PDA

View Full Version : Bình giải Gorin-no-sho



Như Thị Duyên
13-03-2012, 07:20 AM
KHÁI YẾU

Gorin-no-sho (五輪, Hán Việt: Ngũ Luân Thư) là tên một tập binh pháp thư do kiếm khách Nhật Bản là Miyamoto Musashi biên soạn. Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu của ông.
Người ta cho rằng tác phẩm này được Musashi chấp bút trong hang động Reigan-dō trên đỉnh núi Kimpōzan thuộc xứ Kumamoto trước khi ông mất, trong khoảng thời gian từ năm Kan-ei thứ 20 (1643) cho đến năm Shōhō thứ 2 (1645).
Nội dung của Gorin-no-sho chủ yếu bàn về binh pháp, võ nghệ, kiếm pháp nhưng ngày nay, nó được đánh giá cao ở nhiều phương diện như chiến lược, kinh doanh, giáo dục,... Gorin-no-sho thể hiện quan điểm của Musashi về cách để đi đến chiến thắng trong các trận đấu. Yếu tố này được các doanh nhân hiện đại coi trọng, họ xem đó là một phần kim chỉ nam giúp họ đạt được thành công trong sự nghiệp.
Bản gốc của Gorin-no-sho do Musashi viết đã bị đốt cháy, hiện chỉ còn một số bản sao. Vì bản chính không còn tồn tại mà giữa các bản sao có lại có nhiều điểm dị biệt, và cũng vì tập sách có nhiều ghi chép dựa trên các giá trị quan sau thời của Musashi nên có thuyết cho rằng Gorin-no-sho không phải trước của Miyamoto Musashi mà là tác phẩm của các đệ tử hậu thế rồi gán ghép cho ông.

Ngày nay, sách được dịch và chú giải bằng tiếng Nhật hiện đại và cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác.

http://i.imgur.com/eITil.jpg
Một bản sao Gorin-no-sho


Cấu thành

Tên sách, Gorin-no-sho hay "Ngũ Luân Thư", bắt nguồn từ quan niệm ngũ đại trong Phật giáo Mật tông. Sách gồm 5 quyển lần lượt là "địa", "thủy", "hỏa", "phong" và "không".

Địa thư (Chi-no-maki):
Musashi tự xưng phái kiếm của mình là Niten Ichi-ryū, giới thiệu về cuộc đời và công phu binh pháp của mình. Đương thời, từ "binh pháp" (heihō, hyōhō) được dùng theo cả hai nghĩa là thuật dụng binh và nghĩa võ nghệ, kiếm pháp. Quyển này được đặt tên là "địa thư" dựa trên quan điểm "con đường thẳng thì viết trên mặt đất".

Thủy thư (Sui-no-maki):
Phần này bàn về tâm lý chuẩn bị đối với phái kiếm Niten Ichi-ryū, cách cầm kiếm và nhiều khía cạnh liên quan đến kiếm thuật khác. Quyển này được đặt tên là "thủy thư" dựa trên quan điểm "Niten Ichi-ryū như dòng nước dẫn đường", trong đó thân pháp (Taisabaki), kiếm chiêu (Kensabaki) linh hoạt uyển chuyển như nước chảy.

Hỏa thư (Hi-no-maki):
Phần này viết về thực chiến, cá nhân đấu cá nhân, số đông chọi số đông cũng như tâm lý khi lâm chiến. Phần này được đặt tên là "hỏa thư" dựa trên quan điểm "trận đấu như thế lửa cháy dữ".

Phong thư (Fū-no-maki):
Viết về các môn phái khác. Vì phần này bàn đến chỗ hay dở của từng phái kiếm, từng nhà từng họ nên tác giả chơi chữ đặt tên là "phong thư" vì "phong" còn có nghĩa là phong cách, dạng thứ như "gia phong", "cổ phong"...

Không thư (Kū-no-maki):
Phần này viết bản chất của binh pháp là "không", to lớn quãng đại khôn lường.


http://i.imgur.com/tBR2I.jpg
Reigan-dō (Linh Nghiêm động), nơi Musashi ẩn dật vào cuối đời và cũng là nơi ông hoàn tất Gorin-no-sho



Phê phán các môn phái khác trong Phong thư

+ Phê phán các môn phái ưa dùng trường kiếm vì không thích hợp khi cận chiến và trở thành bất lợi khi chiến đấu ở nơi chật hẹp. Kiếm sĩ phải từ bỏ tâm lý dựa dẫm vào vũ khí dài.
+ Phê phán các môn phái ưa dùng đoản kiếm, vì đoản kiếm chỉ thích hợp với "hậu thủ" chứ không thể chiếm được "tiên thủ" và đoản kiếm cũng bất lợi khi phải chọi với số đông.
+ Phê phán các môn phái ưa vung kiếm thật mạnh, vì khi ra đòn mạnh thì ta cũng sẽ mất thăng bằng và tăng nguy cơ làm gãy kiếm.
+ Phê phán các môn phái có bộ pháp kỳ lạ, vì nhiều chuyển động quái dị khiến chậm mất nhịp, bị địch chiếm mất tiên thủ và cũng bị giới hạn ở nhiều địa hình khác nhau.
+ Phê phán các môn phái chấp trước vào thế thủ. Thế thủ là yếu tố căn bản nhưng mang tính phòng vệ, là hậu thủ. Trong thực chiến, để làm địch hỗn loạn, phân tâm thì thế thủ phải mềm dẻo linh hoạt.
+ Phê phán các môn phái sở hữu tuyệt kỹ bí truyền, vì khi chém nhau trong thực chiến thì không phân biệt tuyệt kỹ hay kỹ thuật sơ bộ, phàm đòn nào đả thương đối thủ đều có giá trị như nhau cả. Khi đào tạo thì cần dựa vào năng lực thực tế của từng cá nhân mà chỉ đạo.

Từ những điểm phê phán các môn phái khác, tác giả làm rõ tính hữu dụng của Niten Ichi-ryū.


Thư tịch liên quan

+ Watanabe Ichirō, "Gorin-no-sho", NXB Iwanami shoten
+ Sokomoto Hosokawa kehon
+ Mihashi Kan-ichirō, "Kendō Hiyō", NXB thể dục thể thao, 2002
+ "Gorin-no-sho", phụ lục "Kendō Hiyō"
+ Matsunobu Ichiji, "Ketteiban Miyamoto Musashi zensho"
+ Gorin-no-sho bản chính thức, dịch sang tiếng Nhật hiện đại do Ōkura Ryūju dịch

Như Thị Duyên
13-03-2012, 10:03 PM
BÌNH GIẢI

Phần bình giải, chú thích về Gorin-no-sho do Hội nghiên cứu Harima Musashi (The Musashi) thực hiện và công bố tại web site:
http://www.geocities.jp/themusasi2g/index.html

Bản quyền của phần nghiên cứu này cũng như các hình ảnh sử dụng trong bài đều thuộc Hội nghiên cứu Harima Musashi. Như Thị Duyên chuyển ngữ sang Việt văn. Phần cước chú đánh số (1, 2, 3,...) do người dịch thêm vào để giúp bạn đọc dễ theo dõi, phần cước chú đánh chữ (a, b, c,...) là dịch từ nguyên bản cước chú của The Musashi.
Phần nghiên cứu này cũng giới thiệu tất cả các dị bản Gorin-no-sho tìm thấy được và đối chiếu với nhau.

Để tiện cho bạn đọc tham khảo, đối chiếu thì trong bài dịch Việt ngữ, tôi gõ kèm phần phiên âm tiếng Nhật trước lời dịch Việt văn và chú giải. Phần chữ Kana thì bạn đọc có thể tham khảo tại web site

http://www.geocities.jp/themusasi2g/index.html

Mở đầu

Phiên âm:

Heihō no michi, Niten Ichi-ryū to gōshi, sūnen tanren no koto, hajimete shomotsu ni kensan to omoi. Toki, Kan-ei nijū nen, jūgatsu jōjun no hi, Kyūshū Higo no chi Iwato-yama ni nobori, ten wo hai shi, Kannon wo rei shi, Butsuzen ni mukau. Shōkoku Harima no bushi, Shinmen Musashi-no-kami Fujiwara Genshin, toshi tsumorite rokujū. Ware jakunen no mukashi yori heiō no michi ni kokoro wo kake, jūsan sai ni shite hajimete shōbu wo su. Sono aite Shintō-ryū Arima Kihei to iu hyōhōsha ni uchikachi, jūroku sai ni shite Tajima-no-kuni Akiyama to iu kyōryoku na hyōhōsha ni uchikachi, nijūiisai ni shite miyako e nobori, tenka no hyōhōsha ni ai, sūdo no shōbu wo kessu to iedomo, shōri wo ezaru to iu koto nashi. Sono nochi kuniguni tokoro dokoro ni itari, shoryū no hyōhōsha ni yukiai, rokujū yo do made shōbu wo su to iedomo, ichido mo shōri wo ushinawazu. Sono hodo, toshi jūsan yori nijū hachi, kyū made no koto nari. Ware sanjū wo koete ato wo omoimiru ni, heihō shigoku shite katsu niwa arazu. Onozu kara michi no kiyō arite tenri wo hanasazaru yue ka, mata wa taryū no heihō busoku naru tokoro niya. Sono nochi, naomo fukaki dōri wo en to chōtan yūren shite mireba, onozu kara heihō no michi ni au koto, ware gojūsai no hi nari. Soreyori irai wa tazuneiru beki michi nakushite kōin wo okuru. Heihō no ri ni makasete shogei shonō no michi to naseba, banji ni oite ware ni shishō nashi. Ima kono sho wo tsukuru to iedomo Buppō Judō no kogo wo mokarazu, Gunki Gunpō no furuki koto wo mochiizu. Kore ichi ryū nomi tate, jitsu no kokoro wo arawasu, Tendō to Kanzenon wo kagami to shi, jūgatsu tōka no yoru, in no itten ni fude wo totte kaki hajimeru mono nari.

(Trích đoạn mở đầu trong Gorin-no-sho, Chi-no-maki)


Dịch nghĩa:


Ta gọi cái đạo của binh pháp (1) này là Niten Ichi-ryū. Sau mấy mươi năm khổ luyện, đây là lần đần tiên ta định thể hiện nó vào trong sách vở. Lúc bấy giờ là thượng tuần tháng 10, năm Kan-ei (2) thứ 20, ta leo lên núi Iwato xứ Higo thuộc vùng Kyūshū, lễ trời đất, bái Quan Âm, cuối đầu trước chư Phật.
Ta là võ sĩ xứ Harima (3), Shinmen Musashi no kami Fujiwara Genshin, tuổi đã 60. Ta từ thời trẻ đã để tâm vào đạo binh pháp, tỷ thí lần đầu tiên vào năm 13 tuổi. Lần đó ta đánh thắng đối thủ là Arima Kihei, một binh pháp giả phái Shintō-ryū. Đến năm 16 tuổi đấu thắng Akiyama, một binh pháp giả hùng mạnh người xứ Tajima (4). Năm 21 tuổi ta lên kinh, gặp gỡ nhiều binh pháp giả tiếng tăm trong thiên hạ, cũng đã mấy lần quyết đấu nhưng không lần nào là không giành được thắng lợi. Sau đó ta lang bạt kỳ hồ khắp các xứ, tỷ võ với nhiều binh pháp giả thuộc nhiều môn phái đến hơn 60 trận, nhưng chưa lần nào để mất thắng lợi khỏi tầm tay. Những việc này xảy ra từ năm ta 13 tuổi cho đến năm 28, 29 tuổi.
Khi quá tuổi 30, ta ngẫm lại thấy rằng mình giành được thắng lợi cho đến giờ không phải vì đã đạt đến chỗ chí cực chí cao của binh pháp mà là vì có thể trời sinh ta đã có chút năng khiếu bẩm sinh ở binh pháp đạo, không xa rời cái lý của tự nhiên, hoặc giả là binh pháp của đối phương các phái đều ở mức kém cõi. Sau đó ta sớm luyện tối rèn hòng đi đến chỗ thâm sâu hơn nữa của đạo lý (đạo binh pháp), khi trạc 50 tuổi thì ta gặp được cái đạo của binh pháp. Từ đó ngày tháng thấm thoát trôi qua, ta không còn phải dò tìm ở con đường nào nữa. Ta dựa vào cái lý của binh pháp, (áp dụng cho nhiều việc khác), tu học theo nhiều (học thuật, kỹ nghệ) khác, chư nghệ chư năng, vạn sự ta đều không cần đến thầy dạy.
Bây giờ ta viết nên sách này nhưng không mượn các cỗ ngữ trong Phập pháp hay Nho giáo, cũng không dùng những chuyện cũ trong Quân ký, quân pháp (5). Để thể hiện cái tâm chân thật của phái Niten Ichi-ryū này, ta lấy đạo lý trời đất và đức Quán Thế Âm làm tấm gương sáng, đêm mùng 10 tháng 10 hướng về phương Đông Bắc, bắt đầu chấp bút.

(Ngũ luân thư, địa thư)

http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/senkisenki.jpg http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/musasifacedrw0t.jpg

Cước chú:

(1) Binh pháp (heihō, hyōhō): từ này được dùng theo 2 nghĩa là thuật dụng binh và nghĩa thứ hai là kiếm thuật, võ nghệ. Binh pháp giả (heihōsha, hyōhōsha) mang nghĩa kiếm khách, võ sĩ.
(2) Kan-ei: niên hiệu đầu thời Edo, kéo dài từ tháng 2-1624 ~ tháng 12-1644
(3) Harima: địa danh ngày xưa, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hyōgo ngày nay.
(4) Tajima: địa danh ngày xưa, nằm ở phía Bắc tỉnh Hyōgo ngày nay.
(5) Quân ký (Gunki): ký ghi chép về chuyện chiến tranh, cũng là một thể loại văn học thời cổ với đề tài chiến tranh giữa các dòng họ.

Như Thị Duyên
15-03-2012, 07:22 AM
GIẢI THÍCH VỀ TÊN GỌI

Nếu nói đến Miyamoto Musashi là nói đến Gorin-no-sho, nói đến Gorin-no-sho là nói đến Miyamoto Musashi. Ngay cả những người không thể kể tên nổi một tác phẩm trước tác nào của những kiếm khách đương thời khác vẫn biết đến Gorin-no-sho của Miyamoto Musashi. Trong một chừng mực nào đó thì điều này kỳ lạ bởi vì tuy có tiếng tăm như vậy nhưng nó lại trải qua một quá trình lịch sử khá lạ lùng. Gorin-no-sho là cuốn sách giáo khoa về binh pháp do Miyamoto Musashi viết. Tên sách gồm 3 chữ Hán là "ngũ" (go), "luân" (rin) và "thư" (sho) và thêm trợ từ "no" vào trong cách đọc. Nhưng Musashi đã không viết ra tập sách với tựa đề "Gorin-no-sho". Đây chỉ là cái tên hậu thế gán ghép mà gọi chứ thực ra Musashi đã không đặt tên cho tác phẩm của mình như vậy.
Cái tên "Gorin-no-sho" trở nên thông dụng và phổ biến từ sau thời Meiji, còn từ trước đó cho đến thời Edo thì tác phẩm này được gọi bằng nhiều tên khác nhau, đại khái như "Gokan-no-sho" (tập sách 5 quyển), "Heihō gokan" (binh pháp ngũ quyển), "chi sui ka fū kū no gokan" (5 quyển địa thủy hỏa phong không),... Trong đó, ở Higo (1) có trường hợp gọi tác phẩm này là "Gorin-no-sho" nhưng cái tên này không được phổ biến, hơn nữa cách gọi "Gorin-no-sho" hạn chế trong một phạm vi rất nhỏ và tác phẩm lúc đó vẫn được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau.

http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/100heisyo5kan.jpg
Yoshida kehon (Gorin-no-sho bản sao nhà Yoshida), 5 quyển địa thủy hỏa phong không do Terao hiệu đính

Như nhiều người đã biết, danh tác "Genji Monogatari" (2) của nữ sĩ Murasaki Shikibu có tựa đề như vậy cũng không phải do chính tác giả đặt ra. Đương thời tác phẩm này cũng được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như "Genji no monogatari", "Hikaru Genji no monogatari", "Murasaki no monogatari", "Murasaki no yukari no monogatari",.... Đến thời Edo, trường phái Hán học còn gọi tác phẩm này là "Gengo" hay "Shibun". Cho nên, trong cái truyền thống hậu thế tự đặt tên cho sách vở đó thì tác phẩm của Musashi được gọi là "Gorin-no-sho" cũng không phải điều lạ.

http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/gorin_hosokawa0.jpg
Hosokawa kehon, bản sao của họ Hosokawa

Theo như ghi chép trong "Tanji Hōkin Hikki" (3), tập truyện ký về Musashi ở Chikuzen thì không phải Musashi mất sau khi hoàn tất tập 5 cuốn binh pháp thư này. Vì vậy lúc đó cũng chưa có tên cụ thể để chỉ toàn tập sách này, và tập sách cũng không còn lưu lại như bản sao với bìa đầy đủ như hiện tại.
Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là tập sách này hoàn toàn không có tiêu đề gì. Musashi gọi 5 quyển lần lượt là "địa" (chi), "thủy" (sui), "hỏa" (ka), "phong" (fū) và "không" (kū). Tuy không có tên gọi cụ thể để chỉ tổng thể 5 cuốn nhưng từng cuốn riêng biệt vẫn có tên gọi. Vì vậy hậu nhân gọi đây là "Gokan no Heihōsho" (5 quyển binh pháp thư) hay "Heisho Gokan" (binh thư ngũ quyển).

http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/gorin_kusu1.jpg
Kusunoki kehon, bản sao của họ Kusunoki

Vậy tại sao tập sách này lại được gọi là "Gorin-no-sho", vì "địa", "thủy", "hỏa", "phong", "không" là năm nguyên tố cấu thành nên vũ trụ và Musashi đặt tên từng quyển theo tên các nguyên tố này. Nhưng sẽ nói đến ở phần sau, Musashi đặt tên từng quyển theo tên các bộ phận của Ngũ Luân tháp (4) (tháp 5 tầng) có lẽ đúng hơn là theo tên năm nguyên tố vũ trụ. Nói cách khác là Musashi đã xây dựng nên một ngọn tháp 5 tầng bằng 5 quyển trong tập sách. Ngũ Luân tháp là ngọn tháp đá dựng ở mộ người chết, vậy nên chúng ta tiếp nhận di nguyện của Musashi và gọi tập sách này là "Gorin-no-sho".

http://i251.photobucket.com/albums/gg285/BodaiMujou/TheMusashi/reigando.jpg
Iwato Kannon, Reigan-dō

Theo như phần mở đầu của Gorin-no-sho thì ông bắt đầu viết tập sách này vào năm 60 tuổi, vào tháng 10 năm Kan-ei thứ 20 (1643). Khi chấp bút là vào thượng tuần tháng 10, ông lên núi Iwato ở vùng ngoại ô phía Tây Kumamoto cầu nguyện. Nơi đây có Iwato Kannon (Quan Âm Iwato), một nơi linh hiển nổi tiếng của đức Quan Âm và có động Reigan-dō (Linh Nghiêm động). Từ nơi danh thắng này mà hậu thế đã khai sinh ra truyền thuyết Musashi viết nên Gorin-no-sho tại đây.
Nhưng dù sao Musashi cũng đã bắt đầu viết Gorin-no-sho vào tháng 10 năm Kan-ei thứ 20. Hình như bấy giờ ông không ở dinh thự Kumamoto mà ở một biệt trang trong một ngôi làng gần đó. Đến mùa hạ năm sau, niên hiệu Kan-ei 21 (1644, cũng là năm đầu niên hiệu Shōhō) thì Musashi phát bệnh, không còn chấp bút được như ý muốn nữa. Có đại phu được phái đến để điều trị nhưng bệnh tình Musashi ngày càng nặng. Vì điều kiện chữa trị ở biệt trang rất hạn chế nên chúa Hosokawa Mitsunao (5) cùng quan Gia Lão (6) Nagaoka Okinaga cùng quần thần khuyên ông nên trở về Kumamoto nhưng Musashi không đồng ý. Khiến mọi người phải khổ sở một thời gian, mãi đến tháng 11 năm đó Musashi mới được đưa về dinh thự ở Kumamoto.
Có thể Musashi đã chấp bút viết bản thảo trước khi mất nhưng dựa theo sự việc này, từ tháng 10 năm Kan-ei thứ 20 cho đến lúc phát bệnh, tức mùa hè, hay nhiều nhất là mùa thu năm sau thì Gorin-no-sho được viết trong một khoảng thời gian ngắn chưa đầy một năm. Nhất là khoảng thời gian từ sau tháng 11 năm Kan-ei thứ 21, với bệnh tình như vậy thì khó có thể nghĩ rằng Musashi còn có thể viết được.
Nửa năm sau đó, Musashi qua đời vào ngày 19 tháng 5 năm Shōhō thứ 2, nhưng trước khi mất 7 ngày thì có trao lại tác phẩm cho một môn đệ là Terao Son-no-jō. Có lẽ truyền thuyết này phát sinh dựa trên phần ghi chép tên người nhận và thời gian đề ở mỗi quyển trong tập sách. Nhưng từ việc ngoài Terao Son-no-jō ra, không còn ai khác nhận được thì có thể thấy tập sách này chưa hoàn chỉnh thành tập mà chỉ là một bộ bản thảo duy nhất.
Gorin-no-sho vốn là tập sách chưa hoàn thiện. Vậy nên truyền thuyết Musashi dồn hết tâm huyết để viết nên Gorin-no-sho rồi qua đời chẳng qua chỉ là một truyền thuyết vô căn cớ được hậu nhân dựng nên mà thôi.

Cước chú:

(1) Higo: địa danh ngày xưa, ứng với tỉnh Kumamoto ngày nay. Đây là nơi Musashi lưu lại vào cuối đời, được chúa phiên Kumamoto đối đãi.
(2) Genji Monogatari: tập tiểu thuyết gồm 54 cuốn của nữ sĩ Murasaki Shikibu viết vào giữa thời Heian. Đây được xem là danh tác đầu tiên của nhân loại.
(3) Tanji Hōkin Hikki: tập truyện ký về Miyamoto Musashi do Tachibana Minehira viết. Ông này là một trà nhân, đồng thời cũng là kiếm khách phái Chikuzen Niten Ichi-ryū đời thứ 5.
(4) Ngũ Luân tháp (Gorintō): thạch tháp 5 tầng với 5 tảng đá lần lượt chồng lên nhau với hình dạng tứ giác, tròn, tam giác, bán nguyệt và hình bảo châu. Thời Heian, nó tượng trưng cho đức Đại Nhật Như Lai trong Mật tông, sau trở thành tháp thờ cúng người chết, dựng ở nghĩa địa.
(5) Hosokawa Mitsunao: Daimyō đầu thời Edo, chúa phiên Kumamoto đời thứ 2.
(6) Gia Lão (Karō): chức danh cao nhất trong hệ thống cấp bậc bề tôi của các lãnh chúa thời Edo. Chức này thâu tóm, kiểm soát mọi bề tôi của chúa, giúp chúa lo chính sự, thu chi,<$EE>Mọi việc trọng đại trong phiên đều qua tay Gia Lão.