4. Tính bắt trước ngẫu nhiên từ hoạt động sản xuất canh tác nông nghiệp là cơ sở hình thành kiểu tư duy trong điều hành quản lý của người Nhật.
Tìm hiểu đặc điểm này có thể giải thích điều mà cho đến nay người ta vẫn buộc tội Nhật Bản là "một kẻ giỏi bắt chước" kỹ thuật của người khác.
Trên thực tế, các công ty Nhật bị người ta chỉ trích về việc thường xuyên copy (sao chép) các công nghệ và các sản phẩm nước ngoài giống như một người nông dân canh tác trên cánh đồng lúa bắt trước một cách rất tự nhiên các kỹ thuật canh tác thành công của người hàng xóm. Việc săn bắt là một hoạt động mang tính đơn lẻ, và bí quyết săn bắt thú có thể được giữ kín. Cây lúa lớn lên trên những cánh đồng được thuỷ lợi hoá, và chúng được phô diễn một cách tự nhiên và công khai trên những cánh đồng của cộng đồng làng xã ở nông thôn Nhật Bản. Những cải tiến trong hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể nói rộng cho tất cả mọi người trong cộng đồng. Chúng không thể bị che dấu hay bị sao chép lại như một tài sản thuộc sở hữu trí tuệ của ai đó. Ví dụ, quan sát tính đồng thuận của một nhóm khách du lịch người Nhật khi gọi thực đơn bữa ăn ở một khách sạn là xuất phát từ tính bốc đồng giống nhau để sao chép y nguyên nội dung thực đơn của người bên cạnh mình. Ngược lại, không giống như người Nhật, ví dụ ngay cả người Hàn Quốc được cho là con cháu của những người sinh sống theo phương thức săn bắn muông thú thì việc gọi thực đơn cho mỗi cá nhân hoàn toàn khác nhau. Đây là một tâm lý của người đi săn, ưa thích sự khác biệt và độc lập.
Đối chiếu với thực tiễn ngày nay, thông qua việc thực hiện cuộc điều tra tâm lý giới doanh gia được tiến hành cả ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào năm 1993, giáo sư Hayashi là một nhà nghiên cứu quản lý và khoa học hệ thống của Trường Đại học Tổng hợp Tokyo, Nhật Bản đã đưa ra một số kết luận như sau.
Trong điều tra khảo sát, nhóm nghiên cứu của ông sử dụng việc đặt câu hỏi tình huống có các lời đáp lựa chọn:
- Tình huống thứ nhất: Theo một cách suy nghĩ, việc khai thác các kết quả thuộc về các nỗ lực và sự sáng tạo của một người hay một công ty khác - mà tên được gán cho hiện tượng này là "đi tàu không mất tiền" hay "cưỡi ngựa miễn phí", hay "đi nhờ" (free ride), là một tập quán kinh doanh khôn ngoan, có thể chấp nhận được trong một chừng mực hành động của bạn không làm tổn hại về mặt tài chính cho các đối tác khác.
- Tình huống thứ hai: Tuy nhiên, có người lại mang cách suy nghĩ khác, đây là một sự không đúng đắn để sử dụng các tài sản của một công ty khác mà không hề quan tâm tới việc liệu hành động này có làm họ tổn hại về mặt tài chính?
Theo bạn, nên lựa chọn ý kiến nào?
Kết quả phản ánh quan niệm "cưỡi ngựa miễn phí" là một tập quán kinh doanh có thể chấp nhận được trong đó Nhật Bản là 66,5% đồng ý cho câu hỏi tình huống thứ nhất và Hàn Quốc là 54,2% cho câu hỏi thứ hai(3).
Điều thú vị là tỷ lệ này đều đạt được quá 2/ 3, một con số xác xuất được đảm bảo tốt. Con số này cũng phản ánh số người ủng hộ quan điểm "free ride" ở Nhật Bản cao hơn so với Hàn Quốc. Theo độ tuổi, những người Nhật Bản trẻ tuổi nhất (từ 20 đến 29) tán thành quan niệm này lên tới 75,6%. Lớp người trung niên cũng nhanh chóng tỏ rõ sự tán đồng quan điểm trên. Măc dầu so với người Nhật Bản, có nhiều người Hàn Quốc hơn nói rằng họ chống đối lại kiểu "đi nhờ", nhưng trên thực tế việc sao chép nhãn mác, các logo và các sản phẩm bắt chước lại là một vấn đề xẩy ra nghiêm trọng ở Hàn Quốc hơn là ở Nhật Bản. Các nguyên tắc đạo lý thông thường và thực tiễn hoạt động kinh doanh thường là trái ngược nhau. Trong thế giới phương Tây, việc gọi là "đi nhờ" được xem là một hành vi phi đạo đức, tỷ lệ chấp thuận quan điểm này là rất thấp.
Tuy nhiên, từ thời kỳ văn hoá lúa gạo cổ xưa cho đến tận bây giờ, ở Nhật Bản đối với việc bắt chước nhanh chóng các kỹ sảo của một người láng giềng vẫn được xem xét là một đức tính tốt và tất nhiên còn một khoảng cách rất xa với khái niệm được cho là phi đạo đức trong kinh doanh.
5. Sáng tạo và thích ứng hoàn cảnh: di sản kế thừa từ hoạt động sản xuất lúa gạo làm nền tảng cho tính linh hoạt khi ra quyết định của người quản lý.
Thực tế lịch sử cho thấy với những vùng khí hậu nhiệt đới có các điều kiện nguồn nước phong phú, ở đó những người nông dân có thể dễ dàng sử dụng các loại giống cây trồng và phương pháp sản xuất giản đơn từ cổ xưa truyền lại. Do vậy họ ít quan tâm tới việc đổi mới điều kiện và phương thức sản xuất. Tuy nhiên, Nhật Bản lại là một trường hợp điển hình của sự khắc nghiệt do điều kiện tự nhiên mang lại. Việc sản xuất lúa gạo của những người nông dân Nhật Bản từ xa xưa đã trở nên rất phức tạp và đòi hỏi phải có một sự cần cù, sáng tạo ghê gớm nhằm chiến thắng lại sự khắc nghiệt của tự nhiên. Nhờ vậy, các kỹ thuật và điều kiện sản xuất nông nghiệp của họ đã trở nên tinh sảo sau nhiều thế kỷ trôi qua.
Ngày nay, những người nông dân đã thực sự cải tạo nâng cấp những cánh đồng của họ đến mức khiến ai đó nghĩ là Nhật Bản đã từng có một điều kiện sản xuất thuận lợi hơn bất cứ nơi nào khác. Trong công việc đồng áng người nông dân Nhật Bản vẫn chứng tỏ tính cần cù và cẩn thận vốn có của cha ông họ, được ví như bầu tâm huyết của những người thợ thủ công dành vào một tác phẩm gốm sứ nghệ thuật vậy. Các gia đình nông dân Nhật Bản vẫn làm việc chăm chỉ cả trong các mùa nghỉ nhàn rỗi. Sự cần cù nhẫn nại của lao động thủ công kết hợp với các thao tác sử dụng máy móc nông nghiệp thuần thục và nhẹ nhàng đã chứng tỏ một ngành nông nghiệp phát triển của Nhật Bản. Tuy nhiên, quá trình cơ giới hoá nông nghiệp được lan rộng kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai và thực sự đã lấy đi của người nông dân Nhật Bản nguyên tắc lao động cơ bắp (chân tay) theo kiểu cổ truyền trước kia, song đặc tính cần cù và sáng tạo vốn có vẫn được duy trì.
6. Sự mờ nhạt của cá nhân chỉ huy trong tổ chức sản xuất nông nghiệp cổ xưa nhưng đề cao kiểu lãnh đạo tập thể.
Lịch sử ở Nhật Bản đã chứng minh cho thấy việc tổ chức các công việc đồng áng không yêu cầu cần phải có một người lãnh đạo giỏi giang và có quyền uy như một thủ lĩnh trong các bộ tộc của những người đi săn bắn du mục. Vì các hoạt động sản xuất được lặp đi lặp lại một cách đều đặn năm này qua năm khác trên cùng một mảnh ruộng của mỗi một hộ gia đình đơn lẻ. Và phần nhiều là người ta tuân theo cùng những phương pháp canh tác giống nhau có tính phổ biến của làng hay ở vùng đó. Toàn bộ các hoạt động sản xuất ở nông thôn Nhật Bản có thể được điều hành thông qua một sự đồng thuận ý chí của làng mà không cần có một sự lãnh đạo cá nhân. Khi vụ mùa đã được thu hoạch hoàn tất, cả cộng đồng dân cư của làng sẽ tiến hành các hoạt động hội hè ngày mùa ngay tại các ngôi đền của làng dưới sự điều phối của một ban tổ chức chung.Thậm chí ngày nay ở Nhật Bản, một nền nông nghiệp hoàn toàn được cơ giới hoá, ở mỗi thôn làng, cộng đồng dân cư vẫn tổ chức các hội mùa để bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với sự sùng kính trời, đất, và các con sông người đã cung cấp cho họ một sự no đủ.v.v. Nhìn ở khía cạnh tổ chức quản lý nó là cơ sở cho việc hình thành sự lãnh đạo nhóm, được hiểu là một trong các đặc trưng trong quản lý Nhật Bản sau này.
III. Sự hoà trộn tính truyền thống với kiểu quản lý của phương Tây.
Chúng ta đều biết rằng, do điều kiện địa lý đặc thù, đất nước quốc đảo này có sự biệt lập tương đối với vùng đất lục địa Á - Âu rộng lớn. Những người Nhật Bản thủa đầu sống trong những ngôi làng nhỏ bé, được tổ chức xung quanh các hoạt động mang tính hợp tác trong việc canh tác trồng trọt lúa gạo. Xuất xứ ban đầu của chủ nghĩa nhóm kiểu người Nhật Bản hiện thời là bắt nguồn từ một sự cố kết làng xã - tiếng Nhật gọi là mura, một cộng đồng tự cố kết bên trong mà mỗi một cá thể là một thành viên của nó và tất cả các thành viên này đều cơ bản là bình đẳng như nhau. Những thành viên này đã làm việc cật lực với một tinh thần chuyên cần năm này qua năm khác để thực hiện những nhiệm vụ không có gì thay đổi của cộng đồng làng xã đó.
Tuy nhiên, những ảnh hưởng từ vùng lục địa Á - Âu rộng lớn đã tràn vào quần đảo này giống như một sự thẩm thấu qua mũi tiêm. Chúng được diễn tả một cách chậm chạp, một cách từ từ, và từng giọt từng giọt một. Qua nhiều thế kỷ, xã hội Nhật Bản đã hình thành nên một chất kháng thể đối với các ảnh hưởng bên ngoài đó. Người ta nói rằng một nền văn hoá "khoẻ khoắn" như vậy đã buộc những cái từ nước ngoài du nhập vào bên trong nó trở thành cái có hình dạng hoàn toàn mới và thích nghi ngay với hoàn cảnh Nhật Bản. Do đó nó không bao giờ đánh mất đi cái bản sắc của riêng mình.
Từ thời cổ xa xưa, các cư dân Nhật Bản đã có một thói quen treo các mành làm bằng tre trước các cửa ra vào trong các ngôi nhà nơi họ sinh sống, tiếng Nhật gọi là misu. Điều đó nhằm mục đích là tạo cho gia chủ có thể quan sát thấy những thứ bên ngoài cửa nhà mình trong khi đó nếu từ bên ngoài lại không thể nhìn được bên trong đang làm gì. Tương tự như vậy, những thế hệ người Nhật trước đây đã dõi theo sự phát triển ở thế giới bên ngoài từ đằng sau bức màn phủ bởi sự biệt lập với thế giới bên ngoài và đã đón nhận hoặc đã sao chép những thứ của các nền văn minh khác. Có thể nói rằng đó là luồng chảy một chiều với nghĩa văn hoá nước ngoài đi vào trong xã hội Nhật nhưng trái lại không có gì đi ra cả. Nhật Bản vẫn giữ một sự huyền bí, thậm chí đến cái tên người ta đặt cho quốc đảo này cũng không rõ ràng, ví dụ như người nước ngoài đầu tiên là Marco Polo đã gọi vùng đất này là Zipangu, Zipangii, Cyampagu, và Cimpagu.
Điều không phải tốn nhiều giấy mực để bàn cãi là Nhật Bản đã bệ nguyên xi các thể chế luật pháp và chính trị từ bên ngoài vào trong bức màn che của xã hội mình. Vào thế kỷ thứ 17, Chính phủ Hoàng gia Nhật đã đón nhận mô hình cấu trúc chính quyền và các đạo luật của triều đại nhà Thanh (Trung Hoa) áp dụng trong xã hội Nhật Bản, và đến cuối thế kỷ 19, Chính quyền Minh Trị đã một lần nữa lặp lại quá trình vay mượn kiểu này. Lần này là sự vay mượn mô hình kết cấu các thể chế quốc hội của châu âu. Sự vay mượn luôn được xem là có sự chọn lọc rất cao, trong đó các thể chế bên ngoài sẽ bị cải biến sao cho nó phù hợp với các nhu cầu thực tế của xã hội Nhật Bản đương thời. Chúng ta biết khi đó mặc dù người Nhật vẫn là nước Á Đông nhưng lại có các thể chế chính trị - xã hội tổ chức theo hệ thống quốc hội và dân chủ phương Tây.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các nhà lãnh đạo giới doanh thương Nhật Bản đã háo hức quay sang với Hoa Kỳ để tìm những thứ cần du nhập. Danh sách của những thứ đi vay mượn thì rất dài ví dụ như hệ thống phân công trong việc tổ chức công ty mà ở đó mỗi một bộ phận sản xuất một dây chuyền các sản phẩm riêng biệt; cơ cấu tổ chức theo mô hình ma trận toán học; các chiến lược cho các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài; các phương pháp xây dựng kế hoạch sản phẩm; việc kiểm soát chất lượng; các công cụ kỹ xảo marketing; hay ngay cả quan niệm về liên doanh vốn đầu tư v.v . Nhật Bản đã tìm thấy các mô hình đó ở Hoa Kỳ và đã sao chép chúng phải chăng với một ý thức nguyên xi?
Tuy nhiên, đã có một sự kiểm chứng về các mô hình ngoại lai cấy ghép trong xã hội Nhật Bản. Ví dụ như từ hệ thống đảng phái chính trị đến kiểu chủ nghĩa tư bản cổ phần tập trung. Chúng đều chỉ ra rằng các phiên bản của người Nhật là các phiên bản copy giả hiệu. Ngay cả đối với mô hình kết cấu các tổ chức công đoàn kiểu phương Tây khi du nhập vào Nhật Bản nó đã trở thành không phải là một tổ chức tập thể của những người cùng nghề hay các tổ chức công nghiệp theo chiều rộng mà nó là các cơ sở công đoàn dựa trên nền tảng của một doanh nghiệp, tựa như ở cấp độ công ty (tức là trong mỗi một gia đình "Ie" hoặc trong một tập đoàn doanh nghiệp).
Lưu ý rằng hệ thống nhân sự và tổ chức sản xuất theo dây chuyền của Hoa Kỳ đã bị buộc phải sửa đổi vì nó tạo ra cho con người lao động luôn nhàm chán với các hành động, thao tác giản đơn của họ và các chức năng tổ chức của nó được vận hành theo các đơn vị dây chuyền sản phẩm. Mặc dầu người Nhật đã nghiên cứu chiến lược quản lý và quá trình ra quyết định của Hoa Kỳ, nhưng Nhật Bản chấp nhận và du nhập thuật ngữ ấy để rồi mở rộng các nội dung quan niệm tới mức khi sử dụng chúng thì các ý nghĩa ban đầu của nó đã bị biến dạng đi rất nhiều. Người ta đã đi tới kết luận rằng hình thức sự vật vẫn được khoác lên nhưng bản chất của nó đã bị thay đổi. Nếu đặt nó theo quan điểm tích cực thì những mô hình nguyên mẫu đã bị biến dạng đi một cách khéo léo để đáp ứng với các đòi hỏi thực tế của địa phương. Một ví dụ có thể cho là nổi tiếng nhất về việc định hình lại các ý tưởng của người Mỹ sang các mô hình của người Nhật là vấn đề kiểm soát chất lượng sản phẩm - tiếng Anh gọi là quality control (QC). ở Nhật Bản, QC ban đầu có liên quan với hoạt động của một nhóm nhỏ tại nơi làm việc và rồi mở rộng phạm vi sang một phong trào kiểm soát chất lượng toàn bộ (TQC). Nó đã trở thành một chức năng không tách rời của việc sản xuất chế tạo, cuối cùng lan rộng tới các khu vực khác của nền kinh tế.
Các thủ thuật trong hoạt động marketing của Mỹ là một ví dụ khác chứng minh cho sự nhập khẩu "ăn liền" nhưng có sửa đổi được giới doanh nhân Nhật Bản thực hiện. Người ta còn nhớ rằng vào đầu những năm 1950, các chuyên gia người Mỹ đã được mời tới Nhật Bản để giảng dậy hoặc được thuê như là các cố vấn. Trước kia trong ngôn ngữ tiếng Nhật không có từ biểu đạt hoạt động "Marketing" cho mãi tận vài ba thập kỷ gần đây. Một trong những bài học được người Nhật nhập tâm tốt đã giúp một cách đáng kể cho sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đó là việc sản xuất các sản phẩm cho các đoạn thị trường. Các xe ô tô xuất khẩu đã đáp ứng được các đặc thù khác nhau phụ thuộc vào các nơi mà xe được đem tới bán, ví dụ xe ô tô có tay lái bên trái hay tay lái ở bên phải, và màu sơn của chúng hay việc chống lại các đặc điểm khí hậu khác nhau v.v.. cũng rất là đa dạng theo từng đoạn thị trường mà sản phẩm hướng tới. Lại một lần nữa chúng ta thấy chất xúc tác văn hoá Nhật Bản ở công việc "tiêu hoá" các ý tưởng của nước ngoài trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của người Nhật.
Văn hoá và các tính chất tổ chức trong quản lý của Nhật Bản không lớn lên đơn thuần bởi chất nội sinh. Trên thực tế, đã có sự giao thoa với các xã hội khác, nhưng các hình thức nguyên khai của "chất Nhật Bản" đã được bảo tồn. Nhiều câu hỏi đặt ra liệu Nhật Bản sẽ tiếp tục giữ lại các cách thức xử lý các sự việc theo kiểu độc đáo của riêng mình, tức là chỉ có "vào" mà không có "ra" được nữa hay không? Tìm câu trả lời thoả đáng cho vấn đề này sẽ cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo và đòi hỏi có nhiều thời gian hơn nữa để tiếp tục kiểm chứng các giả thuyết đưa ra ở trên.
Kết luận
Đối với mô hình quản lý Nhật Bản, qua nghiên từ các góc độ kinh tế, lịch sử và văn hoá khẳng định hoạt động sản xuất nông nghiệp từ xa xưa là cơ sở vật chất quan trọng hình thành nên các hành vi quản lý hiện đại sau này. Bên cạnh đó, các đặc trưng văn hoá và xã hội là nguồn gốc thứ hai tạo tính khác biệt của mô hình quản lý Nhật Bản so với các mô hình quản lý khác, ví dụ như của Mỹ và phương Tây (châu Âu). Sự ra đời của hoạt động quản lý trong doanh nghiệp Nhật Bản ngày nay được chứng minh bằng sự kết hợp của yếu tố nội sinh và ngoại sinh với một nguyên tắc hình thành nên một cái mới nhưng bản chất nội sinh không mất đi. Sự độc đáo trong quản lý doanh nghiệp Nhật Bản là sự độc đáo trong xử trí mối quan hệ giữa quản lý và lao động mà từ đó động lực làm tăng năng suất lao động được sản sinh ra.
---
Tài liệu tham khảo
1. Tanabe Hajime, "Rekishiteki Genjitsu- Historical reality", Tokyo, Iwanami Shoten, 1940.
2. Hidemasa Morikawa, "History of top Management in Japan- Managerial Enterprises and Family Enterprises", Oxford University Press, 2001.
3. Masahiko Aoki and Ronald Dore, "The Japanese Firm: Sources of competitive strength", Oxford University Press, 1994.
4. Tetsuo Abo, "Hybrid factory: the Japanese production system in the United States" Oxford University Press, 1994.
5. Magnus Blomstrom; Byron Gangnes and Sumner La Croix, "Japan' s new economy: Continuity and chang in the 21 century", Oxford University Press, 2002.
6. Nobuo Kawabe and Eisuke Daito, "Education and training in the development of modern corporations", University of Tokyo Press, 1993.
Ths. Phạm Quý Long
Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á
Lược trích từ tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Bookmarks