PDA

View Full Version : Kimono – trang phục truyền thống của Nhật Bản



Kasumi
03-07-2012, 09:23 PM
I

Kimono là trang phục truyền thống của người Nhật. Người Nhật có những quy tắc riêng khi mặc loại trang phục này. Đối với phái nữ, phụ nữ đã có gia đình và thiếu nữ còn độc thân thì mỗi đối tượng có những cách mặc kimono khác nhau.

Furisode là loại kimono thích hợp với các cô gái trẻ chưa có chồng. Thường thì họ mặc Furisode vào những dịp đặc biệt như Năm Mới hoặc trong ngày lễ Trưởng thành. Màu sắc tươi tắn, hoa văn trang trí đẹp mắt trên Furisode giúp tôn thêm vẻ trẻ trung, xinh xắn của người thiếu nữ. Ngoài ra, hai ống tay áo buông dài cũng là nét đặc trưng của Furisode. Ngày xưa, các cô gái dùng cách vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với ý trung nhân.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Furisode1.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Furisode1.jpg)
Furisode có hoa văn, màu sắc tươi tắn và hai ống tay áo buông dài

Phụ nữ đã có gia đình thì mặc kimono màu đen có tên gọi Tomesode. Họ thường chọn Tomesode khi tham dự lễ cưới của người thân. Màu đen là màu chủ đạo ở phần thân áo, riêng vạt áo bên dưới được trang trí hoa văn có màu sắc trang nhã. Một điểm nữa để nhận biết Tomesode là trên lưng và hai tay áo có in hình phù hiệu gia tộc của người mặc. Trong khi kimono của thiếu nữ chưa chồng có ống tay áo dài thì Tomesode có ống tay áo ngắn hơn nhiều.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tomesode1.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tomesode1.jpg)
Tomesode có màu đen là màu chủ đạo ở thân áo, vạt áo được trang trí hoa văn


Đến cuối thời Minh Trị, cùng với sự du nhập các kiểu đầm dạ hội của phương Tây, người Nhật cho ra đời nhiều loại kimono phù hợp với phụ nữ đã lập gia đình bên cạnh Tomesode đen truyền thống. Họ gọi đó là Homongi, thiếu nữ và phụ nữ có chồng đều có thể mặc Homongi trong các cuộc viếng thăm theo nghi thức hay các bữa tiệc.

Điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa Homongi và Tomesode là họa tiết trang trí trên Homongi được thể hiện khắp mặt vải từ tay áo, thân áo đến vạt áo. Phổ biến nhất là hình hoa và các sự vật trong tự nhiên. Phụ nữ thường chọn Homongi khi tham dự tiệc trà, tiệc họp mặt bạn bè, người thân.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Homongi.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Homongi.jpg)
Họa tiết trang trí trên Homongi được thể hiện khắp mặt vải
từ tay áo, thân áo đến vạt áo


Đối với người Nhật, kimono không đơn thuần là trang phục mà qua đó nó nói lên thân phận, địa vị của người mặc và hoàn cảnh, sự kiện mà họ tham dự.

Khí hậu Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt, dựa vào sự thay đổi thời tiết mà người Nhật có các loại kimono khác nhau. Từ tháng Giêng đến tháng 5, khí hậu lạnh giá, kimono được dùng trong thời điểm này là loại có vải lót dày bên trong.

Từ tháng 6 đến tháng 9, thời tiết nóng, người Nhật thường mặc kimono không cần vải lót, có tên gọi Hitoe. Đặc biệt vào những ngày đỉnh điểm của mùa hè, nhiệt độ tăng cao, loại kimono được may bằng vải mỏng và mát được ưa chuộng nhất.

Yếu tố thời tiết không chỉ quyết định chất liệu vải dùng để may kimono mà còn ảnh hưởng đến màu sắc của trang phục. Kimono mùa hè thường có màu sắc dịu mát, phổ biến nhất là xanh nhạt.

Một chiếc áo kimono nhìn bề ngoài có vẻ phức tạp nhưng thật ra đó là sự kết hợp rất đơn giản giữa các mảnh vải với nhau. Có tổng cộng 8 mảnh vải và người thợ may tất cả chúng lại với nhau để tạo ra một chiếc kimono hoàn chỉnh. Phương pháp may kimono rất đặc thù, người thợ không sử dụng máy may mà chỉ dựa vào các thao tác mang tính thủ công. Khi may kimono, người thợ may trên đường thẳng, ngay cả ở những vị trí vuông góc, đường may cũng đựa trên đường thẳng. Vì vậy, trước khi may họ cần xác định vị trí của đường chỉ may bằng các nếp gấp dài và góc cạnh. Ngoài ra, người thợ rất chú ý đến việc thể hiện vẻ đẹp hài hòa của hoa văn trên từng mảnh vải khi phối hợp chúng lại. Một chiếc áo kimono hoàn chỉnh là cả 1 quá trình lao động thủ công của nhiều người. Kimono không đơn thuần là trang phục truyền thống mà đó là tác phẩm nghệ thuật.

II

Những phụ kiện đi kèm khi mặc kimono cũng phong phú không kém. Trước tiên là dây vải dùng để buộc eo. Sau khi mặc kimono bên ngoài áo lót, người Nhật dùng những dây vải này thắt chặt phần eo để cố định trang phục. Vì kimono không có nút áo nên dây vải buộc eo giữ vai trò như một chiếc nút vững chắc.

Đối với những người có hình thể ốm, chiếc khăn tắm sẽ được dùng để lót thêm bên trong áo kimono, tác dụng của nó là giúp người mặc nhìn có vẻ đầy đặn hơn. Khăn lót chỉ dùng trong vài trường hợp cá biệt, không phổ biến.

Miếng lót dùng cho thắt lưng obi của kimono có ưu điểm là giúp phần obi phía trước bụng người mặc kimono được phẳng phiu, không nhăn nhúm.

Thông thường, một chiếc obi có chiều rộng 30cm, dài 4,2 mét. Đó là một tấm vải lụa dài được trang trí hoa văn cầu kỳ, lộng lẫy. Obi là niềm tự hào của các nghệ nhân trong ngành may mặc truyền thống Nhật Bản.

Nếu nhìn thoáng qua, nhiều người lầm tưởng obi là sản phẩm thêu thủ công nhưng thực chất, nó là tấm vải dệt. Khi dệt, người thợ phải sử dụng đến 4.100 sợi chỉ dọc trên khung dệt còn chỉ ngang là loại chỉ nhiều màu sắc và chúng giữ vai trò quyết định làm nổi bật các họa tiết trên tấm obi. Kỹ năng của người thợ dệt là khéo léo pha trộn các màu của sợi chỉ để cho ra hoa văn theo yêu cầu.

Tạo ra chiếc obi là sự kỳ công, và khi buộc nó trên kimono cũng công phu không kém. Người Nhật có nhiều cách buộc obi. Có hơn 100 cách buộc obi khác nhau.

Đặc trưng của kiểu buộc Bunko musubi là nhìn giống như bươm bướm đang rủ cánh. Bunko musubi là một trong những cách buộc obi phức tạp, người mặc kimono không thể tự làm được.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Bunko-musubi1.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Bunko-musubi1.jpg)

http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Bunko-musubi2.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Bunko-musubi2.jpg)
Bunko musubi có hình dạng một chú bướm đang rũ cánh


Trong khi đó, kiểu buộc Tateyanoji musubi lại mang hình dáng của một chiếc nơ lớn. Kiểu buộc này thường đi kèm với furisode, một loại kimono dành cho các thiếu nữ. Thông thường, cách buộc obi của các cô gái trẻ rất cầu kỳ.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tateyanoji-musubi-1.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tateyanoji-musubi-1.jpg)

http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tateyanoji-musubi-2.png (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Tateyanoji-musubi-2.png)
Kiểu obi mang hình một chiếc nơ lớn


Kiểu buộc có tên gọi Fukura suzume lại thích hợp với thiếu nữ chưa có gia đình. Kiểu buộc obi của người Nhật phản ánh sự vật trong tự nhiên, ví dụ như hoa bướm hay chim chóc.

Taiko musubi là kiểu buộc obi được ưa chuộng nhất, nó đơn giản, phù hợp với phụ nữ đứng tuổi và cả các cô gái trẻ. Ngoài việc không kén tuổi tác, kiểu buộc obi này cũng không kén chọn kimono, nó có thể được kết hợp với bất kỳ loại kimono nào.

Trước khi phổ biến rộng rãi trong xã hội, taiko musubi là kiểu buộc obi do một số kỹ nữ Geisha nghĩ ra vào thế kỷ 19. Hình dáng ban đầu của nó giống như một lá bài ichimai karuta. Sau đó, nó được cải tiến, phần đuôi dài của obi được cuộn lên gọn gàng. Lúc này, taiko musubi có dáng dấp của một chiếc trống.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Taiko-musubi.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Taiko-musubi.jpg)

http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Taiko-musubi1.png (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/06/Taiko-musubi1.png)
Taiko musubi


Hiện nay, giới Maiko, tức những cô gái học việc để trở thành geisha, sử dụng kiểu buộc obi đặc thù Darari musubi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết kiểu buộc obi này qua 2 tấm lụa dài phía sau lưng các cô. Trong quá khứ, darari musubi là kiểu buộc obi thịnh hành của các cô con gái của giới thương nhân giàu có. Thắt lưng obi không đơn giản dùng để trang điểm cho chiếc áo kimono, mà qua đó, người ta ngầm hiểu chủ nhân của chúng thuộc thành phần nào trong xã hội.

III

Từ thời Heian, thế kỷ thứ 8, giới quý tộc mặc kimono có rất nhiều lớp áo, có thể từ 10 đến 20 lớp, gọi là Juni hitoe. Khi mặc Juni hitoe, người ta phải mặc trang phục lót bên trong gọi là Kosode, hình dáng của bộ trang phục lót này trở thành kiểu mẫu của kimono ngày nay.

Đến triều đại Muromachi, thế kỷ 14, giai cấp võ sĩ samurai thắng thế, họ từ bỏ Juni hitoe của giới quý tộc, thay vào đó là loại kimono kosode có ống tay áo ngắn. Kosode nhanh chóng phổ biến trong tầng lớp võ sĩ và được xem là trang phục khẳng định địa vị của các samurai. Đến thời chiến quốc Sengoku, phong cách thời trang kosode bắt đầu nở rộ. Lúc này, xuất hiện những loại kosode dành cho phái nữ, chúng được trang trí hoa văn sinh động, đẹp mắt.


http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/07/kimono1.jpg (http://thvl.vn/wp-content/uploads/2012/07/kimono1.jpg)
Cùng với trà đạo, Kimono đã trở thành nét văn hóa đặc trưng nhất của xứ sở
Mặt trời mọc


Từ chỗ chỉ dành riêng cho tầng lớp võ sĩ, kosode vào thời Sengoku đã phổ biến rộng rãi trong dân chúng, trở thành trang phục đời thường của họ. Một số kiểu kosode trong giai đoạn này còn lưu hành cho đến ngày nay. Điển hình là kiểu kimono có tên gọi Kanbun kosode, một phần hoa văn trên áo được trang trí bằng vàng. Kanbun kosode phản ánh sự giàu có của giới thương nhân.

Khi kimono trở nên thịnh hành, người ta bắt đầu nghĩ ra nhiều cách để buộc dây thắt lưng cố định áo và làm cho nó đẹp hơn. Đến đây thì obi lên ngôi. Nhiều loại obi ra đời, chúng được thiết kế công phu và có giá thành đắt chẳng kém gì một chiếc áo kimono.

Năm 1683, một sự kiện đã xảy ra, tạo nên sự thay đổi lớn trong lịch sử phát triển của kimono. Chính quyền Mạc phủ ban hành lệnh cấm sử dụng nguyên liệu quý để may trang phục. Họ cho rằng, dùng vàng để trang trí trên quần áo là một sự lãng phí. Việc dùng chỉ vàng để thêu bị cấm triệt để, thay vào đó là những loại chỉ thông thường. Ngoài ra, vải may kimono thời này chủ yếu sử dụng kỹ thuật nhuộm thắt nút kanoko shibori, kỹ thuật này không tạo ra hoa văn đa dạng.

Kimono dành cho giới thượng lưu lúc bấy giờ được thêu hoa văn bằng chỉ vàng hoặc bạc. Lệnh cấm đã tạo sự chuyển hướng trong nghề sản xuất kimono. Người thợ dần từ bỏ kỹ thuật thêu bằng sợi chỉ kim loại, họ tìm kiếm những cách trang trí khác đảm bảo cả yếu tố thẩm mỹ lẫn sự sang trọng. Nổi tiếng trong số đó là kỹ thuật nhuộm yuzen ra đời ở Kyoto.

Không phải dùng đến kỹ thuật thêu hay nhuộm kanoko shibori, hoa văn trên vải nhuộm yuzen chỉ được vẽ bằng tay, nhưng màu sắc của chúng tươi sáng, sinh động lạ thường. Trong kỹ thuật này, người ta sử dụng hồ để làm chất cản màu, chúng được vẽ ở phần viền của từng chi tiết hoa văn.

Công dụng của hồ là giúp màu vẽ không bị lem ra các phần khác của bức tranh. Khi công đoạn vẽ hoa văn hoàn tất, màu vẽ đã khô, người ta tiếp tục phủ hồ lên toàn bộ hoa văn và bắt đầu nhuộm vải. Người thợ tẩy hồ ra khỏi tấm vải nhuộm bằng cách đặt tấm vải trong dòng nước đang chảy mạnh. Nước cuốn hồ đi và để lại trên mặt vải các họa tiết đẹp mắt. Màu sắc trên hoa văn của vải nhuộm yuzen tươi sáng và bền màu chẳng khác gì kỹ thuật thêu truyền thống bị cấm trước đó. Lệnh cấm của chính quyền Mạc phủ đã tạo ra một cuộc cách mạng về trang phục không chỉ ở Kyoto, kinh thành Edo mà trên cả nước.

Các loại kimono thời này được cải tiến nhiều, kiểu dáng đơn giản, tạo sự thoải mái hơn cho người mặc. Đặc biệt là kimono dành cho nữ giới, người ta thấy các bà các cô khoác trên người những chiếc áo kimono màu sắc đa dạng, thiết kế hoa văn phong phú. Lệnh cấm không gây bất lợi mà trái lại nó giúp thúc đẩy ngành dệt may kimono phát triển mạnh mẽ.

Hiện nay, kimono được xem là lễ phục nhưng không vì thế mà người Nhật lãng quên trách nhiệm gìn giữ và phát triển giá trị văn hoá lâu đời này của họ. Bên cạnh những loại kimono đắt tiền được làm từ kỹ thuật thủ công cao, các nhà sản xuất không quên dòng sản phẩm bình dân mang tính phổ thông.

Loại kimono làm từ vải Meisen ra đời vào thời Taisho, đầu thế kỷ 20. Hoa văn của loại kimono này không tuân thủ những chuẩn mực truyền thống mô tả thiên nhiên 4 mùa. Đó có thể là hoa văn hình học hay những sự vật không mang tính đặc thù Nhật Bản. Ngay từ khi ra đời, kimono bằng vải meisen đã được người dân đặc biệt ưa chuộng bởi sự tiện lợi, giá cả phải chăng và tính thẩm mỹ của nó.

Vùng Chichibu thuộc tỉnh Saitama được xem là cái nôi sản sinh vải meisen. Vải meisen được dệt từ loại kén tằm có chất lượng xấu, kén bị dơ. Yếu tố này là một phần quyết định giá thành của sản phẩm. Sau công đoạn dệt, vải phải trải qua quá trình nhuộm màu, trang trí hoa văn rồi mới đến công đoạn may thành kimono. Hiện nay, vải meisen có trên 200 kiểu hoa văn. Mỗi kiểu hoa văn mang một dáng vẻ khác nhau.

Mặt sau của mỗi tấm vải có ghi xuất xứ của sản phẩm. Điều này tạo thuận lợi để khách hàng truy nguồn gốc và cũng là cách để nhà sản xuất quảng bá thương hiệu của họ. Giá thành hiện nay của 1 chiếc áo kimono bằng vải meisen là từ 20.000 – 30.000 yên, tương đương từ 5 – 7,5 triệu đồng Việt Nam. Mức giá này khá mềm đối với người dân Nhật.

Vào đầu thời Taisho, vải meisen từng tạo ra cơn sốt trong giới nữ Nhật Bản. Các cô gái đua nhau mua loại vải vừa đẹp vừa rẻ này để may kimono. Cho đến nay, kimono meisen vẫn được ưa chuộng.

Vào tháng 3/2012, một chương trình biểu diễn thời trang kimono meisen đã được tổ chức ở Tokyo. Sau 100 năm ra đời, vải meisen một lần nữa được tôn vinh vì những đóng góp của nó cho lịch sử phát triển của trang phục truyền thống. Kimono tượng trưng cho sự sáng tạo, óc thẫm mỹ và kỹ năng của người thợ thủ công xứ sở hoa anh đào.


Thanh Tâm
THVL


Xem thêm:

Kimono (http://japanest.com/forum/showthread.php/332)
Lịch sử _cấu tạo của kimono (http://japanest.com/forum/showthread.php/11001)
Nghề làm kimono ở Nhật Bản đang ngày càng mai một? (http://japanest.com/forum/showthread.php/42103)
Người Nhật mặc kimono mấy lần trong đời? (http://japanest.com/forum/showthread.php/40876)
Sức sống từ "Kimono cách tân" (http://japanest.com/forum/showthread.php/13822)
Cách mặc Kimono (http://japanest.com/forum/showthread.php/6634)
Cầu kỳ và lộng lẫy Kimono Nhật Bản (http://japanest.com/forum/showthread.php/54068)
Số phận của Kimono trong cuộc sống hiện đại Nhật Bản (http://japanest.com/forum/showthread.php/56505)