PDA

View Full Version : Thư tịch chữ Hán tại Nhật Bản



Mùa Thu Màu Xám
17-07-2012, 08:25 PM
Trước thế kỷ thứ IX, về phương diện ngôn ngữ, Nhật Bản vẫn ở trong tình trạng “ngôn văn phân ly” (tiếng nói và chữ viết chưa thống nhất với nhau). Nghĩa là ở thời đó, người Nhật Bản vẫn nói ngôn ngữ cổ xưa bản địa, nhưng họ chưa có một hệ thống ngôn ngữ riêng để ghi lại tiếng nói của mình.

Vào khoảng thế kỷ thứ IV (TCN), có một số cư dân Trung Quốc xuyên qua bán đảo Triều Tiên và Đông Hải di cư đến Nhật Bản. Trong lịch sử nhân loại học Nhật Bản, người ta gọi người Trung Quốc di cư đến Nhật Bản trong khoảng thời gian bảy tám trăm năm, từ thế kỷ thứ IV (TCN) đến thế kỷ thứ III, là “Tần Hán độ lai nhân” (gọi tắt là Người Tần Hán), còn những lưu dân Trung Quốc di cư đến Nhật Bản trong giai đoạn từ sau thế kỷ thứ III là “Tân Hán nhân” (người Hán mới). “Người Tần Hán” và “Người Hán mới” chính là một bộ phận tổ tiên của dân tộc Nhật Bản ngày nay. Khi người Hoa di cư đến đảo quốc Nhật Bản, họ mang theo mình cả những kỹ thuật sản xuất và Hán tự, Hán văn sang xứ sở hoa anh đào.

Do sự xuất hiện của một số lượng khá đông đảo những “người Tần Hán” và “người Hán mới” như vậy, cho nên ở Nhật Bản đã hình thành lớp người sử dụng chữ Hán và sáng tác bằng Hán văn. Có thể nói rằng lớp người này là giai tầng trí thức sớm nhất của dân tộc Nhật. Ngôn ngữ mà người Nhật cổ sử dụng vẫn là tiếng Nhật, nhưng đã được ghi lại bằng chữ Hán. Chính vì vậy, những thư tịch đầu tiên của Nhật Bản cũng đều được viết bằng Hán tự. Tài liệu cổ xưa nhất mà người Nhật Bản hiện còn lưu giữ được là Uy quốc vương Vũ trí Tống Thiệu đế biểu. Đây là “quốc thư” của quốc vương Nhật Bản đương thời gửi cho Tống Thuận đế của Trung Quốc thời Nam Triều (thế kỷ V) nói về tình hình chính trị và quân sự Nhật Bản lúc đó. Bức thư này được viết bằng Hán văn và sử dụng thể biền ngẫu của Trung Quốc. Vì vậy, trong lịch sử phát triển văn hoá Nhật Bản, trước khi người Nhật sáng tạo ra chữ viết riêng, thì ở nước Nhật đã hình thành một hệ thống văn hoá thư tịch bằng chữ Hán, và người Nhật gọi đó là “hệ thống văn học Hán”. Ví dụ bộ tuyển tập văn học đầu tiên của Nhật Bản là Hoài phong tập, đây là thi tập được hợp thành từ hơn 120 bài thơ chữ Hán của 60 tác giả người Nhật. Hệ thống “văn học Hán” trong văn hoá Nhật Bản ấy đã chứng minh quan hệ gắn bó về văn hoá giữa hai nước Trung Quốc và Nhật Bản có từ thời xa xưa (…).

Căn cứ vào những ghi chép trong các sử sách hiện còn lưu giữ được, thì các thư tịch chữ Hán được truyền đến Nhật Bản sớm nhất là vào “năm thứ 16 thời thiên hoàng Ứng Thần”. Cuốn sách tối cổ của Nhật Bản hiện còn là Cổ sự ký viết: “Thiên hoàng Ứng Thần mệnh lệnh cho nước Paeckche (Bách Tế/Triều Tiên) nếu có người hiền thì hãy dâng lên. Người được dâng lên theo lệnh thiên hoàng có tên là Wani (Hoà Nhĩ Cát Sư) cùng với 10 quyển Luận ngữ, 1 quyển Thiên tự văn, tổng cộng là 11 quyển”. Mà thiên hoàng Ứng Thần là một vị quốc vương trong truyền thuyết của Nhật Bản, không có niên đại xác thực, theo sự suy tính của nhà sử học Nhật Bản quyền uy Inoue Mitsuharu thì, thời gian được ghi lại ở đây ước chừng vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ IV TCN, tương đương với cuối thời Nam Bắc Triều và đầu thời Tuỳ Đường bên Trung Quốc. Tên chữ Hán của nhân vật Wani này là Vương Nhân, tuy ông được cho là người Paeckche đến đảo quốc Nhật Bản, nhưng theo sự suy đoán của tôi, Vương Nhân có khả năng là người tộc Hán di cư đến bán đảo Triều Tiên, hay chí ít, ông cũng là một hậu duệ của người Hán sống ở Triều Tiên. Chính Vương Nhân là người đầu tiên đem Luận ngữ và Thiên tự văn của Trung Quốc đến Nhật Bản.

Bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ III TCN, những người Ainu (Proto-Japanes) đã dần dần bị dồn về phương Bắc, họ phát triển sản xuất trên cơ sở canh tác nông nghiệp (trồng lúa) và sử dụng đồ sắt, chuẩn bị thành lập một quốc gia cổ đại. Trong quá trình này, nhu cầu bức thiết của những người cầm quyền là phải có những nguyên tắc chính trị để lập quốc trị dân. Trong khi đó, học thuyết Nho gia đã rất phát triển và lý luận chính trị của nó đã nhanh chóng được người Nhật Bản chú ý. Chính vì thế, Luận ngữ là sự lựa chọn đầu tiên trong số các thư tịch được truyền vào Nhật Bản. Thiên tự văn cũng được đưa vào Nhật để đáp ứng nhu cầu học tập chữ Hán, Hán văn và văn hoá Trung Quốc; đây cũng là yêu cầu cơ bản nhất của giai cấp thống trị Nhật Bản. Từ đó về sau, thư tịch Trung Quốc truyền vào Nhật Bản ào ạt. Và lúc này, Phật giáo cũng bắt đầu thâm nhập đất Nhật, hơn nữa, những kinh điển Phật giáo truyền vào Nhật Bản đương thời cũng đều được viết bằng chữ Hán. Đó là những ngọn nguồn cơ bản nhất nuôi dưỡng văn hoá và tư tưởng tinh thần của tầng lớp trí thức Nhật Bản cổ đại.

Nhật Bản cổ đại, bắt đầu từ thời Thiên hoàng, người ta đã rất chú ý đến việc đọc và học tập các kinh điển, thư tịch của Trung Quốc. Sau khi nhà nước cổ đại Nhật Bản được kiến lập, chính phủ đã nhanh chóng tổ chức cơ cấu các: Hoằng văn viện, Thái chính quan văn điện, Nhà đại học, Điện hiệu thư, Thư viện… sưu tập và gìn giữ các thư tịch chữ Hán. Ví dụ “Thư viện” lúc đó là văn khố của hoàng gia, qua mấy lần đổi tên, ngày nay nó được gọi là “Cung nội sảnh thư lăng bộ” (viết tắt là Sảnh thư). Sảnh thư được xây dựng vào năm 701, đến nay đã hơn 1.300 năm tuổi, hiện tại nó vẫn là nơi cất giữ thư tịch Trung Quốc cổ xưa nhất của Nhật Bản. Cho đến nay, người ta vẫn chưa xác định được số lượng sách vở trong văn khố hoàng gia này là bao nhiêu. Theo sự điều tra của chúng tôi, số Hán tịch trong Sảnh thư này gồm có: 6 loại tả bản thời Đường, 72 loại san bản thời Tống, 1 bộ san bản kinh Đại tạng được viết trên 6.263 thiếp lụa thời Tống, 69 loại san bản và 5 loại tả bản thời Nguyên, 970 loại san bản và 1 san bản kinh Đạo tàng viết trên 4.115 thiếp lụa thời Minh. Ngoài ra, Sảnh thư này còn có khoảng một trăm loại thư tịch cổ chữ Hán thời Koryo của Triều Tiên và các tả bản viết bằng chữ Hán của chính người Nhật Bản từ thời Nara đến thời Edo, cùng với các bản khắc in chữ Hán từ thời Ngũ Sơn về sau. Nhưng đây không phải là toàn bộ, vì có một số tàng thư của hoàng gia vẫn còn đang nằm rải rác trong các hoàng thất, số thư tịch này, hiện chúng tôi vẫn chưa được thấy.

Số thư tịch Trung Quốc phong phú và quý giá được sưu tập và lưu giữ trong văn khố hoàng gia trong 1.300 năm ấy, quả thực là hiếm thấy trên thế giới. Rất nhiều Thiên hoàng Nhật Bản đã tìm hiểu văn hoá Trung Quốc qua những thư tịch đó, nó cũng có tác dụng quan trọng đối với văn hoá và đạo đức người Nhật Bản cổ xưa.

Hãy lấy thế kỷ thứ IX làm ví dụ. Năm 814, thiên hoàng Tha Nga (Saga) lên ngôi và trong khoảng thời gian không đầy bốn năm, ông đã ra sắc lệnh biên soạn hai tập thơ chữ Hán là Lăng Vân tập và Văn hoa tú lệ tập. Năm 827, thiên hoàng Hưởng Hoà lại ra sắc lệnh biên soạn tập thơ văn chữ Hán Kinh quốc tập. Trong lịch sử văn hoá Nhật Bản, ba tập sách này được gọi là Sắc lệnh tam tập, toàn bộ nội dung trong đó đều viết bằng chữ Hán. Năm 833, thiên hoàng Nhân Minh lại mở lớp nghiên cứu bộ Quần thư trị yếu của Nguỵ Trưng (thời Đường, Trung Quốc) soạn trong cung đình. Năm 855, thiên hoàng Văn Đức ra sắc lệnh soạn Tục Nhật Bản hậu ký bằng Hán văn. Năm 860, thiên hoàng Thanh Hoà ra sắc lệnh phổ biến sách Hiếu chú (do Đường Huyền tông chú thích) ra toàn Nhật Bản. Năm 879, thiên hoàng Dương Thành ra sắc lệnh biên soạn bộ ký sự cung đình đầu tiên của Nhật Bản: Văn Đức thực lục, mô phỏng theo thể thực lục của Trung Quốc. Năm 892, thiên hoàng Vũ Đa ra sắc lệnh soạn tiếp bộ Văn Đức thực lục, lại lệnh soạn tiếp bộ Tam đại thực lục theo thể thực lục của Trung Quốc. Trong khoảng thời gian một trăm năm này, bảy đời thiên hoàng đều đọc thư tịch chữ Hán và viết bằng Hán văn, xem đó là nhiệm vụ cấp thiết trong việc xây dựng văn hoá quốc gia Nhật Bản.

Cho đến nay, mục lục thư tịch chữ Hán hoàn chỉnh nhất của Nhật Bản hiện còn giữ được là Bản triều kiến tại thư mục lục, sau này người ta còn gọi là Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục do Đại học đầu (tương đương hiệu trưởng trường Thái học) đương thời là Fujiwara Suketsugi biên soạn vào thế kỷ thứ IX dựa trên những thư tịch quan phương. Thư mục này bao gồm các sách vở chữ Hán của Nhật Bản và các nước khác, gồm 1.568 bộ (17.209 quyển). Số điển tịch này tương đương với 50% số điển tịch thời Tuỳ và tương đương với 51.2% số điển tịch thời Đường của Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ IX, mà một quốc gia có đến một nửa số sách vở được ấn hành là của một quốc gia khác, thì đây quả thực là điều hết sức đáng kinh ngạc, là chuyện độc nhất vô nhị trong lịch sử văn hoá nhân loại đương thời.

Quý tộc thời cổ Nhật Bản là tầng lớp nắm bắt chữ Hán và văn hoá Hán sớm nhất. Mà ở xã hội cổ đại Nhật Bản, là thời kỳ văn hoá quý tộc chiếm vị trí chủ lưu. Các quý tộc và phần tử trí thức thời kỳ này, bao gồm trong đó cả hoàng thất, đều lấy văn minh Trung Quốc làm tiêu chuẩn, và họ rất quý trọng các sách vở chữ Hán.

Đương thời, trong tập Trì đình ký (năm 982) của học giả trứ danh Yoshi no Yashutane từng miêu tả thú vui trong ngày của ông như sau: “Sau khi dùng cơm, vào thư phòng, mở sách ra, gặp hiền nhân xưa. Thấy Hán Văn đế là chúa thời khác mà biết tiết kiệm an dân, thấy Bạch Cư Dị là bậc thầy nhà Đường ở thời khác mà giỏi thơ ca và quy y Phật pháp, thấy Trúc lâm thất hiền thời Tấn là bằng hữu thời khác, tuy thân ở nơi triều chính, mà chí ở lâm tuyền. Ta gặp được hiền chúa, hiền sư, hiền hữu, một ngày mà có ba cuộc tao ngộ, vậy là cuộc đời có ba niềm vui”.

Đây là một đoạn miêu tả rất điển hình, nó đã thể hiện quan niệm của trí thức quý tộc Nhật Bản thời Heian đối với văn hoá Trung Quốc như thế nào. Chính vì tầm quan trọng của thư tịch Trung Quốc như vậy, cho nên người Nhật đã tìm nhiều con đường để có được Hán tịch. Mà chủ yếu nhất trong các con đường ấy là dựa vào những trí thức Nhật Bản đến Trung Quốc du học. Những người này khi sang Trung Quốc, họ sưu tầm rất nhiều thư tịch chữ Hán, sau đó đem về Nhật.

Đến đầu thế kỷ XI, nữ sĩ Nhật Bản Murashaki Shikibu đã sáng tác tiểu thuyết trường thiên Truyện chàng Genji (Nguyên thị vật ngữ), đây được xem là bộ tiểu thuyết tả thực sớm nhất trên thế giới. Trong bộ tiểu thuyết với 152 tình tiết phát triển truyện này, Murashaki đã dẫn dụng tới 131 đoạn văn trong thư tịch Trung Quốc. Điều này chứng tỏ rằng ở Nhật Bản thời đó, Hán tịch đã được phổ biến rộng rãi. Hơn nữa, thư tịch chữ Hán còn thâm nhập vào quan niệm văn hoá của các trí thức Nhật Bản, trở thành điểm tựa quan trọng không thể thiếu trong tư duy của họ.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XII, quyền lực chính trị ở Nhật đi vào tình trạng đa nguyên. Lúc này, các võ sĩ trở thành chủ thể quyền lực, đứng đầu là các Tướng quân (Shôgun). Các tập đoàn này chiến đấu tranh giành quyền lực với nhau hơn 400 năm, người ta thường gọi đây là “Thời Chiến Quốc” trong lịch sử Nhật Bản. Ở Nhật Bản trước Trung thế kỷ, thư tịch chữ Hán chủ yếu nằm trong tay của quý tộc cung đình và tầng lớp trí thức. Nhưng từ thời Trung thế kỷ trở đi, tầng lớp võ sĩ nổi lên và nhiệm vụ của họ lúc này là thâu đoạt quyền lực trong tay của các đại thần của triều đình. Sử Nhật Bản đã gọi tập đoàn cung đình (bao gồm cả tầng lớp quan liêu và trí thức) là “Công gia”, và gọi các tập đoàn võ sĩ do các Shôgun đứng đầu là “Vũ gia”. Trong quá trình vươn lên, “Vũ gia” cố gắng tìm kiếm một loại hình thái tinh thần phù hợp với tình hình đời sống và trạng thái tâm lý của họ. Hay nói một cách đơn giản, vì họ luôn đứng giữa sự sống và cái chết (vì họ là các võ sĩ, chiến binh – ND), cho nên các võ sĩ rất cần một điểm tựa về tinh thần. Mà đối với những tông phái Phật giáo như Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Mật tông… thì từ sự tín ngưỡng đến thành Phật, các tín đồ phải trải qua một quá trình tu luyện rất dài lâu, phải khổ công nghiên cứu các Phật điển uyên áo, rồi còn phải tham gia các Pháp hội phức tạp khác, do vậy, con đường này rất không thích hợp với họ. Trong khi đó, Thiền tông đang phát triển mạnh ở Trung Quốc với khẩu hiệu “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” (Vứt bỏ giới đao, lập tức thành Phật). Thứ giáo nghĩa đơn giản, rõ ràng và con đường đắc đạo tốc thành mà Thiền tông rao giảng, đã thu hút được sự chú ý và cảm tình sâu sắc của các Shôgun cũng như Samurai Nhật Bản. Và điều quan trọng hơn nữa là, trong quá trình tranh đoạt quyền lực chính trị, các Shôgun và Samurai cũng muốn nhanh chóng nắm lấy quyền lực tôn giáo. Khi đó, Phật giáo nguyên hữu là một trong những thế lực của phái “Công gia”, cho nên phái “Vũ gia” muốn lấy Thiền tông làm ngọn cờ tín ngưỡng để đối kháng với phái “Công gia”.

Bởi được sự ủng hộ của tầng lớp Shôgun và Samurai, nên Thiền tông ở Nhật Bản đã có những bước phát triển lớn lao. Đương thời, các tăng lữ Nhật Bản sang Trung Quốc học Phật pháp, nghiên cứu giáo lý Thiền tông được gọi là “Nhập Tống tăng”, “Nhập Nguyên tăng”.

Pháp lý của Thiền tông Trung Quốc đương thời có sự khác biệt rất xa so với các tông phái Phật giáo ngoại truyền khác, nó lại còn có quan hệ với cả Nho học. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, gặp sự đối kháng của Nho học, hai hệ thống tư tưởng lớn này về cơ bản như “thuỷ hoả bất tương dung” (nước – lửa không dung nhau) cùng tồn tại trong một xã hội. Song, Phật học lúc đó đã thay đổi và lấy Thiền tông làm chủ lưu, Nho học lúc ấy cũng thay đổi, biến thành “Tống học”. Từ đó, Nho – Phật tương bổ cho nhau, những tăng lữ sang Trung Quốc du học đương thời, vừa học Phật lý, lại kiêm luôn cả ngoại học (tức Tống học, lấy học thuyết Trình – Chu làm hạt nhân). Khi các tăng lữ này đem pháp lý Thiền tông về nước, đồng thời họ cũng đem về cả những trước tác tân Nho Tống học của Trung Quốc.

Năm 1211, Nhật Bản tăng là Shunjo từ Trung Quốc quay về nước, ông từng học Thiền tham định ở Kính Sơn (Hàng Châu, Trung Quốc). Shunjo đem về hơn 1200 quyển Phật điển, 919 quyển phi Phật điển – cái này nhà Phật gọi là “ngoại điển Hán tịch”. Trong số các “ngoại điển” đó, có Tứ thư tập chú của Chu Hy. Hơn ba mươi năm sau, năm 1247, một người Nhật Bản là Makiko đã trích lấy phần Luận ngữ tập chú trong bộ Tứ thư tập chú của Chu Hy do Shunjo đem về Nhật, và tiến hành khắc in (bản gỗ). Đây là bản khắc in phi kinh Phật đầu tiên ở Nhật và có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn hoá Nhật Bản.

Năm 1241, Thánh Nhất quốc sư của Nhật Bản là Viên Nhĩ sang du học Trung Quốc và trở về nước cùng với hàng nghìn quyển kinh văn và thư tịch Trung Quốc. Trong số đó có Hối Am tập chú, Mạnh Tử, Hối Am đại học, Hối Am trung dung hoặc vấn của Chu Hy; Lã thị gia điếm độc thi ký của Lã Tổ Khiêm; Xuân Thu giải của Hồ Văn Định. Những thư tịch mà quốc sư Thánh Nhất mang về, hiện một số đã thất lạc, nhưng có một bộ phận được bảo tồn cho đến tận ngày nay, ví dụ như Lã thị gia điếm độc thi ký hiện được lưu giữ trong Sảnh thư, Lạc thiện lục và Lịch đại địa lý chỉ chưởng đồ được lưu giữ trong văn khố Đông Dương, Sưu thần bí lãm được lưu giữ ở thư viện Thiên Lý, Trung dung thuyết và Thái bình ngự lãm được lưu giữ ở chùa Đông Phúc (Đông Đô).

Thời này, các tăng lữ Thiền tông Trung Quốc và Nhật Bản đã có sự giao lưu qua lại giữa hai nước. Đó là con đường chủ yếu để thư tịch chữ Hán từ Trung Quốc được đưa sang Nhật Bản. Đến giữa thế kỷ XV, năm 1464, sư Thanh Khải trụ trì chùa Kiến Nhân của Nhật Bản nhận lệnh của tướng quân Ashikaga Yoshihisa sang Trung Quốc đề xuất với triều đình nhà Minh một bảng kê những nhu yếu về tiền bạc và thư tịch. Nội dung bảng kê xin sách ấy như sau:

“Thư tịch đồng tiền, ngưỡng chi thượng quốc, kỳ lai cửu hỹ. Kim cầu nhị vật, phục hy thượng đạt, dĩ mãn sở dục. Thư mục kiến ư tả phương:

- Giáo thừa pháp số - toàn bộ.

- Tam bảo cảm ứng lục - toàn bộ.

- Tân thoái lục - toàn bộ.

- Bắc Đường thư sao - toàn bộ.

- Thố viên sách - toàn bộ.

- Sử vận - toàn bộ.

- Ca thi áp vận - toàn bộ.

- Hà Trai tập - toàn bộ.

- Tuần Trai nhàn lãm - toàn bộ.

- Thạch Hồ tập - toàn bộ.

- Huy chủ lục - toàn bộ, phụ “Hậu lục” thập nhất quyển tính tam quyển khai “Dư lục” nhất quyển.

- Lão học am bút ký - toàn bộ.

- Bách xuyên học hải - toàn bộ”.

Đây là một bảng kê thư tịch với số lượng rất lớn, chỉ riêng bộ Bách xuyên học hải đã bao gồm hơn một trăm loại điển tịch Trung Quốc, song triều đình nhà Minh vẫn đáp ứng yêu cầu đó, tặng toàn bộ số thư tịch trong bảng kê cho sư Thanh Khải đem về Nhật. Tương truyền, trên đường trở về, không may hoà thượng Thanh Khải gặp hải tặc nên toàn bộ số điển tịch đó đã bị mất. Triều Minh sau khi nghe tin ấy, lại lập tức chiếu theo bản kê, tặng lại một lần nữa.

Các Shôgun và Samurai Nhật Bản thời Trung thế, tuy sát phạt nhau ở chiến trường một cách ác liệt, nhưng họ lại rất chú ý đến việc truyền nhập và bảo tồn các thư tịch đến từ Trung Quốc.

Vào thế kỷ XIII, họ Hojo nổi lên nắm quyền. Năm 1275, sau khi người con thứ năm của Hojo Yoshitoki là Hojo Yasutoki được phong làm lãnh chúa, đã chuyển cư đến Lục Phố (nay là khu Kim Trạch, thành phố Hoành Tân), xây dựng một văn khố cất giữ thư tịch trong một ngôi chùa Thiền tông. Văn khố này có một vị trí cực kỳ quan trọng trong lịch sử văn hoá Nhật Bản thời Trung thế kỷ, nổi tiếng cho đến tận ngày nay với tên “Văn khố Kim Trạch”. Văn khố Kim Trạch lưu giữ được rất nhiều thư tịch chữ Hán quý giá, ví dụ như bộ Quần thư trị yếu 50 quyển do Nguỵ Trưng thời Đường soạn. Bộ sách này ở Trung Quốc đã mất vào thời Tống, trong khi nó được các tăng nhân Nhật Bản thời Kamakura chép tay và được lưu giữ trong văn khố Kim Trạch; sau đó, vào năm 1616, tướng quân Tokugawa Ieyasu mạc phủ Edo Nhật Bản đã cho khắc in bản chép tay này. Bản Quần thư trị yếu ở Trung Quốc hiện nay chính là được nhập từ bản in ấy từ Nhật Bản, bản Âu Dương Văn công tập gồm 153 quyển in ở Cát Châu thời Tống Ninh Tông bên Trung Quốc ban đầu cũng được lưu giữ ở văn khố Kim Trạch, sau đó chuyển sang thư viện Thiên Lý và được người Nhật xem là “Nhật Bản quốc bảo”.

Các văn khố Hán tịch do các Shôgun xây dựng thời kỳ này không chỉ có Kim Trạch, từ thế kỷ XV, còn có trường Ashikaga (Túc Lợi Học Hiệu) rất nổi tiếng, sau thời Minh Trị Duy Tân, trường này đổi tên thành Túc Lợi Học Hiệu Di Tích Đồ Thư Quán. Học hiệu này được tướng quân Quan Đông là Ue Norizane xây dựng vào năm 1439, do hoà thượng trụ trì chùa Viên Giang thời Kamakura là Khoái Nguyên quản lý. Có lúc học sinh của trường lên đến 3000 người về đây nghiên cứu, tìm hiểu các Hán điển như: Tứ thư, Ngũ kinh, Sử ký, Văn tuyển… Nơi đây cũng lưu giữ nhiều thư tịch Trung Quốc quý, ví dụ như bộ Chu Dịch chú sớ khắc in thời Tống hiện nay vẫn còn, bộ sách này vốn nằm trong tàng thư của gia đình thi nhân trứ danh Lục Du thời Tống, trong đó có bút tích 13 đoạn ghi chép của con trai Lục Du là Lục Tử Duật, đây thực sự là một bộ thư tịch vô giá. Xét về lịch sử khắc in các bản “chú sớ” kinh điển của Nho gia thì bộ Chu Dịch chú sớ này cũng là một trong số các bản khắc gỗ sớm nhất, hiện nay, không chỉ ở Nhật Bản, mà ngay cả Trung Quốc cũng không có bản thứ hai. Năm 1955, bộ “Chu Dịch chú sớ” này đã được người Nhật xếp vào “Nhật Bản quốc bảo”. Những Hán tịch mà trường Ashikaga đương thời lưu giữ được và hiện còn đến nay được xem là “quốc bảo của Nhật Bản” còn có các bộ: Thượng thư chính nghĩa, Lễ ký chính nghĩa, Lục gia bản văn tuyển.

Mức độ phổ biến của các thư tịch chữ Hán Trung Quốc ở Nhật Bản theo các thời đại ngày càng sâu rộng. Ở thời cổ Nhật Bản, tức trước thế kỷ XII, thư tịch chữ Hán chủ yếu phổ biến trong cung đình và tầng lớp trí thức quý tộc. Sang thời kỳ Trung đại, tức từ thế kỷ XII đến giữa thế kỷ XVI, thư tịch chữ Hán chủ yếu phổ biến trong tầng lớp tăng lữ Thiền tông và các Shôgun “Vũ gia”. Đến cuối thế kỷ XVI, sự phổ biến của thư tịch chữ Hán đã lan rộng đến cả tầng lớp thứ dân. Điều này cũng có mối tương quan với hình thế phát triển chính trị, quân sự và kinh tế của Nhật Bản đương thời. Năm 1603, sau hơn 400 năm chiến tranh giữa các tập đoàn, cuối cùng đại tướng quân Tokugawa Ieyasu đã nắm được toàn quyền và xây dựng chính quyền mạc phủ tại Edo. Bắt đầu từ đó, lịch sử Nhật Bản gọi đây là “thời đại Edo”.

Trong quá trình thực hiện bá nghiệp của mình, Tokugawa Ieyasu vẫn dùng chiến lược song trùng “võ công văn trị”. Ông rất xem trọng việc sưu tầm, tìm hiểu cũng như in ấn các thư tịch chữ Hán, đó được xem là biện pháp quan trọng trong việc thực thi chiến lược văn hoá. Năm 1602, tại đình Phú Sĩ ở Edo, ông đã cho xây dựng một văn khố lấy tên là “Văn khố Hồng Diệp Sơn”. Thư tịch chữ Hán trong văn khố này, một nguồn là từ các tăng lữ, một nguồn khác là thông qua các thương nhân Trung Quốc, và số thư tịch chữ Hán trong văn khố này chiếm vị trí hàng đầu Nhật Bản về số lượng. Đến thời Minh Trị duy tân, “Văn khố Phong Sơn” được đổi tên thành “Văn khố Nội Các” theo mệnh lệnh của quan Thái chính. Sau chiến tranh, Quốc hội Nhật Bản đã quyết nghị đổi tên Văn khố Nội Các thành “Quốc lập công văn thư quán đệ nhất bộ”. Trong cuộc chiến năm 1945 với quân Mỹ, một số Hán tịch trong văn khố này đã bị tổn thất, hiện nay số thư tịch chữ Hán mà văn khố này hiện còn lưu giữ được gồm có hơn 185.000 quyển, trong đó có 29 loại bản khắc in thời Tống, 75 loại bản khắc in thời Nguyên, 11 loại bản chép tay thời Minh và 4.678 loại bản khắc in thời Minh không thấy trong Toàn quốc thiện bản thư mục của Trung Quốc xuất bản gần đây. Đây thực sự là một kho tàng quý giá và hết sức quan trọng về các bản khắc in thời Minh.

Thời Edo, Nhật Bản tồn tại ba phương diện lực lượng xã hội, và chúng đều rất cần thông qua Hán tịch để được bồi dưỡng thêm về văn hoá Trung Quốc.

Thứ nhất là khi Nho học truyền vào Nhật Bản đã trải qua gần ngàn năm phát triển, đến thời kỳ này đã trở thành Tống học và được mạc phủ Tokugawa xác nhận là triết học quan phương, nó đã trở thành hình thái ý thức thống trị chuyên chế. Sau đó, hệ thống tư tưởng này phân hoá thành những trường phái mang tính chống đối nhau, như “học phái Dương Minh”, “học phái Cổ nghĩa”, “học phái Cổ văn từ”, “học phái Chiết trung”. Trong khi đó, một hệ thống tư tưởng khác ngoài Tống nho cũng hình thành và lớn mạnh, đó là hệ thống tư tưởng phản Hán học với “học phái Quốc học”. Sự đấu tranh giữa các hệ thống tư tưởng và trường phái triết học này buộc các bên đều phải tinh thông văn hoá Trung Quốc, do đó, nhu cầu về thư tịch chữ Hán lại càng gia tăng mạnh mẽ.

Thứ hai là trong thời kỳ này, thế lực của người Machi đã tương đối mạnh. “Người Machi” là tên gọi chỉ tầng lớp kinh doanh thương nghiệp ở Nhật Bản thời cận đại. Đồng thời với sự phát triển sức mạnh kinh tế của mình, các Machi cũng hướng đến đời sống tinh thần, ví dụ các hình thức văn nghệ “giả danh thảo tử”, “tranh lưu ly”. Họ cũng rất thích thú với các loại hình văn nghệ phổ thông phát triển từ thời Minh của Trung Quốc. Theo những sử liệu hiện có cho biết, trong khoảng thời gian từ 1673 đến 1676, Nhị khắc anh hùng phổ (tức Thuỷ hử truyện và Tam quốc diễn nghĩa) đã được truyền vào Nhật Bản. Hai bộ tác phẩm này vẫn còn được lưu giữ ở văn khố Linh Mộc tại Đại học Đông Đô Nhật Bản ngày nay. Đến giữa thế kỷ XVIII, văn nghệ bạch thoại Minh Thanh Trung Quốc đã phổ biến rộng rãi từ thành thị đến nông thôn Nhật Bản bởi chúng hợp với sở thích của người Nhật. Và ở Nhật Bản đã xuất hiện các bản “súc biên” (rút gọn) các tác phẩm thông tục của Trung Quốc, ví dụ năm 1743, Okado từ việc tuyển chọn bốn tập trong bộ Tỉnh thế hằng ngôn của Trung Quốc, đã soạn ra quyển Tiểu thuyết tinh ngôn ; năm 1753, cũng từ bộ Tỉnh thế hằng ngôn, Okado lại soạn ra hai quyển, và từ bộ Cảnh thế thông ngôn, Dụ thế minh ngôn, Okado tuyển thành một quyển, đề là Tiểu thuyết kỳ ngôn. Năm 1755, từ bộ Phách án kinh kỳ, Nhất Trai đã chọn ra ba quyển; từ bộ Cảnh thế thông ngôn, ông chọn ra hai quyển với tên Tiểu thuyết tuý ngôn. Ba bộ “súc biên” đoản thiên Minh Thanh Trung Quốc này được người Nhật gọi là Nhật Bản tam ngôn. Trong cuốn Tiểu thuyết tự vựng đương thời đã ghi lại 159 tác phẩm bạch thoại Trung Quốc được phổ biến ở Nhật Bản, đây là hiện tượng trước đó chưa từng có.

Thứ ba là, từ năm 1651, đại sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên (Long Kỳ) cùng hàng chục đồ đệ sang Nhật Bản, ban đầu ở Nagasaki, sau đến Edo, và cuối cùng dựng chùa Vạn Phúc ở thành phố Vũ Trị thuộc Đông Đô Nhật Bản, chính thức khai tông Huỳnh Bá tại Nhật. Được sự ủng hộ của tướng quân mạc phủ, cho nên tông phái Huỳnh Bá đã nhanh chóng mở rộng ra toàn quốc, sư Ẩn Nguyên chủ trương tụng kinh bằng âm Hán, về tổ chức pháp hội và phương thức tu hành cũng theo phong cách nhà Minh, các đệ tử đời sau cũng theo tôn chỉ ấy, không thay đổi phép tắc của sư tổ, thành ra, ở Nhật Bản thời ấy “tiếng nhà Đường cơ hồ vang khắp nước” (Đường âm sở văn, cơ biến ư toàn quốc). Các tăng lữ thuộc tông Huỳnh Bá đương thời lại nỗ lực học Hán âm và Hán văn, hơn nữa vì không có sách giáo khoa, cho nên phần lớn họ dùng các đoản thiên bạch thoại thời Minh Thanh Trung Quốc làm tài liệu để luyện văn và luyện âm. Điều này cũng thúc đẩy cho việc một số lượng lớn tác phẩm văn nghệ phổ thông của Trung Quốc được đưa vào Nhật Bản. Ngày nay, trong một số chùa miếu ở Nhật Bản còn giữ được những tác phẩm Trung Quốc thời Minh Thanh rất quý giá, ví dụ như bản Kim Bình Mai từ thoại gồm 100 hồi hiện còn được lưu giữ trong chùa Luân Vương ở núi Nhật Quang của Nhật Bản, bản này thuộc hệ thống Vạn Lịch bản thời Minh, nó cùng với độc bản khác hiện được lưu giữ trong bảo tàng quốc gia Nhật Bản, được gọi là Kim Bình Mai từ thoại song bích. Bản Phách án kinh kỳ in lần đầu tiên gồm 40 hồi do Thượng Hữu Đường ấn hành thời Minh là bản duy nhất còn lại hiện nay cũng nằm trong thư khố chùa Luân Vương. Điều này cũng đã giải mối hoài nghi của một số người cho rằng chùa miếu là nơi thanh quy giới luật, sao lại có thể giấu những tác phẩm diễm tình như Kim Bình Mai và Phách án kinh kỳ như vậy.

Vậy, những Hán tịch phong phú đa dạng ấy đã vào Nhật Bản như thế nào?

Hiện nay thư viện quốc lập Quốc hội Nhật Bản còn lưu giữ được tập hồ sơ hải quan Nagasaki ghi lại bảng kê chi tiết những thư tịch chữ Hán mà thương thuyền Trung Quốc chở vào Nhật Bản trong quãng thời gian 111 năm, từ 1693 đến 1803. Theo hồ sơ này, chúng tôi đã biết được rằng, trong 111 năm, có 43 lượt thương thuyền đã qua lại giữa Nagasaki và cửa cảng Nhật Bản để buôn bán sách vở với 4.781 loại Hán tịch. Ngoài ra, ở hải vực tây nam Nhật Bản đương thời, dưới sự bao che của chư hầu các địa phương, còn tồn tại hiện tượng buôn lậu một cách phổ biến, trong đó, sách vở Trung Quốc cũng là một mặt hàng quan trọng được buôn bán lậu.

Có thể nói, trong thời gian 250 năm thời đại Edo, một số lượng lớn thư tịch chữ Hán đã được đưa vào Nhật Bản thông qua con đường chủ yếu là mậu dịch giữa hai nước Nhật – Trung. Và các Hán tịch đã góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng văn hoá tinh thần cho người Nhật Bản thời kỳ này.

Dưới đây là một tài liệu quý. Năm 1826, thương thuyền Trung Quốc hiệu “Đắc Thái” chở thư tịch chữ Hán đến Nhật Bản, giữa chủ thuyền Chu Liễu Kiều và Noda có một đoạn “bút đàm” thú vị như sau:

“Noda: Quý bang tải tịch chi đa, sử nhân hữu vọng dương chi thán. Thị dĩ dư khả độc giả độc chi, bất khả độc, bất cảm độc, cố bất miễn hạ trường chi kiến đa hĩ.

Chu Liễu Kiều: Ngã bang điển tịch tuy phức, nhĩ niên dĩ lai trang chí Trường Khi thập chi thất bát. Quý bang nhân dĩ quốc tự dịch chi, bất hoạn bất tận thông đặc”.

(Noda: Sách vở quý quốc chở đến đây nhiều như vậy, khiến người ta không khỏi than rằng chúng tôi vọng ngoại. Nhưng những thư tịch này, như tôi biết chữ Hán thì mới có thể đọc được, còn những người không biết chữ Hán thì không thể đọc, cho nên nước tôi vẫn còn nhiều người ít hiểu biết.

Chu Liễu Kiều: Nước tôi sách vở tuy nhiều, nhưng thời gian gần đây đã mang đến Nagasaki bảy tám phần. Người quý quốc dùng chữ quốc ngữ mà dịch các thư tịch chữ Hán của chúng tôi ra, thì lo gì chuyện không mấy người hiểu tường tận).

Phía trên khi nói đến Bản triều kiến tại thư mục lục do học giả Nhật Bản là Fujiwara Suketsugi biên soạn, thì những thư tịch chữ Hán được ghi trong ấy tính ra tương đương với 50% xuất bản phẩm thời Tuỳ và tương đương với 51.2% xuất bản phẩm thời Đường. Đến đầu thế kỷ XIX, số điển tịch Trung Quốc được đưa vào Nhật Bản lên đến khoảng 70-80% số xuất bản phẩm của Trung Quốc đương thời, mà theo tính toán của chúng tôi, vào thế kỷ XIX, số thư tịch Trung Quốc ấn hành có những 10 vạn loại, từ đó mà suy ra số lượng sách vở Trung Quốc được nhập sang Nhật Bản thì không thể không khiến những người nghiên cứu đương thời như chúng ta phải giật mình và cảm khái.



LƯU HỒNG SƠN dịch từ nguyên tác: Trung Quốc văn hoá tại Nhật Bản, trong sách “Trung ngoại văn hoá giao lưu”. (Viên Hành Bái chủ biên). Tam Liên thư điếm xuất bản, HongKong, 1999.

Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2008
nguồn (http://baotangnhanhoc.org/vi/index.php?option=com_content&view=article&id=335:th-tch-ch-han-ti-nht-bn&catid=29:bai-nghien-cu-lch-s&Itemid=37)