trường hợp ma chay và cưới xin, lấy ví dụ trong số đồ phúng tang lễ vào năm 1846, cơm đỏ chiếm gần 40%. Nhưng từ khoảng năm 1861, khuynh hướng tặng tiền thay cho cơm đỏ đã trở nên phổ biến hơn.
Cho đến khoảng năm 1905, những đồ tế lễ được đem đến trong ngày cúng nhị tuần hầu hết vẫn là cơm trộn, cơm nếp, nhưng đến năm 1880 đã xuất hiện đồ cúng là bánh kẹo, và từ năm 1939 đồ cúng hoàn toàn là bánh kẹo.
Năm 1861, đồ cúng trong ngày giỗ đầu là mì sợi, bột mì và tiền giấy, sang năm 1880 mì sợi tăng lên. Nhưng đến năm 1961, tất cả đồ phúng đều được thay bằng tiền.
Những quà thăm người ốm theo điều tra năm 1861 thường là các thực phẩm như susi, cá, nhưng từ thời Minh Trị trở đi những thứ đó được thay bằng bánh kẹo. Ishimori khi đề cập đến sự thay đổi quà tặng đã nêu lên những đặc trưng quan trọng, đó là sự thay đổi đồng nhất từ bánh kẹo sang tiền.
Ngay từ xa xưa, trong quà tặng thường ngày ở thành phố, kẹo bánh đã rất được coi trọng. Trong hạng mục quà tặng mà Fukuzawa Yukichi ghi chép đã thấy xuất hiện bánh kẹo hộp trước thời Minh Trị và khi bước vào thời đại Minh Trị số quà là kẹo bánh ngày càng tăng lên. Điều này cho thấy, thời đại này bánh kẹo đã trở thành một tặng phẩm có giá trị xã hội. Vào năm Minh Trị thứ 5 (1872) bắt đầu có kẹo bánh châu Âu, đến năm Minh Trị thứ 19 (1886) đã có các loại bánh gato cao cấp. Điều này chứng tỏ người tặng quà bắt đầu chú ý đến sở thích gắn liền với tư tưởng phương Tây nên đã gửi kèm theo cả những giá trị này vào trong quà tặng.
3. Quà tặng trong xã hội tiêu dùng
Sau chiến tranh, tình trạng sản xuất hàng hóa bị đình trệ và thiếu lương thực kéo dài, nhưng vào những năm 1950 tình hình tạm ổn định và bắt đầu bước sang một thời kỳ sản xuất, tiêu dùng ồ ạt. Hơn thế, lúc này giao thông và thông tin đại chúng ở Nhật Bản cũng đã phát triển nên khoảng cách lối sống giữa nông thôn và thành phố được thu hẹp dần. Trong sự thay đổi đó, tập quán tặng quà - một hình thức duy trì mối quan hệ xã hội vẫn được tiếp tục. Sau đây chúng ta hãy xem xét đặc trưng tập quán tặng quà trong thời đại tiêu dùng, đặc biệt là quà tặng vào dịp cuối năm.
Theo Niên biểu thống kê văn hoá ẩm thực Nhật Bản thời kỳ hiện đại, mì chính là thứ thường được sử dụng. Ngoài ra, những quà tặng được ưa thích vào dịp Tết Trung nguyên thường được bày bán ở cửa hàng bách hoá Tokyo, giá cả từ 300 yên đến 500 yên và từ 1000 yên đến 2000 yên, đó là bia và các thứ khác. Bia gồm các loại như Nippon, Asahi, Kirin, Wishky tập trung ở các cửa hàng nổi tiếng như Kotobukiya, Dainihonkaju (hiện nay là Nikka) giá từ 1200 đến 1300 yên. Trong đồ uống, Karubisu được ghi chép là bán chạy nhất. Những thực phẩm được giới thiệu làm quà tặng vào dịp cuối năm ở bách hoá Mitsukoshi là rượu Satory chai vuông, rong biển và đường. Còn ở bách hoá Isetan là cá hồi khô, rượu Nada nổi tiếng và đường. Vào năm 1964, bách hoá Mitsukoshi lần đầu tiên mở cửa trung tâm quà tặng Tết Trung nguyên, sau đó cứ mỗi dịp Tết Trung nguyên hay ngày lễ cuối năm, các quầy đặc biệt đều mở cửa.
Bắt đầu từ thời kỳ này nền kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh, các loại quà tặng cũng được đa dạng hoá. Đường, một thứ quà mang giá trị xã hội trước đây, nay giá trị đã bị hạ thấp. Trong mục quảng cáo trên báo vào dịp Tết Trung nguyên và cuối năm có in đậm tên những món ăn hàng ngày như thịt hộp, giò, gia vị cùng các đồ uống như rượu Tây, rượu Nhật, bia, cà phê, trà Trung Quốc, trà Nhật. Năm 1992 trong số đó có nhiều loại rượu được giảm giá, cửa hàng bán hạ giá xuất hiện nhiều hơn cho nên những cửa hiệu đắt tiền không còn được ưa chuộng như trước nữa. Kết quả là giá trị của những quà tặng như đường bị giảm thấp.
Dõi theo quá trình lịch sử, chúng ta thấy những quà tặng cuối năm hay Tết Trung nguyên hiện nay có gì đặc biệt?
Trước hết, hãy xem xét bắt đầu từ khu vực đô thị. Từ tháng 7 đến tháng 8/2000, Phòng Nghiên cứu văn hóa nhân chủng học của Trường Đại học Joshieiyo đã tiến hành một cuộc điều tra về tập quán tặng quà, trọng tâm là quà tặng Tết Trung nguyên ở khu Furukura, phường Yusa, quận Akumi, tỉnh Yamagata và rút ra những kết luận như sau:
Phường Yusa nằm ở vị trí cực bắc Hiranosyonai có diện tích 20.841 km vuông, dân số 18.548 người với 5.091 hộ, số hộ nông dân là 1.801 hộ, số người làm nông nghiệp là 2.489 người. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp phát triển. Cuộc điều tra được tiến hành với 617 hộ, nhận được bản trả lời từ 527 hộ, kết quả là:
Số hộ tổ chức Tết trung nguyên có 71%. Quà gửi tặng vào dịp này có: 32% tặng đặc sản địa phương, 25% tặng bia, 13% tặng rượu, 7% tặng bánh kẹo, 6% tặng xà phòng, 4% tặng cà phê, 4% tặng dưa muối, 4% tặng phiếu mua hàng, 3% tặng rong biển, 2% tặng giò. Quà được tặng có: 19% là bia, 17% là đặc sản địa phương, 15% là bánh kẹo, 10% là rượu, 10% là xà phòng, 8% là cà phê, 8% là giò, 6% là phiếu mua hàng, 5% là rong biển khô, 2% dưa muối. Trong các địa chỉ được gửi quà thì: 60% là họ hàng, 20% bạn thân, 5% bè bạn, người quen, 4% hàng xóm, 3% cấp trên, 3% thầy hướng dẫn và 5% các loại khác. Ngoài ra, trong số những người tặng quà vào dịp Tết Trung nguyên thì: 65% là quan hệ họ hàng, 19% là bạn thân, 6% hàng xóm, 3% cấp trên, 1% người bè bạn và 6% các loại khác. Tiến hành điều tra về mối quan hệ giữa quà tặng với địa chỉ gửi tặng quà ở khu vực dân cư ngoài vùng Syonai, tỉnh Yamagata, người ta thấy có 80% người gửi quà tặng đặc sản vùng Syonai và tặng phẩm gửi người ở khu vực Syonai có 40% theo sở thích của địa chỉ gửi và 34% theo tính thực dụng. Những người gửi đặc sản của Syonai rất ít, chỉ có 7%.
Masuku melon (một loại dưa) sản phẩm của khu vực Syonai, Yamagata là một loại đặc sản mùa hè có giá trị cao, ngoài ra những thứ khác như gạo Ogamic (gạo sạch, không sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học) cũng là loại có giá trị. Những đặc sản gạo khác như Haemuki, Domannaka hoặc hồng, nho, củ cải đỏ muối, đậu nành của Syonai cũng là những đặc sản được cả nước biết đến.
Ngoài ra còn những loại không phải đặc sản chính của vùng Syonai như Sakurambo (quả anh đào), Furafurasu (lê Tây) cũng có giá trị như đặc sản của vùng Yamagata nên kẹo bánh làm từ những thứ đó cũng được cho là quà tặng quý. Có thể nói quà tặng là một cầu nối trung gian nối quan hệ giữa con người với con người cho nên người gửi quà cũng không thể coi nhẹ hoàn cảnh gia đình cũng như vị trí xã hội của địa chỉ mình gửi quà. Và vì thế, vấn đề này đã được nghiên cứu cụ thể. Một ví dụ về cuộc điều tra tìm hiểu ý thức tặng quà của người gửi, trong đó chủ yếu là xem xét người gửi đã suy nghĩ như thế nào về tính thực dụng cũng như sở thích của người nhận quà, sao cho khi nhận đối tượng cảm thấy thấy vui mà không áy náy về giá cả của món quà.
Từ kết quả điều tra có thể thấy phần lớn cho rằng tiền chi phí cho quà tặng phụ thuộc vào hai yếu tố: địa vị xã hội và cá nhân người nhận. Nhóm A thấy chi phí 3000 yên là vừa. Nhóm B cho rằng cần chi phí khoảng 5000 yên. Những người nhóm B coi trọng sở thích của người được tặng hơn, còn nhóm A có khuynh hướng nghĩ đến tính thực dụng.
Dưới đây, chúng tôi sẽ xem xét và so sánh những tài liệu công bố đặc trưng của từng khu vực đô thị và nông thôn đối với tập quán tặng quà. Đối tượng điều tra là các bà nội trợ thành phố Kobe.
Trong cuộc điều tra quà tặng cuối năm vào năm 1992, người ta thấy có: (1)_ rong biển, chè 25,1%, (2) giò 24,6%, (3) bánh kẹo Tây, Nhật 24,1%, (4) rượu Nhật, (5) những thứ gửi trực tiếp từ nơi sản xuất 23,6%, (6) phiếu mua hàng 19,9%, (7) thức ăn 19,4%, (8) bia 17,3%, (9) dầu ăn, gia vị 14,1%, cà phê, hồng trà 13,1%,cá ngừ, trứng cá muối 9,9%, (12) rượu Tây 8,9%, (13) các phẩm sữa 6,8%, (14) nước ngọt và các đồ uống khác 5,8%, (15) đồ tắm gội 5,7%. Ngoài ra, xà phòng giặt và xà phòng tắm là 0,5%, những thứ này chiếm tỉ lệ nhỏ. Tiêu chuẩn lựa chọn quà liên quan đến tính thực dụng 59,2%, sở thích của người được tặng 57,6%, giá cả 39,8%, được nhận là tốt 29,2%, cũng khá cao. Người ta không coi trọng nhãn hiệu chỉ có 3,1%. Đặc biệt, đối với bao gói, khá chú trọng là 17,8%, hơi chú trọng là 29,8%, không chú trọng mấy 23%, hoàn toàn không quan tâm 6,8%. Địa chỉ gửi quà 73,8% cho họ hàng, 22% cho người quen biết, 21,5% cho cấp trên của chồng, 21,5% cho thày dạy của mình, 13,1% cho bạn thân của chồng, 12% cho bạn mình, 11,5% cho đồng nghiệp, cấp dưới của chồng, 9,4% cho bác sĩ, 4,2% cho cấp trên của mình, 3,7% cho bè bạn. Số lần gửi từ 1 đến 4 là 47,1%, từ 5 đến 9 là 38,2%, một tỉ lệ khá cao. Quà gửi có giá bình quân 5000 yên là 46,1%, là cao nhất.
Theo kết quả cuộc điều tra ý thức đối với Tết cuối năm 2000 ở thành phố (trực tiếp hỏi 300 phụ nữ nội trợ từ 20 đến 50 tuổi ở các thành phố Tokyo, Osaka, mỗi nơi 150 người) thì những hàng hoá Tết muốn gửi là: bia 28,5%, cà phê 22,2%, thực phẩm tươi sống 18,1%, rượu Nhật 16%, giò 14,9%, xà phòng giặt 13,9%, dầu, các gia vị khác 13,5%, phiếu mua hàng 9,7%, trà Nhật 8%, kẹo bánh Tây 6,9%. Những quà tặng phù hợp với mùa đông: rượu Nhật 35%, cá ướp muối 30,7%, cà phê 30%, giò các loại 28%, thực phẩm tươi sống 26%, trà Nhật 23,3%, hồng trà 8,7%, hàng khô 8,7%, phiếu mua hàng 8,3%, gia vị, dầu ăn, cá kho 8%. Những quà muốn được nhận chủ yếu là: phiếu mua hàng 65,3%, bia 29,3%, xà phòng 27,3%... Điểm được cân nhắc khi mua quà: muốn cho người nhận vui 83.3%, những thứ có tính thực dụng 68,8%, những thứ không làm cho người nhận áy náy 48,6%.
Nơi gửi quà cuối năm bố mẹ 48,6%, họ hàng 40,3%, cấp trên 30,9%, bạn bè, người quen 25,3%, bạn 22,6%, anh em 21,2%, thầy giáo cũ, thày giáo dạy thêm 18,4% và hàng xóm thấp nhất 2,1%. Tiền quà dự kiến bình quân là 4.428 yên, số lần gửi quà bình quân là 4,4 lần.
Điều tra quà tặng Tết Trung nguyên, tỉ lệ cho rằng những thứ phù hợp với mùa hè: bia 79,7%, mì sợi nhỏ 67,7%, đồ uống là nước hoa quả nguyên chất 51,3%, cà phê 28,7%, đồ uống 100% hoa quả tươi 18,7%, xà phòng 12,7%, sữa tươi 8%, thực phẩm tươi sống 4,7%, rượu vang 4,3%, xà phòng tắm 4%. Điểm quan trọng khi mua quà đối với cả hai lễ tết đều được suy nghĩ như nhau. Địa chỉ gửi quà Tết Trung nguyên cha mẹ 58,1%, họ hàng 35,9%, cấp trên 33,1%, bè bạn 32,4%, anh em 26,4%, người quen 23,2%, thày giáo của các con 18,3%, và hàng xóm 1%. Tiền dự định mua quà bình quân là 4.478 yên, số lần gửi bình quân là 4,4 lần.
Điều tra so sánh tập quán gửi quà ở đô thị và nông thôn thì thấy nông thôn chú trọng đặc sản địa phương. Những quà tặng hai bên chọn giống nhau phần nhiều là bia, rượu, cà phê. Đặc biệt những đồ uống mát như bia được chọn nhiều nhất vào Tết Trung nguyên mùa hè. Những đồ ăn thức uống mang phong vị đặc trưng theo mùa làm cho người nhận vui thích, chính vì vậy cảm giác thời tiết là một yếu tố quan trọng chi phối việc mua quà tặng cho nhau. Phiếu mua hàng là một thứ chiếm tỉ lệ khá cao nhưng trong thực tế không được sử dụng như quà tặng. Phiếu mua hàng có tác dụng như một phương tiện trao đổi hàng hóa. Theo Moos thì chế độ trao đổi quà tặng và nhận biếu đồ vật bao gồm ý nghĩa công lợi. Tuy nhiên, trong tập quán tặng quà của người Nhật lại không có khuynh hướng đó. Mặt khác, quà tặng tết cuối năm và Trung nguyên chỉ chú trọng đến việc duy trì quan hệ thân thiện nên còn sử dụng phiếu mua hàng để tránh ấn tượng trao đổi về kinh tế. Dù là nông thôn hay đô thị thì địa chỉ gửi quà là bố mẹ, họ hàng bao giờ cũng chiếm tỉ lệ cao.ở nông thôn việc tặng quà cho bạn bè khá nhiều nhưng ở khu vực đô thị cùng với bè bạn, người quen biết, tỉ lệ tặng cấp trên nơi mình làm việc cũng chiếm khá cao.
Minami Chieko cho rằng “để khẳng định mối quan hệ xã hội hành vi trao đổi kinh tế được tiến hành thông qua giá cả của quà tặng được coi trọng hơn việc trao đổi tượng trưng không yêu cầu giá trị kinh tế”. Nhưng qua cuộc điều tra ở Yamagata, chúng ta có thể thấy ngoài phần phù hợp với nhận định của Minami, ở vùng nông thôn hiện nay vẫn còn đang tồn tại hành vi trao đổi tượng trưng, mang tình cảm, lễ nghi được duy trì để phát triển mối quan hệ xã hội.
4. Kết luận
Nhìn lại lịch sử tập quán tặng quà của người Nhật gần 100 năm qua, ta thấy vai trò quan trọng của quà tặng là để phát triển mối quan hệ thân thiện hoặc duy trì quan hệ xã hội của con người không thay đổi. Đồng thời quà tặng, với tư cách là đồ vật mang tính chất nghi lễ trung gian, chủ yếu vẫn là thức ăn hàng ngày, nếu không tính tới sự thay đổi thành tiền. Hơn thế nữa, trong điều kiện lịch sử, những thứ được chọn làm quà tặng đều có giá trị xã hội. Cho đến tận thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, năm 1945, đồ ăn không thể thiếu được và những sản phẩm thực dụng được coi trọng. Sau chiến tranh, bước vào thời kỳ tăng trưởng kinh tế, quà tặng được đa dạng hoá, tuy nhiên chiếm tỉ lệ chủ yếu trong các loại quà tặng vẫn là đồ ăn.
Trong đời sống xã hội, tập quán tặng quà vào dịp cuối năm và Tết Trung nguyên được hình thành từ việc lo lễ tết trong năm. Điều này thể hiện ở điểm phần lớn quà tặng đều là đồ ăn thức uống. Vào nửa cuối thế kỷ 19, quà tặng tết cuối năm ở nông thôn đã thay đổi từ hồng khô sang đường, và đường trở thành quà tặng chính trong dịp cuối năm và Tết Trung nguyên. Đường là thực phẩm quý, có giá trị xã hội cao, nó đã được dùng làm quà tặng chính cho đến cho đến thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh vào những năm 1960. Và thời kỳ này, từ thực phẩm hàng ngày, quà tặng được chuyển sang báng kẹo. Bánh kẹo, đặc biệt bánh kẹo phương Tây là quà tặng chính vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay.
Trong quá trình thay đổi, mì ống sợi nhỏ có ý nghĩa như đồ cúng tế tổ tiên, vào dịp Lễ Obon hiện nay tỉ lệ sử dụng vẫn cao. Mì được coi như quà tặng định kỳ trong xã hội làng xã vẫn có giá trị là quà tặng mùa xuân, dù trong thời đại kinh tế tăng trưởng đã xuất hiện nhiều loại quà tặng khác.Có thể nói, quà tặng loại này vẫn được duy trì vì nó hợp phong thổ, khí hậu mùa hè ở Nhật Bản.
Quà tặng ở nông thôn hiện nay mang giá trị xã hội rất cao, nhất là những đặc sản địa phương. Thông qua kết quả nghiên cứu ở phường Yura tỉnh Yamagata, người ta thấy được những đồ ăn làm quà tặng có giá trị xã hội cao là những thứ độc đáo mà ở địa phương đó không sản xuất được. Ngoài ra là những thực phẩm sạch không gây độc hại, đem lại sức khoẻ cho mọi người. Quà tặng còn phản ánh tình trạng xã hội, văn hoá của thời đại. Thông qua quá trình lịch sử của tập quán tặng quà Tết Trung nguyên và dịp cuối năm, chúng ta thấy đồ ăn vẫn là quà tặng chính được lựa chọn trong mọi hoàn cảnh, bất kể tình hình kinh tế hay văn hóa thay đổi. Về vấn đề này, người ta liên tưởng đến sự trao đổi mang tính chất lễ nghi để duy trì mối quan hệ xã hội giữa người với người trong Tết Trung nguyên và Tết cuối năm. Đồng thời, tuy quà tặng đồ ăn, thức uống, những thứ ăn xong hết ngay không thể giữ lâu như các thứ khác nhưng ở nó ẩn dấu một tình cảm giúp đỡ thông qua việc trả ơn mang giá trị kinh tế.
Người dịch: Hồ Hoàng Hoa
Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản
Koji Akino
Giáo sư Đại học EiyoJyoshi
Lược trích từ tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á