Chữ Hán, hay còn gọi là chữ Nho, chữ Trung Quốc, là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Trung Quốc có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.
Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này, tác giả Trần Hoàng Mai đã có bài viết “Chữ Hán trong ngôn ngữ Nhật Bản và Hàn Quốc: những nét riêng và chung, nội dung chính như sau:
1. Nguồn gốc của chữ Hán.
Chữ Hán bắt nguồn ở Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, ngày nay chữ Hán ở Trung Quốc có xu thế được giản lược hơn và ở Trung Quốc vẫn sử dụng hai loại chữ là chữ chính thể và chữ giản thể.
2. Cấu tạo chữ Hán.
Chữ Hán được hình thành theo những cách chính bao gồm chữ tượng hình, chữ chỉ sự hay chữ biểu ý, chữ hội ý, chữ hình thanh, chữ chuyển chú và chữ giả tá. Với việc giản thể hóa chữ Hán, vì phải thêm các bộ thủ giản thể nên số bộ thủ tăng lên thành 227 bộ. Tuy nhiên, một số cách ghép bộ thủ đã làm giảm số bộ thủ.
3. Chữ Hán trong ngôn ngữ Nhật Bản.
Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên. Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji, đây là một trong năm bộ ký tự được dùng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật hiện nay. Chữ Hán trong tiếng Nhật được viết theo hai cách là Kyujitai và Shinjitai. Một ký tự Kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ khác nhau và cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau tùy cách nhìn nhận của người đọc.
4. Chữ Hán trong ngôn ngữ Hàn Quốc.
Chữ Hán dùng ở Hàn Quốc được gọi là Hán tự văn Hàn. Chữ Hán du nhập vào Hàn Quốc từ khá lâu, khoảng thời kỳ đồ sắt. Tiếng Hán là ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiếng Hán trở nên phức tạp, cho nên các học giả người Hàn đã tìm cách cải biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Hán.
5. Những nét chung và riêng của chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Hàn.
Nét chung của chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Hàn là đều có nguồn gốc từ chữ Hán của Trung Quốc, được sử dụng song song với hệ chữ viết khác trong cùng ngôn ngữ Hàn Quốc và Nhật Bản và là những hình biểu ý. Một điểm chung nữa là khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó. Điểm khác nhau của chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Hàn đó là một chữ Hán trong tiếng Hàn tương ứng với một âm tiết. Vì thế chữ Hangul cũng không thể kéo dài ra được giống như chữ Hiragana trong tiếng Nhật. Trong khi đó, chữ Hán sử dụng trong tiếng Nhật thì một chữ Hán thường mang đa âm tiết. Khác với chữ Hán trong tiếng Hàn, chữ Hán dùng trong tiếng Nhật có nhiều cách đọc khác nhau. Bên cạnh đó, chữ Hán chính thể và dị thể của hai ngôn ngữ cũng có sự khác nhau.
Như vậy, bài viết đã mang lại cho bạn đọc cái nhìn sâu sắc hơn về những điểm tương đồng và khác biệt của chữ Hán trong ngôn ngữ Nhật Bản và Hàn Quốc. Bài viết là tài liệu rất hữu ích cho bạn đọc khi nghiên cứu về các ngôn ngữ nói chung và chữ Hán nói riêng, đặc biệt là chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Hàn.
Tác giả: Trần Hoàng Mai
Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á








Trả Lời Với Trích Dẫn


Bookmarks