>
kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Ðề tài: Quan hệ của Nhật Bản và các nước

  1. #1
  2. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    eve_nguyen (11-02-2012), lynkloo (10-02-2012)

  3. #2
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN: THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG


    Ngày 21 tháng 9 năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử quan hệ hai nước. Trong suốt chặng đường 35 năm qua, với bao biến cố và sự kiện trong nước và quốc tế, quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia đ• vượt lên tất cả, đơm hoa kết trái, đóng góp vào hoà bình, ổn định và phát triển vì lợi ích của hai quốc gia, hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, bài viết này sẽ điểm lại một số thành tựu chủ yếu trong tiến trình xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị toàn diện giữa hai nước, những dấu mốc quan trọng trên con đường vươn tới một tầm cao mới như hiện nay.

    Trước hết, cần khẳng định rằng Việt Nam và Nhật Bản vốn có quan hệ từ khá lâu trong lịch sử. Hai nước không những có nhiều nét tương đồng về văn hóa, mà còn có quan hệ giao lưu văn hóa và thương mại rất sớm. Các quan hệ đó đ• từng chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ giữa Nhật Bản với Đông Nam á ở thế kỷ XVI và XVII. Đến đầu thế kỷ XX, Phong trào "Đông Du" của Việt Nam do Phan Bội Châu khởi xướng có thể được coi là một sự kiện quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời cận đại. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam, phong trào ủng hộ Việt Nam đ• dấy lên mạnh mẽ ở Nhật Bản. Những sự kiện này chứng tỏ rằng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản vốn có cội nguồn từ trong lịch sử và là nền tảng cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giữa hai nước hiện nay.

    Thứ hai, mặc dù có một quá trình lịch sử hàng trăm năm, song quan hệ giữa hai nước không phải lúc nào cũng thuận lợi, tốt đẹp, mà đ• trải qua những bước thăng trầm gắn liền với những biến cố và sự kiện trong mỗi quốc gia cũng như trong khu vực và trên thế giới. Năm 1973 là một mốc quan trọng mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, và từ đó đến năm 1978 đ• có những bước đi khởi đầu tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ giữa hai nước như: trao đổi Đại sứ quán, Nhật Bản cho vay và viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam,v.v... Nhưng quan hệ hai nước vừa mới ấm lên chưa được bao lâu đ• chuyển sang giai đoạn lạnh nhạt kéo dài 12 năm (1979 - 1991), các mặt hợp tác giao lưu tụt xuống mức thấp nhất sau khi Nhật Bản tuyên bố cắt viện trợ đối với Việt Nam. Năm 1992 đánh dấu một mốc quan trọng khác trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, mở đầu một giai đoạn mới (từ 1992 đến nay) trong đó quan hệ hai nước được thúc đẩy một cách tích cực nhất và phát triển nhanh nhất trong lịch sử bang giao hai nước.

    Thứ ba, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong hơn 3 thập kỷ qua phát triển mạnh nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Nh?t B?n là m?t trong nh?ng d?i tỏc kinh t? quan tr?ng hàng d?u c?a Vi?t Nam. Về mậu dịch, trong nhiều năm liền, Nhật Bản luôn là bạn hàng số một của Việt Nam, chỉ đến những năm gần đây mới tụt xuống vị trí thứ hai hoặc thứ ba sau Trung Quốc và Mỹ (Đồ thị 1). Tổng kim ngạch XNK của Việt Nam với Nhật Bản trong những năm gần đây đạt mức từ 6 đến 8 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch XNK của Việt Nam với tất cả các nơớc trên thế giới. Năm 2006, kim ngạch thương mại 2 nước đạt 9,9 tỷ USD tăng 16,8% so với năm 2005. Riêng 5 tháng đầu năm 2007 kim ngạch thương mại giữa 2 nước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm 2006. Hai bên đã đặt mục tiêu nâng tổng kim ngạch thương mại hai chiều lên 15 tỷ USD vào năm 2010. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản là thuỷ hải sản, dệt may, dầu thô, cáp điện, đồ gỗ... Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nhật Bản là cơ khí, sắt thép, điện tử, xe gắn máy, nguyên liệu dệt, da...

    Về tiến trình hợp tác kinh tế, Việt Nam và Nhật Bản đ• kết thúc giai đoạn nghiên cứu khả thi về Hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA) vào cuối tháng 4/2006 và đã bắt đầu vòng đám phán chính thức đầu tiên tại Tokyo tháng 1/2007, vòng đàm phán thứ 2 tại Hà Nội 26/3/2007, vòng đàm phán thứ 3 tại Tokyo - Nhật Bản ngày 04/6/2007, vòng đàm phán thứ 4 đ• diễn ra tại Hội An - Việt Nam từ 17-22/7/2007.

    Về đầu tư trực tiếp, tính đến tháng 12/2006, Nhật Bản đ• có 677 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 7,1 tỷ USD, đứng thứ ba trong số các nước và vùng l•nh thổ có vốn đầu tư tại Việt Nam (Sau Đài Loan và Singapore) (Đồ thị 2). Riêng năm 2006, tổng vốn đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam là 1,34 tỷ USD với 137 dự án cấp mới và 85 lượt tăng vốn. Hiện nay, hai bên đang tích cực triển khai giai đoạn 2 sáng kiến chung Việt - Nhật về cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam.

    Về viện trợ phát triển chính thức (ODA), Nhật Bản là nước tài trợ lớn nhất cho Việt Nam với tổng luỹ kế giai đoạn 1992-2005 đạt khoảng 11 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn lại khoảng 1,4 tỷ USD. Các chương trình viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam nhằm vào 5 lĩnh vực chính là: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào tạo và y tế; bảo vệ môi trường.

    ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đ• góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế thị trường. Những đóng góp đáng kể của ODA Nhật Bản bao gồm: Cung cấp nguồn tài chính quan trọng cho sự phát triển kinh tế của VN; Góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng và các chươơng trình phát triển kinh tế x• hội của VN; Góp phần phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thể chế và chuyển giao công nghệ, quản lý cho VN; góp phần thúc đẩy và tăng cơường quan hệ hợp tác kinh tế VN-NB và hợp tác trên các lĩnh vực khác. Một số công trình quan trọng sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản như: Các công trình giao thông quan trọng: Quốc lộ 1A, quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 18, các cầu và cảng lớn nhơư cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng, cầu Mỹ Thuận, cầu Tân Đệ, đươờng hầm qua đèo Hải Vân...; Hệ thống cấp thoát nơớc ở các thành phố lớn nhươ Hà Nội, TP HCM, Hải Dơương; Các bệnh viện lớn nhươ: Bệnh viện Chợ Rẫy TP HCM, bệnh viện Bạch Mai (HN); các trơường học từ cấp tiểu học đến đại học ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước...

    Thứ tư, trong quan hệ chính trị, nếu như ở các giai đoạn trước việc viếng thăm của quan chức cấp cao hai nước thường là hiếm hoi và thưa thớt, thì trong những năm gần đây các cuộc viếng thăm đó ngày càng trở nên thường xuyên và liên tục. Kể từ chuyến viếng thăm Nhật Bản của Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào tháng 3 năm 1993 đến nay, không có năm nào hai nước ngừng các chuyến viếng thăm lẫn nhau của các nhà l•nh đạo cấp cao của hai nước.

    Những cuộc viếng thăm lẫn nhau quan trọng của l•nh đạo cấp cao hai nước có thể đến như: Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam 5 lần (Murayama 8/1994, Hashimoto 1/1997, Obuchi 12/1998, Koizumi 4/2002, Shinzo Abe 11/2006). Hoàng tử Nhật Bản Akishino thăm Việt Nam tháng 6/1999. Về phía Việt Nam, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Nhật Bản năm 1995, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 10/2002, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Nhật Bản tháng 4/1993, Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Nhật Bản năm 1999 và sau đó thăm làm việc tại Nhật Bản vào các năm 2001, 4/2003, 12/2003, 6/2004 và tháng 7/2005. Tháng 10/2006, sau khi nhậm chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thăm chính thức Nhật Bản. Điều đáng nói là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là vị thủ tướng nước ngoài đầu tiên là khách mời của tân Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe. Tiếp theo, tháng 11/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thăm chính thức Nhật Bản với tư cách là nguyên thủ Nhà nước Việt Nam đầu tiên đến thăm Nhật Bản kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn đối với quan hệ hai nước, mở ra một thời kỳ phát triển mới cao hơn nữa của quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Nhật Bản.

    Sau các chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi (tháng 4/2002) và chuyến thăm Nhật Bản của Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh (tháng 10/2002), quan hệ giữa hai nước đã được nâng lên một nấc thang mới với tinh thần: cùng hành động, cùng tiến bước, thúc đẩy quan hệ - ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau”. Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững". Và, đặc biệt là sau chuyến thăm chính thức Nhật Bản tháng 10/2006 của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, quan hệ giữa hai nước đã được nâng lên một tầm cao mới với việc hướng tới xây dựng “d?i tỏc chi?n lu?c vỡ hũa bỡnh và ph?n vinh ? Châu Á".

    Việt Nam và Nhật Bản cũng đã tạo dựng cơ chế đối thoại ở nhiều cấp. Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao (từ 7/2004), Thứ trưởng Ngoại giao (từ 1993), hai bên đã xây dựng được cơ chế đối thoại kinh tế, an ninh và quốc phòng thường kỳ hàng năm. Trao đổi Ngoại giao - Quốc phòng cấp Vụ (từ 1/2001). Trao đổi tuỳ viên quân sự, mở Tổng lãnh sự quán ở TPHCM và Osaka (3/1997). Tháng 5/2007, hai bên thành lập ủy ban hợp tác Việt-Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch phiên họp đầu tiên do đoàn tổ chức nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản của PTT Bộ trưởng Phạm Gia Khiêm (22-26/5/2007).

    Nhật Bản đ• trao tặng Huân chương mặt trời mọc - Huân chương cao quý nhất của Nhật Bản cho nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 11/2006) và nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan (tháng 5/2007). Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OEDC giúp Việt Nam về kỹ thuật...); Hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế quan trọng, trong đó có Liên Hợp Quốc (LHQ).

    Thứ năm, trong lĩnh vực an ninh, giữa Việt Nam và Nhật Bản đ• xuất hiện những điểm chung về lợi ích chính trị là duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Đông á và coi an ninh quốc gia là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi an ninh khu vực và thế giới. Việt Nam và Nhật Bản đều có nhu cầu hợp tác về an ninh và đều thấy sự cần thiết phải đổi mới tư duy trong việc nhìn nhận và đánh giá các quan hệ quốc tế, phải tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt giữa hai nước và cố gắng tìm ra những điểm tương đồng nhằm đáp ứng được nhu cầu của mỗi nước. Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản phòng chống tội phạm xuyên quốc gia trong hơn một thập kỷ qua cũng là nét nổi bật đáng chú ý trong sự hợp tác về bảo đảm an ninh quốc gia của hai nước. Gần đây, hai nước đều nhận thấy sự cần thiết phải tiếp tục đối thoại song phương ở các cấp, đặc biệt là đối thoại chính trị sẽ giúp cho hai nước hiểu biết nhau hơn. Đồng thời, hai nước đ• và đang hợp tác chặt chẽ với nhau trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

    Thứ sáu, trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản cũng có những nét đáng chú ý. Chẳng hạn, giao lưu văn hóa giữa hai nước được thúc đẩy mạnh mẽ và đ• diễn ra với những hình thức rất phong phú, đa dạng như: trao đổi các đoàn nghệ thuật, chiếu phim, dịch và xuất bản truyện tranh và các tác phẩm văn hóa, v.v... Đặc biệt, những năm gần đây Chính phủ Nhật Bản đ• tích cực giúp Việt Nam trong việc bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống. Trong đó phải kể đến phố cổ Hội An, khu Thánh địa Mỹ Sơn... và gần đây nhất là kế hoạch bảo tồn khu di tích Hoàng Thành Thăng Long, Hà Nội
    Trong hơn 30 năm qua, sự quan tâm của người Nhật về Việt Nam ngày càng tăng, số người nghiên cứu Việt Nam và số người biết tiếng Việt ở Nhật Bản ngày càng nhiều, số lượng sách của người Nhật nghiên cứu về Việt Nam được xuất bản liên tục, trong đó có một số được lựa chọn dịch sang tiếng Việt. Ngược lại, sự quan tâm của người Việt Nam về Nhật Bản cũng ngày càng gia tăng, số người nghiên cứu Nhật Bản và số người biết tiếng Nhật ở Việt Nam ngày càng nhiều, số lượng sách của người Việt Nam nghiên cứu về Nhật Bản và số lượng sách của người nước ngoài viết về Nhật Bản được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt đ• tăng lên nhiều lần so với trước đây.

    Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hai nước Việt Nam và Nhật Bản đ• có truyền thống hợp tác từ Phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX, rồi đến nửa cuối của thế kỷ trước Nhật Bản đ• đào tạo cho Việt Nam hàng loạt các nhà khoa học. Số lượng sinh viên Việt Nam học tập ở Nhật Bản và số lượng sinh viên Nhật Bản học tập ở Việt Nam trong những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh. Có nhiều người cho rằng hiện nay đang xuất hiện một phòng trào Đông Du mới của Việt Nam.

    Ngoài ra, còn nhiều sự hợp tác giúp đỡ khác nữa của Nhật Bản đối với Việt Nam như sự hợp tác giúp đỡ trong việc xây dựng luật pháp, sự hợp tác và giúp đỡ trong việc phát triển khoa học và công nghệ, v.v... Nhưng có lẽ sự giúp đỡ trao đổi kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm thành công và chưa thành công của Nhật Bản là những bài học rất quý giá đối với Việt Nam.

    *
    * *

    Trên đây là những đặc trưng cũng như những dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 35 năm qua. Có thể khẳng định rằng những thành tựu đ• đạt được trong quan hệ giữa hai nước là rất to lớn và ngày càng phát triển theo chiều hướng tốt đẹp. Những năm đầu thế kỷ 21 này thực sự là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự vươn tới một tầm cao mới của quan hệ giữa hai nước. Có thể khẳng định rằng, triển vọng của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong tương lai là rất sáng sủa. Trong bối cảnh gia tăng hội nhập khu vực và toàn cầu hoá hiện nay, với tiềm năng phát triển của hai nước, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản nhất định sẽ phát triển hơn nữa về mọi mặt. Hiện nay vấn đề hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển đang là xu thế chủ đạo ở khu vực châu á - Thái Bình Dương. Đây chính là môi trường rất thuận lợi để Việt Nam và Nhật Bản tích cực tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Những bài học kinh nghiệm trong quan hệ trước đây giữa hai nước và đặc biệt là sự ổn định trong mỗi nước đang là những tiền đề quan trọng cho sự hợp tác lâu dài trong tương lai.

    ---

    Tài liệu tham khảo

    1. Trần Quang Minh - Ngô Xuân Bình (Chủ biên): Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại, và tương lai. NXB Khoa học x• hội, Hà Nội, 2005
    2. Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á (nhiều số)
    3. Bản tin Kinh tế, TTXVN (nhiều số).
    4. Tài liệu tham khảo, TTXVN (nhiều số)
    5. Thời báo Kinh tế Việt Nam (nhiều số).
    6. Báo Đầu tư (nhiều số).
    7. Website của Bộ Ngoại giao Nam http://www.mofa.gov.vn/
    8. Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam: http://www.mpi.gov.vn/
    9. Website của Bộ Thương mại Việt Nam: http://www1.mot.gov.vn/tktm/
    10. Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://www.gso.gov.vn/

    TS. Trần Quang Minh
    Phó Viện trưởng, Viện nghiên cứu Đông Bắc á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  4. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    bad_no001 (11-02-2012), lynkloo (10-02-2012)

  5. #3
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ VĂN HÓA VIỆT NAM – NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1993 ĐẾN NAY


    Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đến nay đã trải qua một chặng đường dài 35 năm. Trong thời gian này, với sự nỗ lực của cả hai quốc gia, mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đều đạt được những bước tiến nhất định. Tuy nhiên, có thể nói, mối quan hệ này chỉ thực sự khởi sắc trong vòng 15 năm trở lại đây, khi một số vấn đề quốc tế được giải quyết, Việt Nam đẩy mạnh công cuộc cải cách kinh tế và Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam.

    Quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản tuy không diễn ra sôi động như trong lĩnh vực kinh tế, nhưng tầm quan trọng của nó ngày càng được xác định rõ. Có thể thấy, quan hệ văn hóa giữa hai nước hiện nay chủ yếu diễn ra trong các lĩnh vực: Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển các hoạt động văn hóa, giáo dục; Giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước; Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và tiếng Việt Nam tại Nhật Bản; Trao đổi học thuật, phát triển ngành nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam và nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản và cuối cùng là Hoạt động tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.

    Bài viết này điểm lại các sự kiện chính trong quan hệ văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1993 đến nay, đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này.

    Viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa

    Viện trợ văn hóa không hoàn lại của Nhật Bản cho Việt Nam là một trong những chương trình quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ văn hóa giữa hai nước. Được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1983(1), với dự án cung cấp trang thiết bị và đồ dùng dạy tiếng Nhật cho trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, chương trình bị gián đoạn trong khoảng gần một thập kỷ vì những biến động không thuận lợi trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Đến đầu những năm 1990, chương trình được tiếp tục thực hiện hàng năm, với quy mô ngày một lớn. Tính đến nay, đã có trên 30(2) dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô lớn, tiêu biểu là các dự án viện trợ Nhạc cụ cho giàn nhạc giao hưởng, Thiết bị học tiếng Nhật, Thiết bị thể thao, Thiết bị làm phim hoạt hình, Cung cấp chương trình truyền hình cho Đài truyền hình Việt Nam, Thiết bị nhà chiếu hình vũ trụ, Thiết bị bảo tồn âm nhạc, múa truyền thống, Thiết bị bảo tồn thư tịch cổ… Cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình góp phần nâng cao hoạt động văn hóa, giáo dục tại Việt Nam, bên cạnh các “Dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô lớn”, còn có các “Dự án Viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô nhỏ” (trị giá dưới 10 triệu yên, tương đương khoảng 90.000 đô la Mỹ) được thực hiện khoảng vài dự án trong một năm, do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam trực tiếp tiến hành. Đối tượng của các dự án viện trợ này là chính quyền các địa phương, cơ quan học thuật, nghiên cứu, cơ quan văn hóa, cơ quan giáo dục bậc đại học và sau đại học, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phổ cập giáo dục bậc đại học và sau đại học… Các viện trợ chủ yếu là cung cấp các thiết bị sử dụng trực tiếp cho hoạt động văn hóa, hoạt động giáo dục đại học và sau đại học như các thiết bị học ngoại ngữ, nhạc cụ, phần mềm chương trình, thiết bị âm thanh, ánh sáng, thiết bị nghe nhìn, thiết bị liên quan đến bảo tồn di tích… Các dự án xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường tiểu học Việt Nam cũng nằm trong khuôn khổ chương trình này. Có thể kể tên một số dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại tiêu biểu như: Năm 1992, viện trợ thiết bị bảo quản tư liệu cho Viện Hán Nôm; Năm 1993, mua sắm thiết bị dạy tiếng Nhật trị giá 45,1 triệu yên cho trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay đổi tên thành Đại học Hà Nội); Năm 1996 cung cấp 500 triệu yên cho Nhạc viện Hà Nội và 450 triệu yên cho Nhạc viện TP HCM trong dự án phát triển lĩnh vực âm nhạc; Năm 2003 hỗ trợ cho Bảo tàng dân tộc học Việt Nam trên 64 ngàn USD trong “Dự án ghi âm ghi hình di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số Việt Nam”; Năm 2005 ký quyết định viện trợ cho Đài truyền hình Việt Nam với mức 200 ngàn USD nhằm cung cấp cho Đài truyền hình phần mềm của hàng trăm chương trình phim tài liệu giới thiệu về xã hội hiện đại và khoa học kỹ thuật của Nhật Bản, các chương trình giáo dục khoa học, toán học, khoa học tự nhiên của Nhật Bản; Năm 2008 mới đây, ký kết viện trợ 67 ngàn USD cho Đại học Sư phạm TP HCM nhằm trang bị phòng nghe nhìn đa phương tiện phục vụ cho khóa học tiếng Nhật hệ chính quy đầu tiên sẽ được tổ chức trong kỳ tuyển sinh năm nay. Ngoài ra, trong 5 năm (1994-1999), Chính phủ Nhật Bản đã viện trợ 9,5 tỉ yên (tương đương khoảng gần 950 ngàn USD) để xây dựng 195 trường tiểu học ở các tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai, và từ năm 2001 trở đi, mỗi năm viện trợ cho hàng chục trường tiểu học Việt Nam nâng cấp và xây mới cơ sở vật chất của trường, mỗi dự án có giá trị trung bình từ 80 ngàn đến 90 ngàn USD(3).

    Cuối cùng, việc bảo tồn, trùng tu tài sản văn hóa hữu hình - vô hình tại Việt Nam cũng là một trong những lĩnh vực được phía Nhật Bản quan tâm hợp tác, tài trợ. Cho đến nay, các dự án quan trọng đã được thực hiện là: (1) Trùng tu Cung điện Huế (Ngọ Môn), (2) Hỗ trợ bảo tồn Nhã nhạc Việt Nam, (3) Hỗ trợ một phần trùng tu Cầu Nhật Bản tại Hội An, (4) Hỗ trợ Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, (5) Cử chuyên gia bảo tồn thư tịch cổ, (6) Hoàn thiện môi trường bảo tồn di tích Mỹ Sơn, (7) Hỗ trợ thiết bị bảo tồn Di tích Hoàng thành Thăng Long.

    Giao lưu văn hóa, nghệ thuật

    Giao lưu văn hóa, nghệ thuật là hoạt động nổi bật nhất trong quan hệ văn hóa giữa hai nước những năm gần đây. Kể từ đầu thập niên 1990, khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản được hâm nóng lại thì hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa hai nước càng phát triển hơn bao giờ hết. Năm 1991, lần đầu tiên sau 20 năm bị gián đoạn, phía Nhật Bản đã đưa một đoàn ca múa hiện đại sang biểu diễn tại Việt Nam trong chuyến đi 10 ngày. Tháng 9 cùng năm, phái đoàn gồm 76 người của Hội giao lưu văn hóa Nhật - Việt đã sang ký kết hợp tác với Cục hợp tác Quốc tế - Bộ Văn hóa Việt Nam. Năm 1992 - 1993, nhiều đoàn nghệ thuật Nhật Bản sang Việt Nam trình diễn các bộ môn văn hóa truyền thống như cắm hoa, thả diều… Phía Việt Nam cũng hợp tác với các nghệ sĩ Nhật Bản nhằm giới thiệu nghệ thuật múa rối nước cổ truyền của dân tộc. Năm 1994, Đoàn nghệ nhân biểu diễn trà đạo gồm 35 người của trường phái Chado Urasenke Nhật Bản đã sang Việt Nam biểu diễn. Cũng trong những năm này, nhà xuất bản tranh truyện thiếu nhi hàng đầu Nhật Bản Doshinsha đã hợp tác với Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu với độc giả nhỏ tuổi Việt Nam bộ truyện tranh manga nổi tiếng “Doremon”. Nhà xuất bản này cũng kết hợp với Cung thiếu nhi Hà Nội, Nhà văn hóa Hải Phòng và một số trường mẫu giáo thuộc các tỉnh phía Bắc giới thiệu bộ môn nghệ thuật Kamishibai (kịch giấy) Nhật Bản trong giáo dục mầm non. Như vậy, có thể nói, đầu những năm 1990, hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật diễn ra khá sôi nổi, tuy còn mang tính một chiều, phần lớn là các bộ môn văn hóa, nghệ thuật Nhật Bản được giới thiệu cho người Việt Nam. Việc giới thiệu văn hóa Việt Nam cho người Nhật Bản mới chỉ bó hẹp trong những chuyến công du ngắn hạn của các nhà văn hóa - nghệ thuật Việt Nam khi tham gia một số hoạt động văn hóa quốc tế tại Nhật Bản như: Liên hoan âm nhạc (1989), Liên hoan phim Tokyo (1989.1991, 1992), Biểu diễn đàn bầu Việt Nam (1992, 1993), Triển lãm sách quốc tế tại Tokyo (1992, 1994)… và hầu hết các hoạt động này được phía Nhật Bản đài thọ.

    Sau năm 1993 - năm Kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, các hoạt động giới thiệu văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản diễn ra sôi nổi, đã có những buổi biểu diễn lớn, những cuộc triển lãm, hội thảo… về văn hóa Việt Nam được người Nhật Bản đón nhận. Năm 1994, sau khi UNESCO tổ chức buổi tọa đàm quốc tế về phát huy di sản văn hóa phi vật thể vùng Huế, Nhật Bản đã đưa ra sang kiến và tài trợ cho Kế hoạch phục hồi âm nhạc cung đình Việt Nam, đặc biệt là Nhã nhạc. Năm 1995, nhận lời mời của phía Nhật Bản, giáo sư Hà Văn Cầu và một số nhà nghiên cứu Nghệ thuật Chèo, cùng Đoàn chèo Thái Bình đã sang biểu diễn 4 đêm tại sân khấu Tokyo.

    Cũng trong đợt biểu diễn này, Hội thảo khoa học về Chèo đã được tổ chức tại Nhật Bản, thu hút sự tham gia của hơn 200 nhà nghiên cứu người Nhật. Năm 1998, Công ty may Ngân An lên đường sang Nhật Bản tham dự Triển lãm hàng thủ công châu Á, giới thiệu với nhân dân Nhật Bản bộ trang phục truyền thống “áo dài” của phụ nữ Việt Nam.
    Từ năm 2000 trở đi đánh dấu một bước tiến lớn trong quan hệ văn hóa giữa hai nước, khi các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật song phương nở rộ. Năm 2001, Festival Văn hóa - Du lịch Việt Nam được tổ chức tại nhiều thành phố của Nhật Bản, thu hút sự chú ý của người dân nước này. Năm 2002, để đáp lễ, Nhật Bản gửi Đoàn nghệ thuật Kuna Uka tham dự biểu diễn tại Festival Huế, bên cạnh các đoàn nghệ thuật của Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia…

    Năm 2003, nhân kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Nhật và năm giao lưu ASEAN - Nhật Bản, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản lần đầu tiên được tổ chức tại Hội An với sự tham gia của hàng ngàn người dân. Cuối năm 2003, buổi trình diễn thời trang lớn chưa từng có của Việt Nam tại Nhật Bản - “Cuộc hiến dâng ở đền thiêng” diễn ra tại ngôi đền cổ Kyomizu - Kyoto, đã giới thiệu với hàng trăm vị khách tiếng tăm Nhật Bản và hàng ngàn du khách quốc tế 60 bộ trang phục áo dài, kết hợp vẻ đẹp văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản.

    Năm 2004, đoàn Nghệ thuật dân gian Nhật Bản tham dự Liên hoan văn hóa nghệ thuật dân gian Việt Nam tổ chức tại TP.HCM. Cũng trong năm này, một đoàn làm phim của hãng truyền hình Asahi Nhật Bản đã đến Việt Nam trong vòng 1 tháng, từ 18-4 đến 18-5-2004 để thực hiện bộ phim truyền hình dài 10 tập (tổng cộng 300 phút) mang tên “Việt Nam mến yêu”. Đây là bộ phim truyền hình dài hơi nhất của Nhật quay tại Việt Nam, “khám phá những nét hấp dẫn của thiên nhiên, phong cảnh, sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời, sức hấp dẫn của nền ẩm thực cùng sự hồn nhiên, đôn hậu, thân thiện của người Việt”(4).

    Năm 2005, chính phủ Nhật Bản cử Phái đoàn giao lưu văn hóa đến Hà Nội và TP.HCM. Chuyến viếng thăm của Phái đoàn lần này được thực hiện dựa trên đề xuất của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Phan Văn Khải vào cuối năm 2004 tại Hà Nội, trên quan điểm phát triển sâu rộng mối quan hệ giữa hai nước vốn trước đây chỉ tập trung vào quan hệ kinh tế, trong khi tại Việt Nam sự quan tâm đến Nhật Bản ngày càng cao. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam, Phái đoàn đã soạn thảo và trình Chính phủ hai nước Bản kiến nghị mang tính trung và dài hạn về các vấn đề và phương sách trong giao lưu Nhật - Việt.

    Năm 2006 được coi là Năm xúc tiến giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản với sự kiện Festival Nhật Bản 2006 được tổ chức tại Hà Nội và TP.HCM với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Phía Nhật Bản có tới 800 người tham gia trong các chương trình Giao lưu thể thao, Giao lưu văn hóa -nghệ thuật, Giao lưu nhạc nhẹ và Giao lưu kinh tế. Năm 2007, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được tổ chức tại Hội An với các màn trình diễn nghệ thuật cổ truyền, thời trang, nghệ thuật trà đạo, nghệ thuật ẩm thực…

    Năm nay, năm 2008 - kỷ niệm 35 năm Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, sẽ là năm diễn ra nhiều hoạt động giao lưu văn hóa quan trọng để chào mừng sự kiện này. Trước hết phải kể đến Diễn đàn giao lưu văn hóa Nhật - Việt vừa được tổ chức vào ngày 11 và 12-3-2008. Diễn đàn gồm 2 buổi “Tọa đàm nhân dân” tổ chức tại Hà Nội và TP.HCM, với sự tham gia của đông đảo giới tri thức hai nước, thuộc các lĩnh vực: đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn di sản văn hóa, giao lưu tri thức, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Vấn đề xúc tiến hơn nữa giao lưu văn hóa Nhật - Việt là chủ đề chính được thảo luận tại diễn đàn.

    Một sự kiện được coi là “điểm đột phá” trong quan hệ văn hóa hai nước là Đại nhạc hội Việt - Nhật vừa được tổ chức hồi tháng 5 năm nay tại Hà Nội và TP.HCM. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ song phương kéo dài hơn ba thập kỷ, hai nước cùng tổ chức một chương trình âm nhạc tại Việt Nam với sự tham dự của nhiều ca sĩ Nhật, và cũng là lần đầu tiên ca sĩ Việt Nam được giới thiệu tới công chúng Nhật Bản. Sự kiện không bó hẹp trong ý nghĩa một chương trình nghệ thuật, mà nhiều hơn, là sự kiện chính trị, ngoại giao, điểm dấu mốc đặc biệt của chặng đường quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản.

    Dự kiến Festival Việt Nam 2008 sẽ được tổ chức tại Nhật Bản với quy mô lớn chưa từng có vào trung tuần tháng 8-2008, với tư cách là một Chương trình hành động quốc gia của Nhật Bản trong năm nay. Về phía Việt Nam, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản vẫn tiếp tục được tổ chức tại thành phố Hội An vào cuối năm nay, dự kiến sẽ thu hút khoảng 15.000 lượt người tham dự. Tính từ khi Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003, đến nay đã có gần 100 hoạt động tổ chức ở hai nước, trong đó có khoảng 90 hoạt động song phương. Có thể nói, các sự kiện giao lưu văn hóa giữa hai nước trong những năm gần đây là phương tiện tốt nhất để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, góp phần xây dựng mối quan hệ “từ trái tim đến trái tim”.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  6. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    bad_no001 (11-02-2012), lynkloo (10-02-2012)

  7. #4
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và đào tạo tiếng Việt Nam tại Nhật Bản

    Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam được thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 1970 tại trường Đại học Ngoại thương và Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội). Tuy nhiên, trong suốt thập niên 1980, việc giảng dạy tiếng Nhật bị đình trệ do quan hệ hai nước không phát triển. Phải đến đầu những năm 1990, việc giảng dạy tiếng Nhật mới được thực hiện trở lại, và phát triển mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua. Theo số liệu thống kê của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản, vào năm 1998, có khoảng 10.000 người Việt Nam học tiếng Nhật tại 30 cơ sở đào tạo công và tư trên toàn quốc với số giáo viên giảng dạy chỉ vẻn vẹn 300 người(5), kể cả giáo viên người Nhật sang tình nguyện giảng dạy. Sau 10 năm, vào năm 2007, số học viên đã tăng lên 30.000 người, số cơ sở đào tạo là gần 100 trường với khoảng trên 1000 giáo viên(6), đưa Việt Nam trở thành nước có số người học tiếng Nhật đứng thứ 8 trên Thế giới.

    Đào tạo tiếng Nhật tuy là một ngành mới, song trong hơn 10 năm phát triển, đã đạt những bước tiến đáng kinh ngạc. Nếu như vào đầu những năm 1990, chương trình dạy tiếng Nhật còn lạc hậu với những bộ sách giáo khoa được biên soạn từ năm 1970, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, phương pháp giảng dạy ảnh hưởng nặng nề của nền giáo dục Nga và Trung Quốc, chỉ chú trọng đến dạy ngữ pháp… thì vài năm gần đây, tiếng Nhật đã trở thành bộ môn ngoại ngữ được cung cấp những phương tiện giảng dạy tiên tiến nhất, đội ngũ giáo viên có trình độ cao, hầu hết đều được tu nghiệp ngắn hạn hoặc dài hạn tại Nhật theo chương trình tài trợ của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản. Giáo trình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và được cập nhật liên tục. Đội ngũ giáo viên tu nghiệp tại Nhật Bản trở về đã sử dụng các phương pháp giảng dạy mới, chú trọng đến mục đích nâng cao khả năng giao tiếp để học viên có thể nhanh chóng sử dụng vốn kiến thức đã học vào giao tiếp thực tiễn. Một chuyên gia Nhật Bản có kinh nghiệm công tác lâu năm ở Việt Nam đã nhận xét: “Giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam đang bước từ giai đoạn một - giai đoạn tiếng Nhật được giảng dạy chủ yếu tại các trường đại học và các trung tâm tiếng Nhật tư nhân tại các thành phố lớn sang giai đoạn hai - giai đoạn mở rộng về đối tượng học viên (mở rộng đào tạo tiếng Nhật ở cấp giáo dục phổ thông) và mở rộng về phạm vi địa lý, có thêm nhiều cơ sở giảng dạy tại các địa phương”(7). Thành quả này đạt được là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhật Bản về vốn, trang thiết bị giảng dạy, sách vở, giáo viên…, nhưng cũng không thể phủ nhận sự chuyển biến tích cực từ phía các nhà tạo lập chính sách của Việt Nam với việc chủ chương đưa tiếng Nhật vào giảng dạy thử nghiệm ở cấp THCS và THPT. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt trong quan hệ hai nước đã tạo ra nhu cầu của “thị trường” đối với ngành tiếng Nhật.

    Khác với ngành tiếng Nhật ở Việt Nam, đào tạo tiếng Việt tại Nhật Bản chưa phải là một ngành phát triển. Mặc dù có lịch sử lâu dài hơn, được bắt đầu từ những năm 1960 do một số nhà nghiên cứu Việt Nam học học mở lớp dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo và trường Đại học Keio, nhưng việc giảng dạy tiếng Việt mới chỉ được mở rộng trong thập kỷ 1990. Từ con số vài nhà nghiên cứu Việt Nam học biết tiếng Việt, đến nay, cùng với sự phát triển ngành Việt Nam học tại Nhật Bản, số nhà nghiên cứu sử dụng được tiếng Việt đã tăng tới hàng trăm, và con số cơ sở đào tạo tiếng Việt cũng đã lên tới hàng hai chữ số(8). Riêng trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, chuyên ngành tiếng Việt đã đào tạo được khoảng trên 300 người(9), phục vụ tại các ngành nghề khác nhau như: ngành giáo dục, ngành báo chí, ngành ngoại giao, Đài truyền hình… Hiện nay, cùng với sự phát triển giao lưu văn hóa, đặc biệt là du lịch giữa hai nước, học tiếng Việt đang trở thành trào lưu trong một bộ phận giới trẻ Nhật Bản. Các cơ sở dạy tiếng Việt được mở rộng, không chỉ ở các trường Đại học, mà tại các Trung tâm ngoại ngữ tư thục, Hội hữu nghị Nhật - Việt ở các địa phương… các lớp tiếng Việt được mở thường xuyên. Số sinh viên Nhật Bản đến Việt Nam du học hiện nay giữ vị trí số một, cùng với sinh viên Hàn Quốc.

    Trao đổi học thuật, nghiên cứu Nhật Bản học và Việt Nam học

    Sự phát triển của ngành Nhật Bản học tại Việt Nam và Việt Nam học tại Nhật Bản trong những năm gần đây là bằng chứng khẳng định mối quan hệ hai nước đã đi vào chiều sâu. Năm 1993, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản được thành lập trong Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) như một cơ quan chuyên trách nghiên cứu về Nhật Bản, được coi là bước khởi đầu của quá trình này. Cùng năm, ngành Ngôn ngữ - văn hóa Nhật Bản (tiền thân của Khoa Đông Phương sau này) được mở tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hai năm sau đó, năm 1995, Khoa Đông Phương, trong đó có chuyên ngành Nhật Bản học chính thức được thành lập tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội và TP.HCM. Cùng với việc mở chuyên ngành Nhật Bản học tại các trường đại học lớn, các trường đại học tư thục cũng mở khoa đào tạo tiếng Nhật, khiến cho hoạt động nghiên cứu Nhật Bản trở nên vô cùng sôi nổi trong giai đoạn này. Ngoài các cơ quan kể trên, nghiên cứu Nhật Bản còn được thực hiện tại một số đơn vị khác như Khoa Sử của trường Đại học KHXH & NV, bộ phận nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Viện Sử học, Trường Đại học Ngoại thương, và các đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Nội Vụ, Ban Đối ngoại Trung ương… Mặc dù nghiên cứu Nhật Bản tại các đơn vị này được tiến hành khá sớm, từ những năm 50-60, song chưa mang tính tổng hợp và chuyên sâu.

    Theo kết quả cuộc điều tra Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản thực hiện năm 1996, có khoảng 95(10) nhà nghiên cứu Nhật Bản học ở Việt Nam, thuộc các lĩnh vực như lịch sử, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ và quan hệ quốc tế. Phần nhiều họ thuộc thế hệ trung niên, và do điều kiện khách quan của Việt Nam trong giai đoạn đó, rất ít người biết tiếng Nhật.

    Hiện nay, con số những người nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam đã lên tới hàng trăm người, làm việc tại hàng chục cơ quan nghiên cứu và đào tạo trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Một số cơ sở nghiên cứu mới như Đại học Thái Nguyên, Đại học sư phạm Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản thuộc Khoa Đông phương Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM, Đại học khoa học Huế, Cao đẳng sư phạm Kontum, Cao đẳng sư phạm Vũng Tàu, Đại học Cần Thơ… Một nét mới là số cán bộ nghiên cứu Nhật Bản học tại các trường đại học và các cơ quan giảng dạy đang tăng lên. Hầu hết các cán bộ trẻ được đào tạo tại Nhật Bản về, có khả năng sử dụng tốt tiếng Nhật. Tuy nhiên, tại các cơ quan nghiên cứu, đội ngũ trung niên vẫn chiếm tỉ lệ lớn, và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ kế cận đang là vấn đề được quan tâm. Hiện nay, mỗi năm Chính phủ Nhật Bản dành khoảng một trăm suất học bổng du học tại Nhật cho sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay là khoảng 1.500 người. Có thể nói, đây là sự giúp đỡ quý báu để bồi dưỡng nhân tài cho ngành nghiên cứu Nhật Bản học tại Việt Nam.

    So với ngành Nhật Bản học tại Việt Nam, nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản có bề dày lịch sử khá lâu, được bắt đầu ngay từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tuy vậy, phải đến cuối những năm 1970 nó mới trở thành một ngành khoa học độc lập, tách khỏi ngành Sử học Phương Đông. Đầu thập niên 1990, ngành Việt Nam học tại Nhật Bản thực sự phát triển, nhờ quan hệ hai nước có bước tiến triển tốt đẹp. Việc sang Việt Nam du học trở nên dễ dàng hơn, nhiều nhà nghiên cứu đã có bề dày kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam, có điều kiện để thâm nhập vào thực tế xã hội, là cơ sở để họ cho ra đời những ấn phẩm về Việt Nam ngày một phong phú. Hiện nay, con số nhà nghiên cứu tham gia vào Hội nghiên cứu Việt Nam học ở Nhật Bản đã lên tới trên một trăm người, và số công trình nghiên cứu về Việt Nam được xuất bản cũng lên tới hàng trăm cuốn sách. Từ năm 1990 trở lại đây, nhiều cuộc hội thảo quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu tập thể với sự tham gia của học giả hai nước đã khiến cho sự giao lưu học thuật giữa hai nước ngày càng trở nên sôi nổi.

    Xúc tiến hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước

    Nhận thấy việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước là nền tảng cho mọi quan hệ song phương chặt chẽ hơn, chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã nỗ lực thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau thông qua giao lưu trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, du lịch, thể thao. Cụ thể là, hai nước đang triển khai các chương trình đào tạo con người, chương trình thanh niên ASEAN (100 người/năm), trao đổi các đoàn văn hóa, tình nguyện viên, chuyên gia… Tháng 6/2008, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đã tới Nhật Bản trong chương trình giao lưu giữa thế hệ trẻ Nhật Bản với Thế hệ trẻ Đông Nam Á. Thanh niên Việt Nam đã có dịp tham quan thành phố Tokyo và một số tỉnh thành, tới thăm các trường học, giao lưu gặp gỡ với sinh viên và người dân địa phương Nhật Bản. Chương trình là một trong các hoạt động của JENESYS – Chương trình giao lưu thế hệ trẻ các nước Đông Nam Á được bắt đầu vào năm 2008 và sẽ kéo dài trong 5 năm. Kết thúc mỗi đợt, chương trình lại tiếp tục mời 6.000 thanh niên và sinh viên các nước Đông Nam Á sang thăm Nhật Bản.

    Một sự kiện quan trọng khác là sự ra đời của Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản của Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam vào tháng 3/2008. Sự kiến đánh dấu mốc quan trọng trong chặng đường lịch sử quan hệ giữa hai nước, nó không chỉ góp phần củng cố sự hợp tác về kinh tế, chính trị giữa hai nước mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị, tin cậy và hiểu biết sâu sắc giữa nhân dân hai nước thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa. Trung tâm tổ chức các hoạt động như: Giao lưu văn hóa nghệ thuật (tổ chức biểu diễn ca nhạc, mời các nhà hoạt động văn hóa của Việt Nam sang thăm Nhật Bản, tổ chức liên hoan phim Nhật Bản tại Việt Nam, hỗ trợ các nhà xuất bản Việt Nam xuất bản các tác phẩm của Nhật Bản…); Hoạt động giảng dạy tiếng Nhật (biên soạn sách giáo khoa, tổ chức và hỗ trợ các hội thảo dành cho giáo viên, hỗ trợ giảng dạy tiếng Nhật cấp THCS, cử các chuyên gia giảng dạy tiếng Nhật sang Việt Nam…); Nghiên cứu Nhật Bản và giao lưu trí tuệ (hỗ trợ các cơ quan đang nghiên cứu về Nhật Bản, hỗ trợ thành lập Hội nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản, cung cấp học bổng cho các nhà nghiên cứu Nhật Bản học, tổ chức hội thảo về Nhật Bản học…). Với sự cống hiến tích cực của Trung tâm văn hóa Nhật Bản, chắc chắn một “cây văn hóa Nhật Bản”(11) sẽ được vun trồng và mãi xanh tươi trên đất Việt Nam.

    Kết luận và một số kiến nghị

    Có thể nói, giai đoạn từ năm 1993 đến nay là giai đoạn sôi nổi nhất, gặt hái được nhiều thành công nhất trong chặng đường quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản. Điều này có được là nhờ các điều kiện khách quan thuận lợi trong quan hệ giữa hai nước, sự ổn định của môi trường quốc tế trong vòng một thập kỷ rưỡi trở lại đây. Nhưng, cũng không thể phủ nhận vai trò tích cực từ phía chính phủ hai nước khi ý thức được tầm quan trọng của việc giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau có giá trị như thế nào đối với việc phát triển quan hệ trong các lĩnh vực khác. Chính phủ Nhật Bản hàng năm đã dành nguồn tài trợ lớn cho các hoạt động giao lưu, hợp tác về văn hóa với Việt Nam. Về phía Việt Nam, chính sách mở cửa, hội nhập của Đảng và Nhà nước ta cũng tạo môi trường thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi và giao lưu văn hóa với Nhật Bản. Chính phủ hai nước đã khẳng định muốn xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực, để trở thành “đối tác đặc biệt”, “đối tác bền vững” của nhau trong thời gian tới. Năm 2006, Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản một lần nữa nhấn mạnh quyết tâm tăng cường và thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương với tư cách là “đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”.

    Hai nước đang trong giai đoạn hợp tác tốt nhất trong lịch sử quan hệ 35 năm qua. Chưa bao giờ, quan hệ văn hóa được chú trọng và đề cao như lúc này. Cuộc viếng thăm của Phái đoàn giao lưu văn hóa Nhật Bản tới Việt Nam năm 2005 sau chín năm gián đoạn - kể từ năm 1996, và Diễn đàn giao lưu văn hóa Nhật Việt được thực hiện hồi tháng 5/2008 vừa qua chính là bằng chứng sinh động khẳng định chiều sâu của mối quan hệ này. Lần đầu tiên trong lịch sử, hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa giữa hai nước được xem xét và xây dựng một cách có chiến lược. Phái đoàn giao lưu văn hóa đã đề xuất: “Nhằm xúc tiến giao lưu văn hóa Nhật - Việt dựa trên sự hợp tác của chính phủ và các ban ngành liên quan, nên thành lập Hội đồng cấp cao giữa hai nước gồm đại diện của chính phủ và tư nhân để xem xét một cách toàn diện các vấn đề và phương sách trong giao lưu Nhật - Việt”(12). Tháng 3/2008, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản được khai trương tại Hà Nội với tư cách là một cơ sở trợ giúp cho các hoạt động giao lưu và hợp tác văn hóa giữa hai nước, lại một lần nữa khẳng định quyết tâm của phía chính phủ Nhật Bản trong việc thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ văn hóa với Việt Nam.

    Tuy nhiên, về phía chúng ta, dường như còn thiếu sự chủ động trong việc xây dựng một chiến lược phát triển quan hệ văn hóa dài hơi với nước bạn. Rõ ràng rằng, giao lưu văn hóa cần sự tham gia của cả hai phía. Cho đến nay, các hoạt động giao lưu văn hóa được thực hiện phần lớn nhờ sự tài trợ của phía bạn. Thời gian gần đây, văn hóa Nhật Bản như âm nhạc, phim ảnh, văn học… du nhập vào Việt Nam khá mạnh mẽ và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa nước ta, nhưng văn hóa Việt Nam lại chưa được giới thiệu nhiều tới nhân dân Nhật Bản. Thiết nghĩ, chúng ta cần có những chính sách cụ thể và sự tài trợ về mặt kinh phí từ Nhà nước để thực hiện một cách có kế hoạch, có hiệu quả hoạt động giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè Nhật Bản. Có lẽ, các cuộc triển lãm về văn hóa truyền thống (sản phẩm thủ công truyền thống, nghệ thuật biểu diễn truyền thống…), festival văn hóa, cử các đoàn nghệ thuật sang biểu diễn tại nước bạn, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa - đất nước - con người Việt Nam tại Nhật, các cuộc hội thảo quốc tế về văn hóa Việt Nam… sẽ là những phương tiện tốt để truyền bá văn hóa nước ta tới nhân dân Nhật Bản.

    Bên cạnh đó, ngoài kênh của chính phủ, chúng ta cũng cần thu hút sự quan tâm của các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, công ty… trong việc thực hiện trao đổi, giao lưu, hợp tác văn hóa. Thực ra, chính những đơn vị nhỏ này là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp. Ví dụ, nếu các công ty, xí nghiệp Nhật Bản trước khi tuyển tu nghiệp sinh Việt Nam có tổ chức các khóa học tiếng Nhật và giới thiệu về văn hóa, tập quán sinh hoạt của người Nhật Bản, thì những người này sẽ không bị bỡ ngỡ khi bước chân vào môi trường làm việc tại Nhật Bản. Hoặc, công việc này cũng có thể thực hiện bởi các công ty Việt Nam làm công việc môi giới, giới thiệu tu nghiệp sinh, thực tập sinh sang Nhật.

    Và cuối cùng, cần chú trọng tới việc đào tạo tiếng Nhật cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người Nhật Bản, đồng thời tăng cường hoạt động nghiên cứu Nhật Bản học và Việt Nam học. Nhật Bản đã làm tốt việc truyền bá ngôn ngữ của họ ra Thế giới. Việt Nam cũng nên học tập họ trong việc phát triển giảng dạy tiếng Việt bằng các hình thức như cử giáo viên sang giảng dạy tại các cơ sở đào tạo của nước bạn, cung cấp các chương trình học bổng học tiếng Việt tại Việt Nam cho sinh viên Nhật Bản… Đối với hoạt động nghiên cứu, cần tăng cường các chương trình nghiên cứu tập thể cho học giả hai nước cũng như đẩy mạnh xã hội hóa các thành quả nghiên cứu. Hy vọng tới đây, quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ phát triển xứng tầm nó đáng phải có trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.

    ---

    Tài liệu tham khảo:

    1. Dương Phú Hiệp - Ngô Xuân Bình - Trần Anh Phương (đồng chủ biên). 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973-1998. NXB. Khoa học xã hội, 1999.
    2. Ngô Xuân Bình - Trần Quang Minh (chủ biên). Quan hệ Việt Nam Nhật Bản quá khứ, hiện tại, tương lai. NXB. Khoa học xã hội, 2005.
    3. Kimura Hiroshi - Furuta Motoo - Nguyễn Duy Dũng (chủ biên). Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản. NXB. Thống kê, 2005.
    4. Shibahara Tomoyo: “Đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003.
    5. Ngô Hồng Diệp: “Về sự hợp tác văn hóa Nhật Bản – ASEAN từ những năm 1970 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 12/2007.
    6. Lưu Thu Thủy: “Học tiếng Việt tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 3/2008.
    7. Báo cáo của Trung tâm Hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam năm 2007.
    8. Trang web. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam: http://www.vn.emb-japan.go.jp
    9. Trang web: http://www.jpf.org.vn
    10. “Giao lưu văn hóa Việt-Nhật và sự quan tâm của người Nhật với văn hóa Việt Nam”. Trang web: http://www.thuvien-ebook.com/forums/

    (1) Trần Mạnh Cát: “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây”, 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973-1998. NXB. Khoa học xã hội, 1999.
    (2) Nguồn: Trang web. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam http://www.vn.emb-japan.go.jp
    (3) Phạm Hồng Thái: “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản qua những chặng đường văn hóa”, Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản quá khứ, hiện tại, tương lai. NXB. Khoa học xã hội, 2005.
    (4) Nguồn: “Giao lưu văn hóa Việt-Nhật và sự quan tâm của người Nhật với văn hóa Việt Nam”. Trang web:
    http://www.thuvien-ebook.com/forums/...ead.php?t=8767
    (5) Shibahara Tomoyo: “Đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003.
    (6) Nguồn: Báo cáo của Trung tâm Hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam năm 2007.
    (7) Shibahara Tomoyo, đã dẫn.
    (8) Furuta Motoo: “Vài nét về tình hình nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản”, Những bài học về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, Kimura Hiroshi, Furuta Motoo, Nguyễn Duy Dũng, 2005.
    (9) Lưu Thu Thủy: “Học tiếng Việt tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 3/2008.
    (10) Dương Phú Hiệp: “Nhật Bản học ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra hiện nay”, 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, đã dẫn.
    (11) Trích “Lời chào của Giám đốc Trung tâm văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam”. Website: http://www.jpf.org.vn
    (12) Thông tin về Phái đoàn Giao lưu văn hóa 2005: http://www.hcmcgj.vn.emb-japan.go.jp/vn/pro2005/may.htm


    Ths. Ngô Hương Lan
    Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  8. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    bad_no001 (11-02-2012), lynkloo (10-02-2012)

  9. #5
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ CỦA NHẬT BẢN VỚI VƯƠNG QUỐC THÁI LAN


    Vào thế kỷ XVI, trong tác phẩm Suma Oriental, Tome Pire đã viết về quan hệ thương mại của vương quốc Siam: “Với Trung Quốc, Siam đã cử đi 6 hay 7 thuyền một năm. Họ còn buôn bán với Sunda, Palembang và các đảo khác. Vương quốc này cũng tiến hành buôn bán với Campuchia, Champa và Cochin China cũng như các quốc gia lục địa như Burma và Jangoma (Chiangmai) khi nền hoà bình được xác lập”(2).

    Dựa trên nền tảng của những mối quan hệ truyền thống, sau một thời kỳ gián đoạn, đến thời vua Naresuen (1590-1605) quan hệ Nhật Bản - Siam lại được khôi phục. Là một người có uy lực, nhà vua đã giành được quyền độc lập thực sự về chính trị đồng thời quản chế được quan hệ ngoại giao. Naresuen đã đưa Siam trở thành “cường quốc quan trọng nhất trong khu vực”(3). Điều đáng chú ý là, ngay từ thời gian đó vua Siam đã sử dụng nhiều người nước ngoài phục vụ cho công việc của triều đình vì những tri thức và kỹ năng đặc biệt của họ. Trong đội quân cấm vệ của nhà vua đã có ước chừng 500 võ sĩ Nhật Bản và nhiều người vốn là các võ sĩ vô chủ (ronin). Do hoàn cảnh xã hội, họ buộc phải làm vệ sĩ cho các đoàn thuyền buôn rồi sang định cư lâu dài trên đất Thái. Vì vậy, khác với một số nước trong khu vực, từ cuối thế kỷ XVI, quan hệ Nhật Bản - Siam được xây dựng trên cơ sở sự gắn kết chặt chẽ của đồng thời ba lĩnh vực: ngoại giao, thương mại và hoạt động quân sự. Mối quan hệ vừa thân thiện vừa phức tạp đó là một đặc điểm tiêu biểu của lịch sử quan hệ Nhật - Thái trong suốt thời kỳ Ayutthaya (1351-1767).

    Đón nhận được ảnh hưởng của một chủ trương đối ngoại tương đối rộng mở, đến những năm cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII thuyền buôn Nhật Bản ngày càng xuất hiện nhiều ở vùng biển Đông Nam Á. Thuyền Nhật đã đến nhiều vùng lãnh thổ thuộc Đại Việt, Siam, Campuchia, Indonesia và Malaysia để buôn bán. Tại Siam, thương gia Nhật Bản đã lập cơ sở buôn bán ở Ayutthaya và Pattani. Thời gian đầu, do chưa có kinh nghiệm trong quan hệ thương mại trên thị trường khu vực nên thương nhân Nhật Bản luôn bị Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan chèn ép. Thêm vào đó, trong quan hệ với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản cũng không có đủ những mặt hàng mà thị trường Siam cần để có thể cạnh tranh với thương nhân châu á và phương Tây. Mặc dù chưa giành được ưu thế trong các hoạt động kinh tế nhưng nhờ có những ảnh hưởng về quân sự mà Nhật Bản cũng đã từng bước xác lập được vị trí của mình ở Siam. Các võ sĩ Nhật Bản nổi tiếng là những người quả cảm, tinh thông võ nghệ và có tinh thần kỷ luật.
    Joost Schouter, người đứng đầu thương quán Hà Lan ở Siam trong vòng 8 năm dưới thời vua Song Tham (1620-1628) và đầu thời vua Prasat Thong (1629-1655), cũng đã từng viết về đội quân cấm vệ người Nhật trong hoàng gia Thái. Theo ông, đội quân này có khoảng 500 đến 600 người và ông luôn khâm phục trước tinh thần dũng cảm của họ(4).

    Đến đầu thế kỷ XVII, do sự phát triển phồn thịnh của thị trường Siam mà nhiều thuyền buôn Nhật Bản đã tập trung về Ayutthaya, kinh đô đồng thời là trung tâm kinh tế lớn nhất của vương quốc. Địa bàn hoạt động của thương nhân Nhật Bản cũng mở rộng hơn trước và họ cũng đã nếm trải những thất bại cay đắng khi thâm nhập vào hệ thống kinh tế khu vực. Năm 1614, Adam Dantans, người phụ trách cơ sở thương mại Anh ở Pattani cho biết: hai thuyền buôn Nhật Bản đã đến Pattani bán hàng nhưng không được phép của chính quyền. Cuộc xung đột đã diễn ra và tám người Nhật bị sát hại.

    Về phần mình, qua nhiều nguồn thông tin từ các thương nhân ngoại quốc, triều đình Siam cũng ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng trong quan hệ với Nhật Bản. Năm 1599, một đoàn ngoại giao đã được cử đến Nhật Bản để thiết lập quan hệ thương mại. Ba năm sau, một phái bộ ngoại giao khác lại được cử đến Edo. Đáng tiếc là cho đến nay vẫn chưa tìm được những chứng cứ xác thực về hoạt động của hai phái bộ Siam trên đất Nhật Bản những năm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.

    Quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Siam được chính thức xác lập dưới thời vua Agathosarot (1605-1609) và ở Nhật Bản đó là thời kỳ cầm quyền của tướng quân Tokugawa Ieyasu (1542-1616). Năm 1606, Ieyasu đã gửi thư cho vua Siam đề nghị được mua đại bác và trầm hương. Để tỏ thái độ thân thiện, ông đã biếu vua Siam 1 bộ áo giáp cùng 10 thanh kiếm quý. Tokugawa Ieyasu còn cam kết sẽ tạo những điều kiện thuận lợi nhất để thuyền buôn của Siam có thể đến Nhật Bản buôn bán, trao đổi hàng hoá.

    Năm 1610, vua Siam cũng đã gửi thư trả lời chính quyền Nhật Bản nhưng bức thư đã bị thất lạc. Tuy nhiên, 2 năm sau một chiếc thuyền buôn của Siam cũng đã đến được Nhật Bản. Sau sự kiện đó, triều đình Ayutthaya đã cử nhiều phái bộ ngoại giao đến Nhật Bản và nhiều đoàn đã được đích thân tướng quân tiếp đón. Trong thời gian từ 1604-1635, Mạc phủ đã cấp 56 giấy phép cho các thuyền buôn đến giao thương với vương quốc Siam. Ngoài ra, còn có nhiều thuyền buôn không có giấy phép của các lãnh chúa miền Tây Nhật Bản vẫn ngấm ngầm đến Siam trao đổi hàng hoá.

    Do nhận thức được tính chất cạnh tranh quyết liệt tại thị trường Siam, trong các chuyến đi đến Ayutthaya, trên các thuyền buôn Nhật Bản ngoài thương nhân, thuỷ thủ còn có một lực lượng đông đảo các võ sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ hàng hoá. Để bảo đảm an toàn cho hoạt động của các thương nhân, Mạc phủ Edo cũng như giới lãnh đạo cộng đồng Nhật kiều định cư ở Siam chủ trương phải thắt chặt hơn nữa quan hệ với chính quyền sở tại. Tháng 9-1609, Sumihiro một thương gia Nhật Bản ở Siam đã gửi thư về nước cho Kanai Korinori, lãnh chúa vùng Inaba, Nhật Bản và thông báo rằng ông đã đem theo một số tặng phẩm của Inaba như sắt và súng tặng cho một quý tộc người Thái nhằm tranh thủ thiện cảm và để mua về thuyền buôn của nước này. Sumihiro về sau được coi là thủ lĩnh trong cộng đồng của người Nhật ở Siam.

    Trong một chính sách ngoại giao đa diện, dễ thay đổi của người Thái các thương nhân Nhật Bản và cả những người sinh sống ở Siam cũng luôn phải có đối sách phù hợp với tình hình thực tế. Năm 1602, với mục tiêu làm giảm sức mạnh của thương nhân Hà Lan, khoảng 200 người Nhật đã ủng hộ Bồ Đào Nha chống lại người Hà Lan ở Pattani. Về hình thức, đây chỉ là cuộc xung đột giữa các thương nhân ngoại quốc nhưng trên thực tế đó là hành động quân sự mang tính chất chính trị đầu tiên của người Nhật trên đất Thái.

    Đến thời trị vì của vua Song Tham (1620-1628), các binh sĩ Nhật Bản đã gây nên một vụ náo loạn ở kinh đô. Nhân việc nhà vua quy kết Oakya Kromnaivai vào tội phản bội, khoảng 280 binh sĩ Nhật Bản đã nổi dậy, tiến vào hoàng cung yêu cầu vua Siam phải nộp bốn vị hoàng thân, những kẻ đã khuyên nhà vua trừng phạt thủ lĩnh của họ. Sau khi rút ra khỏi Ayutthaya, lực lượng này đã kéo đến tỉnh Petchburi và đã chiếm được toàn bộ thành thị này. Họ tự lập nên một ông vua mới nhưng ngay sau đó mưu đồ chính trị đã bị vua Song Tham trấn áp. Trong thời gian này, người Nhật luôn tỏ ra bất mãn với nền thống trị của triều đình Siam và đến năm 1620, 500 võ sĩ Nhật Bản lại đánh chiếm điện Chomthong, bắt vua Song Tham và giam giữ ông ở một nơi bí mật. Nhưng một lần nữa, cuộc nổi dậy lại bị quân đội Siam do Pra Mahaummart chỉ huy dập tắt.

    Mặc dù có những sự biến chính trị xảy ra nhưng vào đầu thế kỷ XVII, quan hệ giữa hai nước vẫn được duy trì, một số thuyền buôn Nhật Bản tiếp tục đến Ayutthaya buôn bán. Vua Song Tham vẫn cử một số phái bộ đem theo thông điệp ngoại giao đến Nhật Bản. Năm 1621, triều đình Siam đã phái đại diện ngoại giao mang quốc thư và cống phẩm đến Edo. Nội dung bức thư khẳng định: triều đình Siam sẵn sàng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho thương nhân Nhật Bản đến buôn bán. Trong chuyến đi đó, đại diện ngoại giao của chính quyền Siam đã đề nghị Nhật Bản cấp cho 3 con ngựa có khả năng sinh sản tốt. Mạc phủ Edo đã đón tiếp đại diện ngoại giao Thái rất nồng hậu. Trước khi viên sứ giả về nước, tướng quân Nhật Bản còn yêu cầu chuyển thư và tặng vật về cho vua Song Tham. Từ đó, quan hệ giữa hai nước Nhật - Thái càng trở nên thân thiện và Nhật Bản luôn đứng về phía Siam trong các cuộc xung đột. Năm 1623, quân đội Campuchia tập trung lực lượng chống lại vương quốc Siam. Vua Song Tham đã gửi thư cho Mạc phủ Edo, yêu cầu chính quyền Edo ra lệnh cho người Nhật sống ở Campuchia không tham gia vào những hoạt động quân sự vì rằng những hành động đó có thể làm tổn hại đến quan hệ vốn có giữa hai nước. Chính quyền Nhật Bản khẳng định sẽ không cho phép Nhật kiều can dự vào các cuộc xung đột vũ trang. Sau những sự kiện đó, vị thế của Nhật Bản và cá nhân Yamada Nagamasa (Oakhun Senapimuk) càng được tôn vinh trong triều đình Siam.

    Yamada là người đứng đầu lực lượng quân đội Nhật Bản ở Ayutthaya. Danh vọng của ông được nhiều thương nhân ngoại quốc biết đến. Vốn xuất thân từ một gia đình quý tộc, ưa mạo hiểm, Yamada luôn có tham vọng được xuất dương. Ông đã cùng với một số người đi trên hai chiếc thuyền buồm tiến xuống Đài Loan rồi từ đó đến Siam khoảng năm 1612. ở Ayutthaya, ông được mời làm quan cho triều đình rồi kết hôn với một phụ nữ Thái. Nhờ có uy tín lớn nên năm 1620, sau khi Oakluang Si Sunthorn, người lãnh đạo cộng đồng Nhật kiều ở Siam qua đời, ông đã được cử lên thay thế(5).

    Ngay sau khi đến Siam, nhân dịp một viên đại thần triều đình Ayutthaya được cử sang Nhật Bản, Yamada đã gửi thư cho Doi Toshikatsu, là quan chức cao cấp trong chính quyền Edo, đề nghị đón tiếp nồng nhiệt phái bộ Siam. Trong thư gửi lên tướng quân Tokugawa Hidetada (1579-1632), triều đình Siam cũng đề cao vị trí của Yamada và viết rằng: “Yamada đã được mang tước hiệu quý tộc và được gọi là Khun Chaiya Sunthorn”(6).

    Hiểu rõ những ảnh hưởng chính trị của Yamada đối với triều đình Siam, năm 1621 Công ty Đông ấn Anh ở Ayutthaya đã yêu cầu ông giúp đỡ để giải thoát cho một người Anh có tên là John Dod khỏi vòng tù tội. Qua sự việc đó, có thể thấy Yamada không chỉ thiết lập được quan hệ mật thiết với nhiều quan lại quý tộc cao cấp của triều đình Siam mà còn là chỗ dựa cho một số thương nhân phương Tây trong những trường hợp khẩn thiết.

    Trong quá trình làm ăn, buôn bán ở Siam, tuy đồng thời duy trì liên hệ với thương nhân nhiều nước nhưng người Nhật vẫn coi trọng quan hệ với chính quyền và thương nhân bản địa. Năm 1624, xuất phát từ những mâu thuẫn về thương mại, thuyền buôn Tây Ban Nha gồm 200 người do thuyền trưởng Don Fernando de Silva đã bị nhóm liên quân Siam - Nhật tấn công. Nhờ áp dụng chiến thuật quân sự mới nên liên quân dưới sự chỉ huy của Yamada đã giành được thắng lợi. Lực lượng tấn công đã bắt 10 thuỷ thủ đoàn và giết chết viên thuyền trưởng. Toàn bộ hàng hoá trên tàu cũng bị chính quyền Siam tịch thu. Ngay sau thắng lợi đó, ông đã được phong từ Oakhun lên Oakluang (Oakluang Chaiya Sunthorn) và rồi lại được tôn vinh là Oakya Senapimuk Rashamonthree, một tước hiệu cao quý của triều đình Ayutthaya.

    Sở dĩ Yamada có vị trí cao như vậy vì ngoài tài năng quân sự, chính trị, ông còn là người điều hành toàn bộ mạng lưới kinh tế thương mại của Nhật Bản ở Siam. Ngoài ra, Yamada còn là cổ đông của nhiều gia tộc có quan hệ thương mại với vương quốc này. Năm 1624, chính ông đã cử nhiều thuyền chở da hươu về Nhật Bản. Bằng những hành động đó, thương nhân Nhật bắt đầu thâm nhập vào phạm vi quyền lợi của Hà Lan và một số nước khác nhưng giới doanh thương Nhật Bản vẫn cố gắng duy trì sự hoà hiếu, không để cho những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế trở nên đến mức đối lập. Trên thực tế, trong quan hệ thương mại với vương quốc Siam, có năm thuyền buôn của thương nhân Nhật xuất phát từ Siam đã bán hết hàng hoá nhưng vẫn không thể trở về Ayutthaya đúng hạn vì phải chờ lấy hàng ở Nhật Bản. Trong những trường hợp đó, Yamada thường nhờ tàu buôn của Hà Lan kết hợp chở hàng về Nhật.

    Từ năm 1624, Mạc phủ Edo bắt đầu hạn chế tàu buôn Bồ Đào Nha đến Nhật Bản và thi hành những biện pháp chống lại ảnh hưởng của Thiên chúa giáo. Lo sợ Bồ Đào Nha gây cản trở cho hoạt động thương mại của Nhật Bản ở Đông Nam á, Yamada chủ trương phải hợp tác chặt chẽ với Hà Lan trong việc vận chuyển hàng hoá từ Siam về Nhật Bản. Chủ trương dựa vào Hà Lan trong quan hệ quốc tế cho thấy tầm nhìn và khả năng nhạy bén của Nhật Bản trong việc lựa chọn bạn hàng chiến lược nhằm khai thác những lợi ích thương mại ở Đông Nam á. Năm 1629, Yamada lại cử thuyền buôn về Nhật Bản. Cùng tham gia chuyến đi này còn có đại diện ngoại giao của chính quyền Siam. Ông đã thông báo cho Mạc phủ biết về cái chết của vua Song Tham và người sẽ được chọn lên kế nhiệm.
    Ngoài việc tổ chức cho các đoàn thuyền buôn đưa hàng về Nhật Bản, Yamada còn cử nhiều thương thuyền đến các nước Đông Nam á khác. Theo những ghi chép của thương nhân Hà Lan, vào năm 1628 Yamada đã cử thuyền buôn đến Malacca và đã từng có quan hệ với thương nhân Hà Lan ở Batavia. Vì muốn tranh thủ ảnh hưởng của Yamada ở Siam, chính quyền Hà Lan đã cho phép thuyền buôn Nhật Bản được đến Batavia buôn bán. Đáp lại thiện chí đó, Yamada cũng đã gửi quà biếu toàn quyền Hà Lan ở Batavia và viên toàn quyền đã viết thư cám ơn, khẳng định việc tạo điều kiện cho Yamada được tự do buôn bán(7).
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  10. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (10-02-2012)

  11. #6
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Dựa vào uy tín của mình, Yamada còn can dự vào nhiều hoạt động chính trị trên đất Siam. Khi vua Song Tham ốm nặng, nhà vua muốn con trai 15 tuổi kế ngôi nhưng vị hoàng tử này không được nhiều người yêu mến. Vì vậy, viên đại thần Oakya Sri Voravong đã lập kế hoạch nhằm đưa hoàng tử Pra Chetthathirat lên ngôi. Ông đã đề nghị Oakya Senapimuk (Yamada) cùng hợp tác ủng hộ cho vị hoàng tử này. Thực hiện kế hoạch đó, Yamada đã ra lệnh cho 600 võ sĩ vào chiếm giữ hoàng cung đồng thời Oakya Sri Voravong cũng đưa 14.000 lính Thái đến gây áp lực. Vua Song Tham qua đời ngày 12-12-1628 và mặc nhiên, trước áp lực của phe đối lập, Pra Chetthathirat đã được đưa lên ngôi. Sau khi Chetthathirat giành được ngôi báu, em trai của vua Song Tham là Pra Punpiseesin đã nổi dậy chống lại chính quyền. Nhưng do chưa được chuẩn bị đầy đủ, lực lượng nổi dậy đã bị trấn áp và bản thân Pra Punpiseesin cũng bị bắt và sát hại.

    Qua những diễn biến chính trị trong nội bộ vương triều Siam, có thể thấy vai trò của Yamada là rất lớn. Và 2 năm sau, năm 1630, một sự biến chính trị nữa lại diễn ra trên đất Thái. Theo bản báo cáo của Antonio Van Diemen gửi về Công ty Đông ấn Hà Lan thì: Oakya Senapimuk đã huy động 300 binh sĩ Nhật Bản cùng với 3.000-4.000 lính Siam đến Nokhon Si Thammarat bắt người đứng đầu chính quyền ở đây rồi giải về Ayutthaya. Ông cũng là người tham gia nhiều hoạt động quân sự ở Siam, bị trọng thương và qua đời năm 1630, lúc 50 tuổi.

    Sau khi Yamada (Oakya Senapimuk) qua đời, con trai ông là Oakhun Senapimuk tuy mới 18 tuổi nhưng đã tiếp tục sự nghiệp của cha cai quản vùng Nakhon Si Thammarat. Đến cuối những năm 1630, trước những biến động xã hội, nhiều người Nhật ở Campuchia đã trở về Siam và hoà nhập với khối Nhật kiều sống tại Ayutthaya. Trong thời gian đó, khu định cư của người Nhật bị cháy. Ngoài những thiệt hại về nhà cửa, vụ cháy đã thiêu trụi 7.000 tấm da hươu, 2.000 tấm da cá sấu và nhiều tài sản có giá trị khác.

    Trong quá trình hướng về thị trường Đông Nam Á, Nhật Bản đã sớm thiết lập quan hệ với vương quốc Siam và duy trì thường xuyên những liên hệ ngoại giao, kinh tế với nước này. Những năm 1604-1616, có 36 thuyền Châu ấn của Nhật Bản được cử đến Siam. Về phần mình, triều đình Ayutthaya cũng luôn coi trọng quan hệ với Nhật Bản. Vào thời kỳ trị vì của vua Song Tham, số Nhật kiều sinh sống ở Ayutthaya có khoảng 1.500 người. Để có thể chủ động trong công việc buôn bán với nước sở tại, nhiều người Nhật đã định cư lâu dài và có quan hệ hết sức mật thiết với cư dân bản địa. Trong số những Nhật kiều đó cũng có những người vượt biển trái phép và cả các tín đồ Thiên chúa giáo. Do số người Nhật đến sinh sống ở Siam ngày một tăng lên nên cộng đồng Nhật kiều ở Ayutthaya cũng được củng cố và tổ chức chặt chẽ. Họ sống thành từng nhóm gần kinh đô Ayutthaya, nơi tụ cư đông nhất gọi là Nihon machi (phố Nhật). Người Nhật tự lựa chọn ra những người lãnh đạo để điều hành hoạt động chung của toàn thể cộng đồng. Khu định cư của người Nhật ở vùng cửa sông Chao Phraya, gần kề với thương quán của Hà Lan và Bồ Đào Nha giáp với khu vực kinh đô. Theo mô tả của E. Kaempfer, nhà ngoại giao người Hà Lan đã đến Ayutthaya năm 1690, thì ở sông Chao Phraya có khu định cư của người Nhật và Hà Lan nhưng khu Nhật kiều nằm ở vùng hạ lưu (8)

    Nhưng đến năm 1632, thời vua Prasat Thong, nhiều kiều dân Nhật Bản đã bị tàn sát. Lo sợ bị giết hại, không ít Nhật kiều đã phải trở về nước. Chính sách bài thị Nhật kiều của chính quyền Siam vô hình chung đã tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất định cho việc khẳng định vị trí thương mại của nhiều thương nhân ngoại quốc khác trong đó đặc biệt là giới Hoa thương vốn đã từ lâu sinh sống ở Siam.

    Trong thời gian 1633-1636, chính quyền Edo từng bước thực thi chính sách đóng cửa nhưng quan hệ giữa Nhật Bản với Đông Nam Á vẫn được duy trì. Mặc dù các thuyền Châu ấn không được phép đi ra nước ngoài nhưng thuyền buôn của Trung Quốc, Hà Lan... vẫn có thể thông thương với Nhật Bản. Do nằm ngoài trọng tâm của chính sách toả quốc nên khi nguồn hàng nhập trực tiếp từ Nhật Bản bị đình trệ, Siam đã chủ động cử nhiều đoàn thương thuyền đến Nagasaki. Trong vòng 53 năm (1647-1700), có tổng cộng 130 thuyền buôn của Siam đến Nhật Bản. Tính bình quân mỗi năm vẫn có hơn 2 thuyền của Siam chuyển hàng sang Nhật. Đến năm 1715, hàng năm vẫn có 1 thuyền của Siam sang Nhật. So với các quốc gia khác ở Đông Nam Á, sự xuất hiện thường xuyên các thuyền buôn của Siam ở Nhật Bản trong thời kỳ toả quốc có thể coi là một hiện tượng dị biệt. Điều đó cho thấy sức hấp dẫn của thị trường Nhật Bản cũng như bản tính chủ động, năng động của chính quyền và thương nhân Thái.

    Việc chính quyền Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, thương mại với triều đình Siam thực sự là một thách thức đối với hoạt động kinh tế của Hà Lan cũng như thương nhân nhiều quốc gia khác. Sau nhiều nỗ lực, năm 1608 Hà Lan cũng đã thiết lập được thương quán ở Siam. Nhận rõ khả năng thương mại của Nhật Bản và những trở ngại chắc chắn sẽ gặp phải trên thị trường Siam, năm 1629, Joost Schouten đại diện thương quán Hà Lan đã viết thư gửi cho Toàn quyền ở Batavia như sau: “Hầu như năm nào cũng vậy, đều có một hoặc hai thuyền Nhật Bản đến Ayuthaya, ngoài ra còn có thuyền của opra (okphra) - người đứng đầu khối kiều dân Nhật định cư ở đây, để bảo vệ các thuyền đó chống lại bọn cướp. Do được triều đình Siam tạo những điều kiện thuận lợi mà opra đã trở nên rất giàu có với nhiều quyền lực. Ông ta cho rằng sẽ cử thuyền đem theo 1.000 piculs (khoảng 56,8 tấn) gỗ sapan cùng 500.000 tấm da hươu đến Nhật Bản trong năm nay để thu lợi nhuận cho mình cũng như các bạn buôn. Nếu ông ta thành công trong vụ làm ăn này, thì không chỉ cư dân ở đây giành được ưu thế trong quan hệ thương mại mà những nỗ lực của Hà Lan nhằm củng cố quan hệ với Siam cũng sẽ bị tổn thương”(9).

    Người đứng đầu khối kiều dân Nhật Bản được đề cập trong bức thư trên đây chính là Yamada Nagamasa. Do có tài kinh doanh, khả năng chỉ huy quân sự và năng lực chính trị ông đã được các vua Siam sủng ái, được phong nhiều tước vị cao của triều đình. Vào đầu thế kỷ XVII, nhờ có vai trò nhất định của ông mà Nhật Bản đã thiết lập được quan hệ ngoại giao chính thức với triều đình Siam. Là những thị trường giàu tiềm năng, quan hệ ngoại giao giữa hai nước Nhật - Siam luôn gắn bó chặt chẽ với quan hệ thương mại.

    Cũng theo báo cáo của Schouten viết năm 1629 thì quan hệ thương mại của Nhật Bản ở Siam giành được nhiều lợi nhuận hơn so với Hà Lan. Ngoài việc mua bán trực tiếp ở thị trường Siam, các thương nhân Nhật Bản còn tìm được nhiều loại hàng hoá quý hiếm của một số nước trong khu vực, luôn bán được giá cao trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, nếu không có các thương nhân giàu kinh nghiệm hoạt động ở Siam đặc biệt là vai trò của Yamada thì Nhật Bản khó có thể mua được da hươu và một số đặc sản khác. Nhờ giành được độc quyền trong một số lĩnh vực kinh tế mà hoạt động thương mại của Nhật Bản luôn thu được lợi nhuận cao.

    Sau khi Nhật Bản đóng cửa đất nước, Hà Lan lại phải cạnh tranh với các thương nhân Trung Hoa để giành chiếm thị trường Siam cũng như con đường vận chuyển hàng hoá đến Nhật Bản. Do vẫn được phép duy trì quan hệ với Nhật Bản mà nhiều thuyền buôn Trung Quốc, ngoài việc tiến hành các hoạt động buôn bán với các quốc gia Đông Nam á, còn chở hàng trực tiếp từ Ayutthaya đến Nagasaki. Theo ghi chép của Hà Lan, trong thời gian 1651-1686, có 103 thuyền buôn Trung Quốc đến Nhật Bản. Hàng nhập từ Siam đến Nhật Bản vẫn chủ yếu là các sản phẩm da thú, gỗ quý, gỗ nhuộm vải, đường, hạt tiêu, trầm, san hô cùng nhiều sản phẩm của khu vực Nam á. Chỉ riêng năm 1653 các thuyền buôn Trung Quốc đã đem 6.322 bộ da hươu đến Nhật Bản và năm 1654 là 17.800 bộ.

    Theo Kai hentai, một bộ sử có giá trị viết về quan hệ giữa Trung Quốc với các nước giai đoạn 1644-1728, thì từ năm 1687 đến 1728 có 236 thuyền buôn Đông Nam á đến Trung Quốc. Trong số đó, thuyền của Hoa thương đến từ Quảng Nam là nhiều nhất, tiếp đến là từ Siam 48 chiếc. Thuyền đến từ Siam thường có trọng tải lớn hơn nhiều so với các thuyền buôn Đông Nam á khác(10). Ngoài hàng hoá, mỗi thuyền còn chở được khoảng trên 100 người. Khi đi ra nước ngoài nhiều thuyền còn có cả sự tham gia của các quan chức ngoại giao. Trong thời gian từ 1687 đến 1728 có 29 trong tổng số 48 chuyến thuyền của nhà vua đã được phái đến Trung Quốc và rất có thể nhiều thuyền trong số đó đã đến Nhật Bản. Những năm 1660, khối Nhật kiều ở Siam vẫn đóng vai trò tích cực nhất định trong việc duy trì quan hệ giữa Siam với Nhật Bản. Năm 1668, hai thuyền buôn đã đến Nagasaki và một số thương gia Thái đã đem theo trầm, san hô và tiền bạc của ba người Nhật sống ở Siam gửi về cho gia đình của họ.

    Sau khi lệnh toả quốc được ban hành, do không thể trở về tổ quốc nhưng nhờ có tri thức và kinh nghiệm buôn bán, lại thông thuộc thị trường và các tuyến giao thương trên biển nên nhiều thương nhân Nhật Bản sống ở Siam vẫn tiếp tục tham gia vào các hoạt động kinh tế giữa các nước trong khu vực. Theo quan sát của Engelbert Kaempfer, vào năm 1690 trên chuyến tàu buôn của Công ty Đông ấn từ Batavia đến Ayutthaya đã có một người Nhật tên là Hanjemon đi cùng. Theo ông, đó là một người trung thực, cần cù, nói thạo tiếng Hoa, Malayu, Thái và Việt ngữ gồm cả tiếng Đàng Trong và Đàng Ngoài(11). Qua mô tả của E. Kaempfer, có thể thấy Hanjemon là một người trải nghiệm và chắc chắn ông đã tham gia nhiều thương vụ ở các cảng phía Nam Trung Quốc cũng như Đông Nam á.

    Kimura Hanjemon đã sống ở Ayuthaya nhiều năm. Bản thân ông có quan hệ khá mật thiết với thương nhân Hà Lan và là người cung cấp da hươu cho Công ty Đông ấn ở thị truờng Siam. Vào năm 1633, ông đã từng cung cấp 3.000 bộ da hươu. Năm 1642, Kimura trở thành người đứng đầu cộng đồng Nhật kiều trên đất Thái. Tuy không thể trở về nước nhưng bản thân ông vẫn có nhiều bà con sống ở Nagasaki. Trong điều kiện cách biệt, ông vẫn nỗ lực để duy trì quan hệ kinh tế giữa Siam với Nhật Bản cũng như các thương cảng khác trong khu vực. Có thể coi Kimura Hanjemon là một trường hợp điển hình về tinh thần kiên trì của các thương nhân Nhật Bản sống ở Siam sau khi Nhật Bản thực thi chính sách toả quốc.

    Tuy đã căn bản giành được thế chủ động ở thị trường Siam nhưng những năm 1641-1645, trong số 11 tàu buôn của Công ty Đông ấn Hà Lan từ Batavia đến Nagasaki, vẫn chỉ có 1 tàu ghé qua Ayutthaya còn hầu hết các chuyến tàu khác đều dừng lại ở Đài Loan để cất thêm hàng hoặc bán một phần hàng hoá. Sau khoảng thời gian đó, do đã đạt được thoả thuận với vua Prasat Thong trong việc cho tàu đến mua da động vật nên hàng năm Hà Lan đã cử 2 hoặc 3 chuyến tàu đến Ayutthaya để lấy hàng rồi mới nhổ neo đi Nagasaki. Nhưng từ năm 1652, do triều đình Siam chủ trương giành độc quyền về ngoại thương nên hàng năm chỉ có 1 tàu buôn Hà Lan được phép đến Siam. Thêm vào đó, những hàng hoá mà thương nhân Hà Lan tiêu thụ ở thị trường Nhật Bản luôn gặp phải sự cạnh tranh của Hoa thương. Về sau, để tăng nguồn thu và cải thiện quan hệ ngoại giao, một số thuyền buôn của chính quyền Siam đã chủ động đem hàng đến Nhật Bản.

    Thời vua Prasat Thong (1630-1655), triều đình Siam đã cử hai đoàn ngoại giao đến Nhật Bản nhưng Mạc phủ đã không chấp nhận các phái đoàn này. Lý do đưa ra là, vua Prasat Thong đã tiếm quyền, điều đó là trái với đạo lý truyền thống và kẻ tiếm quyền cần phải bị trừng phạt. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước Nhật - Siam vẫn tiếp tục được duy trì. Nhìn chung, hàng năm thuyền buôn của Siam vẫn đến Nhật Bản để mua về: vàng, bạc, đồng, tranh tường, trà... Nhưng cũng từ thời gian đó quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng phụ thuộc vào vai trò của Hà Lan và Hoa kiều. Các tàu buôn Hà Lan và thuyền mành Trung Hoa trở thành trung gian vận chuyển hàng hoá trên tuyến thương mại Siam - Nhật. Đến thời cầm quyền của vua Narai (1656-1688), Siam đã thiết lập được quan hệ với nhiều nước trong khu vực. Khả năng thương mại của nước này dựa chủ yếu vào việc khai thác tiềm năng của tự nhiên như: da động vật, gỗ quý, chì, thiếc, sừng tê, tổ yến... Những loại hàng hoá đó đã được sử dụng để đổi lấy bạc, đồng và nhiều mặt hàng xa xỉ khác của Nhật Bản; kẽm, tơ lụa, gốm sứ của Trung Quốc và vải bông, tơ lụa của vùng Nam Á.

    Trong quan hệ với vương quốc Siam, ngoài các thương nhân Đông Nam Á và phương Tây, nhiều đoàn thuyền buôn của các nước Nam Á và khu vực Trung Đông cũng đã đến Ayutthaya để cất hàng. Mặc dù nhận được những điều kiện thuận lợi nhưng tất cả các thương thuyền đều phải chịu sự kiểm soát và nộp thuế cho chính quyền Siam. So với các thương nhân ngoại quốc, giới Hoa thương luôn giành được nhiều đặc quyền và chỉ phải nộp một mức thuế ưu đãi. Trên thương trường, các kim loại quý của Nhật Bản như bạc và đồng vẫn được nhiều nước ưa chuộng. Nhờ vẫn duy trì được quan hệ với Nhật Bản mà thương nhân Hà Lan, Trung Hoa... đã thu được nhiều nguồn lợi lớn. Để giành độc quyền, Hà Lan muốn kiềm chế tham vọng của chính quyền Narai trong quan hệ với Nhật Bản thông qua hoạt động của thương nhân Thái và Trung Hoa trong khi đó chính quyền Ayutthaya vẫn muốn giành quyền chủ động trong việc xuất khẩu da hươu và gỗ nhuộm vải sang thị trường Nhật Bản.

    Đến cuối thế kỷ XVII, trong điều kiện chính trị tương đối ổn định, Mạc phủ Edo đã phần nào nới lỏng chính sách toả quốc và cho phép một số thương thuyền các nước đến buôn bán. Theo Kojiran, một cuốn sách cổ ghi lại nhiều hoạt động thương mại của Nhật Bản thời Edo, thì thuyền buôn của Siam đã đến Nhật Bản sáu lần vào các năm: 1680, 1687, 1693, 1716, 1718 và 1745. Trên những chuyến đi biển xa, chính quyền Siam thường phải sử dụng nhiều thuỷ thủ Hoa kiều. Năm 1678, vương triều Siam lại nổ ra một cuộc chính biến, Faulkon một quan lại cao cấp bị giết hại. Trước sự đe doạ về tính mạng, gia đình ông phải trốn trong nhà vị thuyền trưởng người Nhật tại khu Nhật kiều. Đây có thể coi là sự kiện cuối cùng về sự tham gia của người Nhật vào các hoạt động chính trị ở Siam. Tuy nhiên, trong những năm 1692-1697, vua Siam là Phetracha (1688-1703) vẫn cử nhiều thuyền buôn sang các nước châu Á. Riêng năm 1692, có 1 thuyền đến Trung Quốc và 4 thuyền hướng về vùng biển Nhật Bản. Năm 1697, nhà vua lại phái 2 thuyền đến Nhật Bản chở theo 10.000 bộ da thú. Năm 1699, vua Phetracha và hoàng tử Sorasak lại phái 1 thương thuyền mang theo nhiều sản vật nổi tiếng: gỗ quý, thiếc, đường, lụa và 8.000 bộ da động vật sang trao đổi ở Nagasaki(12). Các thuyền của Siam buôn bán với Nhật Bản trên đường trở về thường dừng lại ở một vài cảng Trung Quốc để bán đồng và một phần hàng hoá của Nhật đồng thời cất thêm tơ lụa...

    Bước sang thế kỷ XVIII, dưới thời vua Thaisra (1708-1732) vai trò thương mại của người Nhật ở Ayutthaya ngày càng suy giảm. Ngoài những tác động của tình hình thương mại khu vực và quốc tế thì sự suy thoái đó còn xuất phát từ chính những hoạt động kinh tế và biến đổi của cộng đồng Nhật kiều trên đất Thái. Do không thể duy trì những liên hệ trực tiếp với tổ quốc và bị cắt rời khỏi dòng mạch kinh tế trọng yếu, người Nhật bị mất dần đi vai trò kinh tế và chính trị của mình. Sau hơn 1 thế kỷ định cư, thế hệ những người Nhật đầu tiên đến làm ăn, sinh sống ở Siam hầu hết đã qua đời, con cháu họ kết hôn với người Thái và hoà nhập vào cuộc sống chung của cư dân bản địa. Sự cố kết cộng đồng, đặc tính Nhật Bản trong các hoạt động xã hội và kinh tế vì thế mà cũng dần trở nên phai nhạt.

    Năm 1717, trong bối cảnh quan hệ Nhật - Siam đã suy yếu, khi xác lập quan hệ ngoại giao với Tây Ban Nha, vua Siam Somdet Prachao Thaisra (1708-1732) đã quyết định cấp vùng đất cửa sông Chao Phraya, trên đó có khu định cư của người Nhật cho Tây Ban Nha. Nhiều gia đình người Nhật và hợp hôn Nhật - Thái đã phải chuyển đến địa bàn khác sinh sống. Từ đó, hoạt động thương mại của Nhật kiều ở vương quốc Siam hoàn toàn dựa vào chính sách của triều đình Siam cũng như tình hình chính trị Thái Lan.

    Sau một thời kỳ gián đoạn, vào thế kỷ XIX quan hệ giữa hai nước Nhật Bản - Siam lại được phục dựng với một nội dung và tính chất mới.

    TS. Nguyễn Văn Kim
    Trường Đại học KHXH & NV Hà Nội
    Lược trích từ tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  12. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (10-02-2012)

  13. #7
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ NHẬT BẢN - ASEAN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP ĐÔNG Á



    Quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam á vốn là mối quan hệ có nguồn gốc từ rất lâu trong lịch sử. Ngay từ khoảng giữa thế kỷ thứ 15, những thương nhân Nhật Bản đã có mặt ở Đông Nam á. Khi đó, Hội An của Việt Nam đ• trở thành cảng biển lớn nhất trong khu vực, là nơi trung chuyển hàng hoá và giao lưu văn hoá giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam á. Nguồn gốc sâu xa của mối quan hệ này chính là những lợi ích mà hai bên có thể có được từ việc khai thác các lợi thế so sánh vốn có của mỗi bên phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - x• hội. Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, song lại có tiềm năng về khoa học công nghệ. Là một nước công nghiệp phát triển muộn hơn so với các nước Âu - Mỹ, Nhật Bản không những cần nguyên, nhiên, vật liệu mà còn cần cả vốn, lao động và thị trường tiêu thụ. Trong khi đó Đông Nam á có thể được coi là mảnh đất màu mỡ với nhiều tiềm năng chưa được khai thác.

    Đó là một khu vực giầu tài nguyên thiên nhiên, giao thông thuận tiện, với nguồn lao động rẻ và phong phú, và cũng là một thị trường khá lớn với dân số hơn 500 triệu người. Chính vì vậy mà từ lâu Nhật Bản đ• để ý đến khu vực này và bằng những con đường khác nhau nhằm khai thác các tiềm năng ở đây.

    Tuy nhiên, quan hệ Nhật Bản - Đông Nam á không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, với khẩu hiệu “xây dựng khu vực thịnh vượng chung Đại Đông á”, Nhật Bản đ• tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và bóc lột thuộc địa ở khu vực này. Mặc dù với sự thất bại thảm hại của chủ nghĩa phát xít Nhật sau chiến tranh, Nhật Bản đ• phải từ bỏ (được quy định trong Hiến pháp) mọi ý định gây chiến và tham chiến mà chỉ tập trung vào phát triển kinh tế dưới sự bảo trợ của chiếc ô quân sự Mỹ. Nhưng những dư âm của chủ nghĩa phát xít Nhật và thực tế bóc lột thuộc địa thâm độc đối với các nước Đông Nam á vẫn còn ám ảnh các nước này cho đến tận ngày nay. Chính vì vậy mà nhiều cố gắng của Nhật Bản trong việc thúc đẩy và mở rộng hơn nữa các quan hệ hợp tác với các nước Đông Nam á đ• không tránh khỏi gặp phải những khó khăn nhất định. Mặc dù vậy, có thể nói rằng trong hơn nửa thế kỷ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, nhất là từ sau khi ASEAN được thành lập (1967), với những nỗ lực của cả hai bên và sự hiểu biết lẫn nhau ngày càng tăng lên, quan hệ Nhật Bản - ASEAN đ• đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, góp phần đáng kể vào sự phát triển hoà bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đặc biệt là trong bối cảnh xu thế hội nhập Đông á ngày càng trở nên rõ nét, các quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN đ• có những tác động quan trọng vào tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN nói riêng và tiến trình hội nhập Đông á nói chung.

    1. Tổng quan về quan hệ Nhật Bản - ASEAN và những tác động đến sự phát triển của ASEAN

    Quan hệ với các nước Đông Nam á luôn là một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Ngay từ thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đ• đưa ra nhiều sáng kiến về hợp tác khu vực Đông á như sáng kiến của Ngoại trưởng Okita về hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (Pacific Economic Cooperation) đầu những năm 1960. Năm 1966 Nhật Bản tổ chức Hội nghị cấp bộ trưởng về phát triển kinh tế ở Đông Nam á. Tuy nhiên, bước thay đổi quan trọng trong chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam á chỉ được thể hiện một cách rõ nét kể từ năm 1977 trong chuyến thăm Manila của Thủ tướng Nhật Bản, Fukuda. Trong chuyến thăm này, Thủ tướng Nhật Bản đ• nhấn mạnh đến việc cần phải xây dựng cầu nối giữa ASEAN và Nhật Bản với một số bước đi thích hợp mà sau này được biết đến như là học thuyết Fukuda với ý tưởng quay trở lại châu á của Nhật Bản. Kể từ đó đến nay, quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN ngày càng được củng cố và phát triển theo thời gian và qua hàng loạt các cuộc hội đàm cấp cao của các nhà l•nh đạo hai bên. Trong chuyến thăm các nước ASEAN vào tháng 5/1991, Thủ trướng Nhật Bản, Toshiki Kafu, một lần nữa đ• nhấn mạnh đến vai trò, sức mạnh kinh tế của Nhật Bản và cam kết tiếp tục viện trợ cho các nước ASEAN. Tiếp đó, năm 1993, Thủ tướng Nhật Bản, Miyazawa đ• đưa ra quan điểm hợp tác tập trung vào 4 điểm chính là: (1) tăng cường hợp tác ổn định khu vực; (2) tiếp tục phát triển kinh tế; (3) hợp tác giải quyết các vấn đề toàn cầu; và (4) phối hợp với ASEAN để phát triển Đông Dương (thành lập Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương).

    Trong dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập ASEAN vào năm 1997, Thủ tướng Nhật Bản, Hashimoto, đ• công bố học thuyết mới nêu bật chính sách đối ngoại của Nhật Bản ở khu vực châu á - Thái Bình Dương trong đó đặc biệt chú trọng tới các nước ASEAN bao gồm 3 điểm chính là: (1) tăng cường hơn nữa quan hệ Nhật Bản - ASEAN, tiến hành trao đổi định kỳ cấp cao Nhật Bản - ASEAN; (2) đánh giá vai trò của ASEAN và việc mở rộng ASEAN 10, hy vọng sẽ tiếp tục mở cửa với thế giới, hướng ra toàn cầu; và (3) bày tỏ quyết tâm của Nhật Bản chuyển mối quan hệ của Nhật Bản từ chỗ lấy quan hệ hợp tác kinh tế làm trung tâm sang các lĩnh vực chính trị, an ninh, văn hoá, phúc lợi x• hội và các vấn đề toàn cầu. Cơ chế hợp tác ASEAN + 3 cũng xuất phát từ sáng kiến của Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto năm 1996 về việc tổ chức gặp gỡ thượng đỉnh Nhật Bản - ASEAN. Chính trên cơ sở sáng kiến này mà ASEAN đ• đưa ra đề nghị cuộc gặp thượng đỉnh đó được mở rộng cho cả Trung Quốc và Hàn Quốc và đ• được các bên chấp nhận.

    Tiếp đó, trong cuộc gặp gỡ cấp cao ASEAN + 3 ở Manila, Thủ tướng Nhật Bản Obuchi đ• đưa ra một kế hoạch toàn diện để tăng cường và trao đổi các nguồn nhân lực ở Đông á, theo đó số tiền 80 tỉ USD mà Nhật Bản hứa giúp các nước trong khu vực để giảm bớt gánh nặng khủng hoảng tài chính sẽ tiếp tục được sử dụng cho việc phát triển tập trung vào “con người” . Cũng trong cuộc gặp gỡ này Thủ tướng Obuchi khẳng định Nhật Bản sẵn sàng tăng cường và mở rộng sự hỗ trợ kinh tế giúp các nước ASEAN giảm bớt khoảng cách giữa các nước thành viên và nâng cao năng lực của tổ chức ASEAN.

    Tiếp theo, trong chuyến thăm 5 nước ASEAN tháng 1/2002, Thủ tướng Nhật Bản, Koizumi, đ• đưa ra ý tưởng thành lập khối cộng đồng Đông á mở rộng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự hợp tác toàn diện Nhật Bản - ASEAN với các mục tiêu cụ thể là cải cách và phồn vinh, hợp tác vì sự ổn định và hợp tác vì tương lai. Trong chuyến thăm này, Thủ tướng Nhật Bản đ• đưa ra 5 sáng kiến nhằm mở rộng phạm vi hợp tác ở Đông á . Một trong những sáng kiến đó là việc tổ chức hội nghị cấp bộ trưởng ASEAN + 3 về sáng kiến phát triển ở Đông á (Initiative for Development in East Asia - IDEA) đ• được thực hiện bằng cuộc gặp gỡ đầu tiên tại Tokyo tháng 8/2002. Tại cuộc gặp gỡ này, Thủ tướng Nhật Bản đ• nhấn mạnh đến vai trò của viện trợ phát triển chính thức (ODA) như một cơ sở để tăng trưởng kinh tế thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng và thực hiện phát triển “tập trung vào con người” bắt đầu từ giáo dục và cam kết dù đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính phủ Nhật Bản sẽ tích cực giúp đỡ các nước Đông Nam á thông qua viện trợ.

    Như vậy có thể thấy là Nhật Bản đ• đóng một vai trò tích cực trong tiến trình phát triển của ASEAN và thể hiện ý muốn trở thành một đầu tàu về hợp tác Đông á. Những sự kiện này cũng cho thấy rõ các nước ASEAN luôn có vị trí vai trò hết sức quan trọng đối với Nhật Bản. Điều này không chỉ thể hiện ở trên bàn ngoại giao, ở mong muốn của mỗi bên mà còn được thể hiện rất rõ trong các quan hệ hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN. Quan hệ hợp tác này tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau:

    - Về quan hệ thương mại: các nước ASEAN ngày càng trở thành thị trường quan trọng của Nhật Bản và trên thực tế kim ngạch thương mại hai chiều của Nhật Bản với ASEAN liên tục tăng lên qua các năm. Năm 1990, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật Bản vào các nước ASEAN đạt 11,49% tổng giá trị xuất khẩu của Nhật Bản, (33,66% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản vào châu á). Năm 1993 đạt 13,71% (33,51% tổng xuất khẩu của Nhật Bản vào châu á).

    Tính đến năm 1996, xuất khẩu của Nhật Bản vào khu vực này đ• tăng liên tục 14 năm liền và nhập khẩu tăng 9 năm liền. Kể từ năm 1997 do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế ở khu vực nên quan hệ thương mại giữa hai bên có xu hướng chững lại. Tuy nhiên tính chung trong giai đoạn 1998 - 2006, kim ngạch buôn bán trung bình hàng năm giữa Nhật Bản và ASEAN tăng 15%. ASEAN thường xuyên cung cấp cho Nhật Bản khoảng 16% nhu cầu dầu mỏ, 30% đồng, 35% bôxít, 12% kẽm, 37% gỗ, 100% thiếc và cao su tự nhiên. Với sự gia tăng mậu dịch như vậy nên Nhật Bản đ• trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của ASEAN. Nếu việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa hai bên thành công, vào năm 2020, Nhật Bản có thể xuất khẩu sang ASEAN khoảng 67 tỷ USD/năm (gấp 1,5 lần so với hiện nay).

    - Về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ASEAN: cùng với sự phát triển của quan hệ thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào ASEAN cũng gia tăng nhanh chóng trong hơn hai thập niên gần đây kể từ sau Hiệp ước Plaza (1985). Sự mở rộng này đ• giữ một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN. Năm 1986, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào ASEAN chỉ chiếm khoảng 3,8% trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản trên toàn cầu, thì đến năm 1990 tỷ lệ đó đ• tăng lên đến 6,6%. Những năm tiếp theo, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản bước vào suy thoái, tổng FDI của Nhật Bản trên toàn cầu giảm sút đáng kể nhưng tỷ lệ đầu tư vào ASEAN vẫn tiếp tục tăng mạnh, đạt 10,3% và 14% tương ứng vào các năm 1995 và 1997.

    Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á, đầu tư của Nhật Bản vào khu vực ASEAN đ• giảm từ mức 9,7% trong tổng đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài xuống còn 5,8% vào năm 1999. Tuy nhiên, nếu tính chung trong các năm từ 1995 đến 1999 Nhật Bản vẫn đứng đầu trong danh sách các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực này. Kể từ những năm đầu thế kỷ 21 đến nay, đầu tư của Nhật Bản vào các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt là vào các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, Lào, Mianma... Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản đ• đem lại nhiều lợi ích cho các nước ASEAN. Có thể nói rằng những thành tựu của các nước ASEAN đạt được trong thời gian qua một phần đáng kể được tạo bởi sự trợ giúp quan trọng về vốn thông qua các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và của Nhật Bản nói riêng. Nếu như không có đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó đặc biệt là FDI từ Nhật Bản thì các nước ASEAN khó có thể nhanh chóng khôi phục kinh tế sau khủng hoảng 1997-1998 và đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và năng động như hiện nay.

    - Về viện trợ phát triển chính thức: Ngoài hợp tác về thương mại và đầu tư, Nhật Bản còn hỗ trợ cho các nước ASEAN thông qua viện trợ phát triển chính thức (ODA). Cho dù kinh tế có gặp khó khăn trong suốt hơn một thập kỷ kể từ đầu những năm 1990 đến nay, song ODA của Nhật Bản dành cho các nước ASEAN vẫn luôn đứng đầu trong số các nước và các tổ chức tài trợ trên thế giới với 9,5 tỷ USD năm 1997; 10,68 tỷ USD năm 1998 và 10,5 tỷ USD năm 1999. Có thể nói, các nước ASEAN là nhóm nước nhận viện trợ nhiều nhất của Nhật Bản, chiếm 39,7% năm 1980; 50,5% năm 1990 và tiếp tục chiếm trên 50% cho đến tận những năm gần đây. Các khoản ODA của Nhật Bản đ• đóng góp cho việc điện khí hoá cho 22% thành phố và thị trấn ở Thái Lan; 50% tổng sản lượng điện ở Malaixia, 55% khả năng cung cấp nước ở thành phố Giacácta (Inđônêxia) và 50% mạng phủ sóng viba, điện thoại ở Inđônêxia. Trong nông nghiệp, các khoản cho vay bằng đồng yên Nhật đ• cấp vốn cho các dự án thuỷ lợi, phục vụ tưới tiêu cho 9% tổng số đất nông nghiệp ở Inđônêxia và các dự án cung cấp nước tới khoảng 30% tổng số hộ gia đình ở Thái Lan. Trong các lĩnh vực hợp tác kỹ thuật, các nước ASEAN vẫn là nhóm nước nhận viện trợ kỹ thuật của Nhật Bản nhiều nhất. Vấn đề đào tạo sinh viên các nước ASEAN là nội dung chính của chương trình đào tạo kỹ thuật. Ngoài ra còn có các nội dung khác như vấn đề về y tế, sức khoẻ cộng đồng (Thái Lan), nông nghiệp và giao thông vận tải (Inđônêxia), sản xuất và cơ sở hạ tầng x• hội (Malaixia), nông nghiệp và hành chính công (Philippin), thương mại và cơ sở hạ tầng (Xingapo)...

    Các khoản viện trợ ODA của Nhật Bản đ• giúp các nước ASEAN đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế x㕠hội, tạo việc làm cho khu vực nông thôn và khuyến khích tiêu dùng. Nhờ có ODA các nước ASEAN cũng đ• thu được lợi từ việc chuyển giao kỹ thuật và kỹ năng quản lý của Nhật Bản. Có thể nói, viện trợ phát triển của Nhật Bản đ• góp phần rất lớn đối với sự phát triển của các nước ASEAN, điều này thực sự được ghi nhận là những đóng góp quốc tế mang tính thiện chí cho sự ổn định và phát triển của các nước ASEAN nói riêng cũng như của cả khu vực nói chung.

    2. Hợp tác Nhật Bản - ASEAN trong những năm gần đây và triển vọng

    Trong bối cảnh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực ngày càng được đẩy mạnh và quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN ngày càng đạt được những thành quả hết sức tốt đẹp, trong chuyến thăm Singapore vào năm 2002, Thủ tướng Nhật Bản đ• đưa ra sáng kiến xây dựng đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP). Sáng kiến này đ• được L•nh đạo các nước ASEAN và Nhật Bản đồng thuận ký tuyên bố chung vào tháng 11 năm 2002 tại Brunei. Sau đó, khung khổ và các định hướng triển khai sáng kiến này đ• được đưa ra thảo luận trong cuộc họp các Bộ trưởng kinh tế ASEAN và Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (AEM-METI) vào tháng 9 năm 2003. Từ thời điểm này, các quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN đ• bước sang một giai đoạn mới với những thay đổi cả về chất và lượng. Những thay đổi này có thể tóm lược lại trên một số nét chính sau đây:

    - Thứ nhất, hợp tác ASEAN - Nhật Bản sẽ hướng tới mục tiêu xây dựng một khu vực mậu dịch tự do giữa Nhật Bản với toàn khu vực ASEAN (khác với hình thức hợp tác trước đây là hợp tác song phương với từng thành viên của ASEAN). Trong bối cảnh khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đang được hiện thực hoá thì việc hình thành khu vực mậu dịch tự do Nhật Bản - ASEAN sẽ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho doanh nghiệp của cả các nước ASEAN lẫn Nhật Bản .

    - Thứ hai, chính phủ các nước ASEAN cần thay đổi chính sách thương mại/đầu tư và chính sách công nghiệp từ cách tiếp cận truyền thống (dựa vào hạn chế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu) sang cách tiếp cận theo hướng xây dựng chính sách dựa vào cạnh tranh trên thị trường ASEAN thống nhất. Các nước ASEAN phải chuyển từ lợi thế lao động rẻ, sản xuất lắp ráp hàng hoá có giá trị gia tăng thấp, dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu sang sản xuất hàng hoá giá trị gia tăng cao hơn dựa vào lợi thế cạnh tranh của mình và các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước.

    - Thứ ba, về phía mình, Nhật Bản cũng nỗ lực cải cách công nghiệp và cải cách hệ thống công ty để đẩy mạnh hơn nữa quan hệ thương mại và đầu tư của Nhật Bản với các nước ASEAN. Đồng thời Nhật Bản cũng cần có những chính sách đáp ứng mong đợi của các nước ASEAN trong việc mở rộng xuất khẩu hàng nông sản và dịch chuyển lao động theo hướng mang lại lợi ích dài hạn cho cả Nhật Bản và ASEAN.

    - Thứ tư, do sự cách bịêt về trình độ phát triển giữa các nước ASEAN còn khá lớn, cụ thể là giữa 6 thành viên ASEAN cũ (ASEAN-6) và 4 nước mới gia nhập ASEAN (Cambuchia, Lào, Myanma và Việt Nam gọi tắt là CLMV), hợp tác Nhật Bản - ASEAN cần chú trọng vào việc giúp đỡ các nước CLMV hội nhập thành công với cộng đồng ASEAN. Ngoài sự giúp đỡ thông qua chính sách đối xử đặc biệt (như việc kéo dài chính sách tự do hóa thương mại cho các nước này), Nhật Bản và ASEAN cần thiết kế những chương trình hỗ trợ đặc biệt khác giúp các nước CLMV tham gia vào AJCEP đồng thời tăng cường sự đoàn kết trong ASEAN, tạo thành một thị trường ASEAN thống nhất.

    - Thứ năm, hợp tác Nhật Bản - ASEAN không chỉ dừng lại ở tự do hóa thương mại và đầu tư mà còn khuyến khích các hình thức hợp tác kinh tế và kỹ thuật khác, trong đó quan trọng nhất là hợp tác phát triển thị trường vốn. Dưới góc độ này, Nhật Bản và ASEAN có thể kế thừa hoặc đưa ra những sáng kiến mới tương tự như sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ APEC.

    - Thứ sáu, mục tiêu cuối cùng của hợp tác Nhật Bản - ASEAN không phải là tạo lập một tiểu khu vực mậu dịch tự do khép kín chỉ có ASEAN và Nhật Bản mà nhằm hướng tới một mục tiêu xa hơn là xây dựng khu vực mậu dịch tự do Đông á, trong đó bao gồm các tiểu khu vực như ASEAN và Đông Bắc á.

    Để thực hiện được các mục tiêu trên, trong những năm trước mắt, hợp tác Nhật Bản - ASEAN sẽ tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể như:

    (1) Giảm các rào cản đối với thương mại và đầu tư: Việc giảm các rào cản này sẽ có lợi đối với cả ASEAN và Nhật Bản trong việc thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư và mở rộng trao đổi thương mại. Ngay trong trường hợp khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc được thực hiện trước thì khu vực mậu dịch ASEAN - Nhật Bản vẫn mang lại lợi ích cho các nước ASEAN và Nhật Bản. Về vấn đề này, trong những năm gần đây đàm phán về khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa Nhật Bản và ASEAN đ• được xúc tiến và đ• đạt được những kết quả sơ bộ. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong đàm phán hiện nay là vấn đề thị trường nông sản của Nhật Bản và việc nhận lao động xuất khẩu từ các nước ASEAN sang Nhật Bản.

    (2) Hoàn thành việc thiết lập thị trường chung ASEAN: Thực hiện đúng tiến trình đ• cam kết nhằm thiết lập thị trường chung ASEAN là điều kiện cần để ASEAN tối đa hoá những lợi ích mà hợp tác Nhật Bản - ASEAN có thể mang lại. Ngoài ra, những hoạt động hợp tác khác như hài hoà hoá và đơn giản hoá các thủ tục hải quan, những tiêu chuẩn hàng hoá và qui định kỹ thuật trong khu vực cũng là rất cần thiết để tạo điều kiện giảm chi phí giao dịch thương mại giữa các nước trong khu vực. Trong bối cảnh các công ty Nhật Bản đẩy mạnh chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế, trong đó có sự phân công lao động giữa Nhật Bản và các nước ASEAN thì việc thúc đẩy sớm hình thành một thị trường chung ASEAN sẽ tạo điều kiện để các công ty Nhật Bản có thể khai thác tối đa những lợi ích do sự phân công lao động trong khu vực mang lại. Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, Nhật Bản ủng hộ ý tưởng xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, để thực hiện ý tưởng đó, ASEAN phải có những bước cải cách nhất định trong tổ chức nội bộ Ban Thư ký ASEAN. Đặc biệt ASEAN phải chuyển từ hình thức "hợp tác liên chính phủ" sang hình thức "thể chế khu vực".

    (3) Cải cách cơ cấu ngành trong các nền kinh tế ASEAN: Những năm gần đây, sau quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hoá, các nước ASEAN, đặc biệt là ASEAN-6, đ• mất dần lợi thế về lao động giản đơn dồi dào. Trình độ công nghệ của các nước này hiện nay vẫn còn rất thấp, chưa tạo ra được các lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc, các nước ASEAN cần phải tự tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới thông qua việc phát triển nguồn nhân lực, tạo lập những kỹ năng và công nghệ mới để đạt đến một nấc thang công nghệ cao hơn. Các nước ASEAN nên chuyển định hướng chính sách công nghiệp từ việc bảo hộ một số ngành công nghiệp trong nước sang chính sách khuyến khích cạnh tranh. Chỉ khi các doanh nghiệp ASEAN thành công trong thị trường khu vực ASEAN hay Đông á thì họ mới có thể vươn lên những nấc thang công nghệ cao hơn như các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản. Theo hướng đó, cả khu vực sẽ thu hút được nhiều vốn hơn và giữa các doanh nghiệp trong khu vực sẽ có sự phân công lao động, có mối liên hệ chặt chẽ hơn và cùng có lợi. Hiện nay, một số nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia đang chuyển hướng từ nền kinh tế dựa vào sản xuất sang nền kinh tế dựa vào tri thức. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, cho đến nay, Indonesia và Philipines vẫn chưa có dấu hiệu chuyển dịch rõ ràng theo hướng này.

    (4) Cải cách cơ cấu của Nhật Bản: Sau thời kỳ suy thoái, hiện nay kinh tế Nhật Bản đ• và đang phục hồi. Nhật Bản cũng đang tiến hành cải cách hành chính công, luật pháp và cơ cấu công nghiệp và hệ thống công ty. Trong những năm gần đây, chính phủ Nhật Bản đ• tiến hành chương trình cải cách lớn về chính sách thuế, chi tiêu công trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phúc lợi x• hội và chính quyền địa phương. Tháng 4 năm 2003, Nhật Bản đ• ban hành Luật Tái Thiết Công Nghiệp và những Khu vực Đặc biệt cho Cải cách cơ cấu. Để có thể sớm triển khai thực hiện sáng kiến đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản, Nhật Bản cần xem xét việc mở rộng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp (mở rộng hơn nữa thị trường Nhật Bản cho hàng nông sản của các nước ASEAN) và dịch chuyển lao động (đặc biệt là lao động có kỹ thuật cao) giữa hai bên.

    (5) Hợp tác xây dựng môi trường chính sách: Để có thể tận dụng được các lợi ích do hợp tác Nhật Bản - ASEAN mang lại, Nhật Bản và ASEAN cần phải phối hợp trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. Đặc biệt là các hoạt động hợp tác như: hợp tác về thủ tục hải quan, tiêu chuẩn hàng hoá, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, những quy định về vận chuyển và truyền thông cần phải được thảo luận để có thể tạo môi trường đầu tư thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh và thông suốt trong toàn khu vực. Nhật Bản cần sẵn sàng cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật để giúp các nước ASEAN phát triển tiềm năng công nghệ và kỹ năng lao động.

    (6) Hợp tác tài chính và phát triển thị trường vốn: Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 cho thấy hợp tác tài chính giữa các nước trong khu vực là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của khu vực trong tương lai. Chính vì vậy, hợp tác tài chính cần được tăng cường trong khuôn khổ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản. Cụ thể là hỗ trợ thực hiện sáng kiến đang có hiện nay như hỗ trợ phát triển thị trường trái phiếu châu á. Cả Nhật Bản và ASEAN cần có những biện pháp hỗ trợ cho thị trường này hoạt động một cách hiệu quả thông qua việc thiết lập các quy định hoạt động của thị trường, cơ chế trao đổi và thanh toán, phát triển các chuẩn mực và đánh giá mức độ tín nhiệm khu vực. Ngoài ra, trong lĩnh vực này, các bên có thể xem xét việc thúc đẩy hợp tác về phát triển cơ chế giám sát kinh tế, điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, xem xét việc sử dụng đồng yên rộng r•i hơn trong ASEAN và thử nghiệm một số hình thức điều phối tỷ giá hối đoái giữa đồng yên và các đồng tiền khác trong khu vực.

    (7) Hỗ trợ các nước thành viên mới của ASEAN: Hợp tác Nhật Bản - ASEAN cần chú trọng hỗ trợ đối với các thành viên mới của ASEAN như Căm-pu-chia, Lào, Việt Nam, và Myanma để sớm rút ngắn khoảng cách giữa các nước này với các nước ASEAN-6. Về vấn đề này, bước đầu Nhật Bản đ• dành 3 tỷ US$ để phát triển nhân lực và lưu vực sông Mêkông. Trong đó, 1,5 tỷ US$ sẽ được dành cho việc phát triển Tiểu vùng Mêkông và 1,5 tỷ US$ sẽ được dành cho các nhu cầu cụ thể, gồm cả chi phí cho việc trao đổi khoảng 40.000 người giữa Nhật Bản và ASEAN trong các lĩnh vực hoạch định chính sách và hành chính công; công nghiệp và năng lượng; và trong 5 lĩnh vực ưu tiên khác.

    *
    * *

    Tóm lại, hợp tác Nhật Bản - ASEAN đ• trải qua một quá trình nhiều thập kỷ với những bước thăng trầm song luôn nằm trong chiều hướng phát triển đi lên. Từ chỗ chỉ đơn thuần là những bạn hàng thương mại của nhau, hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN đ• phát triển sang nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Hiện nay, quá trình hợp tác Nhật Bản - ASEAN đ• tiến tới việc xây dựng đối tác kinh tế toàn diện trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Nhật Bản và ASEAN cũng đ• và đang có những tiến triển khả quan. Có thể khẳng định rằng những tác động của quá trình hợp tác Nhật Bản - ASEAN đến tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN là to lớn và rất hữu hiệu. Những tác động này không chỉ dừng ở việc giúp cho ASEAN xây dựng và phát triển để sớm trở thành một cộng đồng kinh tế, cộng đồng chính trị, và cộng đồng văn hoá trong một tương lai không xa, mà còn góp phần đáng kể vào tiến trình liên kết Đông á - một xu hướng khách quan khó có thể đảo ngược trong điều kiện hiện nay.

    ---

    Tài liệu tham khảo

    Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc á, các số: 3(63) tháng 5/2006; 7(67), 9/2006; 9(69), 11/2006;
    Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, các số: 2(50), 4/2004; 2(56), 4/2005; 1(37) 2/2002; 2(44) 4/2003; 3(45), 6/2003;
    Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, các số: 2(26) 2/2000; 4(34), 8/2001
    Ngô Xuân Bình (Chủ biên), Quan hệ Nhật Bản - ASEAN: Chính sách và tài trợ ODA, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1999
    Tài liệu tham khảo, TTXVN (nhiều số)
    Thời báo Kinh tế Việt Nam (nhiều số)
    Báo Đầu tư (nhiều số).
    Japanese - Affiliated Manufacturers in Asia - ASEAN and India - (Survey 2006), Overseas Research Department, Japan External Trade Organization (JETRO), March 2007;
    Japanese Economy in 2006 and Beyond: Despite Slow Growth, Record Postwar Expansion Achieved, Japanese Economy Division, Economic Research Department, Japan External Trade Organization (JETRO), February 2007;

    TS. Trần Quang Minh
    Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  14. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (10-02-2012)

  15. #8
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ NHẬT BẢN – HÀN QUỐC HIỆN NAY


    Nhật Bản và Hàn Quốc là hai quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng trong cơ chế chính trị cũng như cùng sở hữu các giá trị cơ bản trong việc giải quyết các vấn về chính trị, xã hội… Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong những năm gần đây, mặc dù quan hệ hai nước đang được làm nóng lên bởi các cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo hai bên và việc chung tay giải quyết vấn đề hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên, nhưng chiều sâu quan hệ hai nước vẫn còn những lỗ hổng lớn không dễ gì xóa bỏ như cuộc chiếm đóng Bán đảo Triều Tiên của Nhật Bản trong lịch sử, vấn đề viết lại sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản, vấn đề tranh chấp chủ quyền đảo Tokdo mà Nhật Bản gọi là Takeshima…

    Để góp phần chia sẻ những hiểu biết về quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản trong giai đoạn 2008-2009, Thạc sĩ Ngô Hương Lan đã đưa ra bài viết “Về quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc hiện nay”. Nội dung của bài viết gồm ba phần chính như sau:

    1. Điểm lại tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Hàn Quốc từ năm 2008-2009.

    Trong phần này, tác giả nêu khái quát những nét chính xung quanh việc trúng cử của Tổng thống Lee Myung-bak, những việc ông làm cũng như những thách thức mà ông phải giải quyết sau khi nhậm chức. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu một số nét về Quốc hội Hàn Quốc cũng như tăng trưởng kinh tế của nước này giai đoạn 2008-2009.

    2. Quan hệ ngoại giao và giao lưu nhân dân Hàn – Nhật.

    Trong đó, tác giả nêu bật những sự kiện quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Hàn Quốc và Nhật Bản thông qua những cuộc viếng thăm lẫn nhau, các cuộc gặp cấp cao của các nhà lãnh đạo hai bên, các cuộc hội đàm cấp cao cũng như các hội nghị thượng đỉnh của hai nước. Ngoài ra tác giả cũng nêu lên những sự kiện nổi bật trong quan hệ giao lưu nhân dân giữa hai nước như “Lễ hội giao lưu Hàn – Nhật”, “Lễ hội giao lưu Nhật – Hàn giữa học sinh THCS và THPT”, “Chương trình giao lưu thanh, thiếu niên Châu Á thế kỷ 21”…

    3. Quan hệ kinh tế Hàn – Nhật.

    Ở đây, tác giả phân tích sự phát triển trong quan hệ kinh tế giữa hai nước trong những năm gần đây thông qua những số liệu cụ thể. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu bật một số sự kiện giao lưu kinh tế Hàn – Nhật như Hội nghị Kinh tế cấp cao Hàn – Nhật, Hội nghị bàn tròn Kinh tế Nhật – Hàn, Đàm phám về Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA) Hàn – Nhật…

    Như vậy, thông qua bài viết này chúng ta có thể thấy rằng, quan hệ Hàn – Nhật trong những năm gần đây đã liên tục được làm ấm lên bởi các chuyến công du “ngoại giao con thoi” cấp thượng đỉnh. Qua đó, hai nước đã tìm được tiếng nói chung trong một số vấn đề cùng quan tâm. Tuy nhiên, sự hợp tác giữa hai nước trong gia đoạn này mới chỉ là “các biện pháp tạm thời lấp chỗ trống”. Bài viết là nguồn tư liệu thực sự bổ ích khi nghiên cứu về Hàn Quốc cũng như Nhật Bản, mà đặc biệt là khi nghiên cứu về quan hệ Hàn – Nhật trong những năm gần đây.

    Tác giả: Th.s Ngô Hương Lan
    Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  16. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (10-02-2012)

  17. #9
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    QUAN HỆ KINH TẾ NHẬT BẢN – LÀO (1991-2007)


    Trên cơ sở phân tích, lý giải nhu cầu của cả Nhật Bản và Lào trong quan hệ kinh tế giai đoạn từ 1991 đến 2007, đồng thời nêu lên những thành tựu chủ yếu của mối quan hệ này trên lĩnh vực ODA, thương mại đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, qua đó, phân tích những tác động của mối quan hệ này đối với hai nước, khu vực và thế giới, những thách thức, triển vọng của mối quan hệ này, bài viết “Quan hệ kinh tế Nhật Bản – Lào (1991-2007) của tác giả Hoàng Thị Minh Hoa và Trần Xuân Hiệp có nội dung chính như sau:

    1. Cơ sở quan hệ kinh tế Nhật Bản – Lào giai đoạn từ 1991 đến 2007.

    Trong phần này tác giả trình bày về quá trình hình thành và phát triển quan hệ Nhật Bản - Lào, những thành tựu đạt được cũng như khó khăn thách thức cần giải quyết. Những yếu tố cơ bản của quan hệ kinh tế Nhật Bản - Lào.

    2. Quan hệ Nhật bản – Lào trên lĩnh vực kinh tế 1991-2007.

    Phần này gồm hai nội dung chính. Thứ nhất, tác giả tập trung vào quan hệ Nhật Bản - Lào trên lĩnh vực viện trợ phát triển chính thức (ODA), trong đó phân tích về chính sách ODA của Nhật Bản đối với Lào. Chính sách này tuân thủ chặt chẽ những khuôn khổ và nguyên tắc cơ bản của Hiến chương ODA đã được Chính phủ Nhật Bản thông qua năm 1992. Thứ hai, tác giả trình bày quan hệ Nhật Bản - Lào trên lĩnh vực quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư.

    3. Nhận xét.

    Trong phần này, tác giả đưa ra những nhận xét khái quát, cơ bản về mối quan hệ Nhật Bản - Lào trong giai đoạn 1991-2007 trên các lĩnh vực chính trị ngoại giao và kinh tế, đồng thời cũng đề cập đến quan hệ kinh tế Nhật Bản - Campuchia, quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN+5 và Việt Nam.

    Tóm lại, bài viết đã cho thấy rõ hơn vai trò của Nhật Bản đối với Đông Nam Á và ba nước Đông Dương, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về chính sách đối ngoại khôn ngoan, mềm dẻo nhằm khai thác lợi thế về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý của Nhật Bản cho Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bài viết là nguồn tư liệu vô cùng bổ ích cho bạn đọc khi nghiên cứu về Nhật Bản cũng như quan hệ của Nhật Bản với các nước trong khu vực Đông Á.

    Tác giả:
    * PGS. TS. Trần Thị Minh Hoa
    Đại học Sư phạm Huế
    * Ths. Trần Xuân Hiệp
    Đại học Duy Tân Đà Nẵng
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  18. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (10-02-2012)

  19. #10
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    VAI TRÒ CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á NHÌN TỪ TRIỂN VỌNG CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ


    Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, cùng với quá trình phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế Nhật đã trải qua không dưới bốn lần điều chỉnh. Lần đầu là thời kỳ ngay sau chiến tranh, thực hiện điều chỉnh cơ cấu từ thời chiến sang thời bình với việc thúc đẩy mạnh tiến trình khôi phục các ngành công nghiệp bị sa sút trong chiến tranh.

    Lần thứ hai là thời kỳ tăng trưởng cao, tập trung phát triển ngành công nghiệp nặng và hoá chất ở một số vùng kinh tế trọng điểm. Tiếp đó là thời kỳ chuyển dịch cơ cấu sau khủng hoảng dầu mỏ. Ở thời kỳ này, các ngành kinh tế của Nhật chuyển từ đặc trưng sử dụng nhiều nguyên nhiên liệu tạo ra các sản phẩm to và nặng sang các ngành sử dụng ít nguyên nhiên liệu, có hàm lượng chất xám cao nhằm tạo ra các sản phẩm nhỏ và nhẹ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đầu những năm 1990 trở lại đây, Nhật đang trong thời kỳ chuyển dịch cơ cấu mới với đặc trưng là phát triển các ngành dịch vụ và những ngành kinh tế mới tiêu biểu cho nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá. Có thể thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành hiện nay diễn ra khó khăn và phức tạp hơn. Bởi lẽ trong những năm 1970 và 1980 sự chuyển dịch cơ cấu diễn ra trong một mô hình phát triển, ở đó về đại thể thể chế quản lý không có sự thay đổi căn bản, các quan hệ lợi ích vốn dĩ hình thành trong suốt quá trình tăng trưởng từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai không bị phá vỡ. Ngược lại, cuộc cải cách điều chỉnh cơ cấu ngành hiện nay đòi hỏi phải thay đổi toàn diện, đó là một bước chuyển căn bản sang một nền kinh tế mà ở đó tri thức là động lực chính của tăng trưởng. Trong bước chuyển đổi mới này sẽ làm thay đổi lợi thế phát triển và đòi hỏi một cơ chế quản lý mới thích ứng, một cơ chế mở khác với cơ chế có tích chất khép kín của Nhật Bản trước đây. Và cũng vì vậy, nó đụng chạm đến cả quan niệm văn hoá truyền thống trong kinh doanh, đòi hỏi người Nhật không chỉ phải điều chỉnh thích ứng mà còn phải sáng tạo một mô thức phát triển mới.

    2. Cuộc điều chỉnh cơ cấu ngành từ đầu những năm 1990 lại đây không chỉ xuất phát từ đòi hỏi nội tại của bản thân nền kinh tế Nhật Bản mà còn được thúc đẩy bởi sức ép của xu thế toàn cầu hoá kinh tế, của sự phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ thế giới. Có thể thấy cho tới những năm 1980 nền kinh tế Nhật bước vào giai đoạn chín muồi của một nền kinh tế đã công nghiệp hoá. Trong nền kinh tế này, các ngành tiêu biểu cho nền kinh tế công nghiệp phát triển đã đạt được trình độ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó đặt ra hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội làm cho chi phí sản xuất sản phẩm ngày càng tăng dẫn đến giảm lợi thế so sánh trong cạnh tranh. Trong khi đó, công nghệ mới và sự phát triển của khoa học đã và đang mở ra những lĩnh vực và ngành kinh doanh mới phù hợp với điều kiện của các xã hội phát triển. Nói cách khác, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế ở Nhật thời gian vừa qua xuất phát từ chính sự phát triển đã chín muồi của nền kinh tế công nghiệp hoá và nó cũng được thúc đẩy bởi các điều kiện quốc tế. Nhìn lại hơn một thập niên qua, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Nhật diễn ra theo chiều hướng giảm tỷ trọng các ngành thuộc khu vực I và II, tăng tỷ trọng các ngành thuộc khu vực III trong thu nhập quốc dân. Nếu năm 1990 tỷ trọng các ngành thuộc khu vực I trong GDP là 2,8% thì đến năm 2000 giảm xuống chỉ còn ở mức 1,5%. Tỷ trọng các ngành trong khu vực II cũng có xu hướng giảm từ 36% xuống còn 29% trong cùng thời gian trên. Trong khi đó tỷ trọng của khu vực III lại tăng lên khá mạnh từ xấp xỉ 61% lên 69,5% GDP. Nếu xét bản thân từng phân ngành trong khu vực I và II thì nhìn chung đều có xu hướng giảm tỷ trọng, trừ một vài ngành liên quan đến các chế phẩm dầu mỏ và than. Trong khu vực III, ngoài sự giảm sút tỷ trọng của ngành bất động sản và vận tải, còn lại đều tăng và tăng với tốc độ cao. Sự chuyển dịch cơ cấu như trên được thể hiện khá rõ trong cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong thập niên 1970 Nhật khuyến khích nhập nguyên liệu thô và khoáng sản trong khi đó những năm 1980 - 1990 nhập chủ yếu là các sản phẩm chế tạo và máy móc thiết bị, chiếm tới xấp xỉ 60% tổng mức nhập khẩu của Nhật. Trong cơ cấu xuất khẩu, các sản phẩm điện tử và bán dẫn trở thành các sản phẩm chủ lực. Năm 2000 xuất khẩu sản phẩm điện tử tăng 18,2% so với năm 1999. Nếu tính trong 10 công ty hàng đầu sản xuất linh kiện bán dẫn ở thập niên 1990 thì Nhật có tới 5 và chiếm tới 27% thị phần sản xuất linh kiện bán dẫn thế giới(1). Thị trường sản phẩm bán dẫn của Nhật chủ yếu là các quốc gia Đông á và Mỹ.

    Điều cần thấy là Nhà nước Nhật Bản đã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nói trên. Trong những năm 1990, Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách định hướng và thực hiện hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế. Có thể thấy những chính sách đó tựu chung vào 2 nhóm như sau: thứ nhất là chú trọng hỗ trợ các ngành công nghệ cao và những ngành kinh doanh mới. Đó là những ngành như sản xuất máy tính, điện thoại di động thế hệ mới, sản phẩm linh kiện bán dẫn, các thiết bị viễn thông, các ngành dịch vụ dựa trên công nghệ tin học, các sản phẩm dựa trên công nghệ sinh học và vật liệu mới.... Những ngành này được xem là động lực cho sự khôi phục của nền kinh tế Nhật. Chính phủ đã ban hành các luật, chính sách kích thích kinh doanh như Luật hỗ trợ phát triển các ngành công nghệ cao năm 1991, sửa đổi Luật kinh doanh viễn thông năm 1997, ban hành sửa đổi Luật truyền tin 1998, Luật sửa đổi doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2000, Chương trình phát triển công nghệ thông tin 2000 - 2005.... Bên cạnh đó là hàng loạt chương trình kích thích tăng trưởng với các giải pháp hỗ trợ tài chính trong nghiên cứu - phát triển và giảm thuế trong các hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu đều nhằm vào kích cầu và cải cách cơ cấu tạo điều kiện cho sự khôi phục các ngành kinh tế cũng như phát triển những lĩnh vực sản xuất mới. Thứ hai là hỗ trợ một số ngành công nghiệp đang bị suy giảm. Sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng nhiều ngành công nghiệp then chốt của Nhật Bản vốn tạo ra sự thần kỳ trong những thập niên 1960 - 1970 đã lâm vào tình trạng suy giảm như: công nghiệp sắt thép, đóng tàu, hoá chất, sản xuất ô tô.... Cùng với chú trọng phát triển những ngành công nghệ mới, Chính phủ Nhật Bản vẫn chủ trương hỗ trợ các ngành công nghiệp này tránh tình trạng phá sản, qua đó đảm bảo công ăn việc làm kết hợp với thúc đẩy chuyển giao sang các quốc gia khác, nhất là các quốc gia trong khu vực Đông Á. Các giải pháp chủ yếu như đổi mới trang thiết bị và công nghệ, hỗ trợ tài chính thông qua các chương trình, dự án và giảm thuế... Bên cạnh đó Nhật chủ trương đẩy mạnh chuyển giao công nghệ sản xuất các ngành công nghiệp cơ bản nêu trên.

    3. Triển vọng của điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế Nhật Bản trong những năm tới ra sao? Điều này phụ thuộc vào sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế và đặc biệt là vào quyết tâm của Chính phủ và giới kinh doanh Nhật Bản. Chúng ta thấy so với các chương trình cải cách trước, chương trình cải cách ưu việt của Chính phủ ông Koizumi nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nhiều điểm mới, như chủ yếu tập trung vào các biện pháp nhằm cải cách bộ máy nhà nước và các hình thức cải cách thể chế. Việc bổ sung ngân sách sẽ bị hạn chế mà ưu tiên cho các biện pháp khẩn cấp liên quan trực tiếp đến cải cách cơ cấu. Nếu như trong các chương trình cải cách điều chỉnh trước đây chỉ tập trung kích cầu, thì chương trình của Chính phủ Koizumi lại nhấn mạnh đến các giải pháp có tính khả thi nhằm tạo công ăn việc làm và làm sống động lại các hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, điều cần thấy là, trong chương trình cải cách này còn không ít mâu thuẫn. Chẳng hạn, để ổn định nền tài chính, Chính phủ khống chế phát hành công trái, song trong thực tế nhu cầu chi tiêu lại rất lớn. Trong khi đó Chính phủ lại chủ trương là không tăng thuế. Rõ ràng là, trong bối cảnh hiện nay với một nguồn tài chính có hạn để khôi phục kinh tế và giải quyết các khoản nợ khó đòi không phải là vấn đề đơn giản. Chủ trương trong những năm tới sẽ giảm mạnh đầu tư công cộng hàng năm, mỗi năm tiết kiệm 3000 tỷ yên chi tiêu chính phủ. Nhưng trong tình hình kinh tế đang giảm sút mà lại giảm đầu tư công cộng thì nguy cơ suy thoái tiếp tục là khó tránh khỏi. Hơn nữa việc đẩy mạnh cải cách chế độ thuế, sửa đổi chế độ lương hưu và phúc lợi xã hội sẽ làm tăng sự đóng góp của quần chúng. Đó là chưa kể việc cải cách cơ cấu sẽ tác động đến công ăn việc làm, trước mắt số thất nghiệp sẽ tăng.

    Mặc dù còn những khó khăn như trên, song chiều hướng của sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong những năm qua đã rõ. Bản thân người Nhật cũng đã nhận thức được để thúc đẩy tăng trưởng rõ ràng cần phải đi vào phát triển các ngành kinh tế mới. Chính vì vậy, trong chương trình cải cách gần đây ông Koizumi đã xác định 3 hướng cơ bản. Thứ nhất, Tập trung cải cách thể chế và thông qua các giải pháp nhằm kích thích nền kinh tế và tạo lập ngành mới, mở rộng công ăn việc làm. Thứ hai, ban hành chính sách bảo đảm mở rộng công ăn việc làm và thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ ba, triển khai một số biện pháp khẩn cấp để thúc đẩy cải cách cơ cấu. Chẳng hạn, xây dựng chương trình Chính phủ điện tử, phát triển các cơ sở hạ tầng thông tin tại các trường học, mở rộng hệ thống nhà trẻ mẫu giáo, cải tạo các cơ sở xử lý rác thải, phát triển hệ thống nhà ở cho công nhân viên chức, xây dựng cơ chế phối hợp giữa địa phương với các doanh nghiệp và cơ sở khoa học nhằm chú trọng phát triển kinh tế vùng. Theo các hướng ưu tiên trên trong thời gian tới riêng trong lĩnh vực cơ cấu ngành sẽ có những bước thay đổi mạnh mẽ theo chiều hướng: những ngành công nghệ thông tin, sinh học và vật liệu mới sẽ có cơ hội phát triển do bản thân nhu cầu về các sản phẩm của lĩnh vực này ngày càng tăng trên thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời do sự quan tâm hỗ trợ và đầu tư phát triển nghiên cứu của Chính phủ. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ cũng sẽ có bước phát triển mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội mới. Ngược lại các ngành kinh tế khu vực I và II sẽ tiếp tục giảm về tỷ trọng trong cơ cấu GDP và vì vậy cơ cấu xuất nhập khẩu cũng thay đổi theo. Việc nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng sẽ ngày một tăng, và sản phẩm gắn liên công nghệ thông tin sẽ trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Trong xu hướng chuyển đổi này quá trình chuyển dịch các cơ sở sản xuất ra nước ngoài sẽ tiếp tục tăng cường kể cả trong những ngành công nghiệp vốn là trụ cột của nền kinh tế thời gian qua, thay vào đó là việc xác lập các ngành kinh tế mới cùng với phát triển một số sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao.
    4. Điều chúng ta cần thấy là, việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế như trên của Nhật sẽ có tác động mạnh đến quan hệ kinh tế của Nhật Bản với các bạn hàng, nhất là các bạn hàng trong khối ASEAN và qua đó cũng thể hiện vị trí, vai trò của nền kinh tế Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á. Trong những năm qua Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư hàng đầu, là bạn hàng và nhà cung cấp ODA lớn cho Đông Nam Á. Điều đó cho thấy mức độ tác động của những điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế Nhật Bản tới ASEAN là không nhỏ. Có thể nhận thấy trên các phương diện chính sau:

    Thứ nhất là, sự cải cách cơ cấu ngành kinh tế Nhật Bản tác động tới xu hướng và tiến trình cải cách cơ cấu kinh tế của các quốc gia khu vực. Nhật Bản là một cường quốc kinh tế khu vực và thế giới. Sự thay đổi của kinh tế Nhật vì vậy có ảnh hưởng khá mạnh tới tình hình kinh tế thế giới nói chung và khu vực nói riêng. Các chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia trong khu vực đương nhiên phải dựa trên thực trạng của nền kinh tế quốc gia song không thể không tính đến những biến động của tình hình kinh tế khu vực và thế giới, nhất là với quốc gia lớn có quan hệ kinh tế chặt chẽ như Nhật Bản. Trong xu thế cải cách chuyển sang nền kinh tế mới với việc tập trung phát triển các ngành công nghệ sinh học, tin học... của nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, thì tiến trình hiện đại hoá của các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam đòi hỏi phải tính đến bước chuyển này. Rõ ràng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần kết hợp với cả tin học hoá nền kinh tế. Đối với Việt Nam, cơ cấu kinh tế không chỉ đơn thuần là bước chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp mà phải là sự kết hợp đồng thời của bước chuyển sang nền kinh tế mới - kinh tế tri thức. Trong bước chuyển này cần phải tính toán kế thừa tiếp nhận những ngành công nghiệp gì mà Nhật chuyển giao kết hợp xây dựng ngay những ngành phù hợp với xu thế phát triển mới của thế giới.

    Những cải cách cơ cấu và thể chế kinh tế Nhật theo hướng giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước, gia tăng tự do hoá trong kinh doanh chắc chắn sẽ làm cho môi trường kinh doanh trong nước thông thoáng hơn, mở ra cơ hội cho cải thiện tình hình kinh doanh vốn bị trì trệ bấy lâu nay. Điều này không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động thương mại mà còn cho phép các quốc gia, trong đó có Việt Nam dễ tiếp cận hơn với các nguồn vốn vay từ Nhật Bản và mặt khác cũng là cơ hội để Nhật Bản đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.

    Thứ hai là, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế của Nhật sẽ làm thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do vậy sẽ ảnh hưởng đến tổng lượng kim ngạch và cơ cấu thương mại hai chiều cũng như tác động đến xác lập cơ cấu ngành kinh tế của ASEAN. Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế sẽ dẫn tới sự thay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, do vậy sẽ trực tiếp tác động đến quan hệ thương mại song phương, qua đó đặt ra cơ hội cũng như thách thức đối với các nền kinh tế. Cụ thể do tập trung vào các ngành đại diện cho nền kinh tế tri thức, cho nên nhu cầu về các sản phẩm liên quan sẽ tăng lên. Bên cạnh đó do chuyển đổi cơ cấu sản xuất, các ngành sản xuất đồ dùng sinh hoạt cho con người như dệt may, thực phẩm, trang trí... sẽ di chuyển sang các quốc gia khu vực. Do vậy, Nhật sẽ có nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng này. Dựa trên sự thay đổi đó các quốc gia khu vực tuỳ thuộc trình độ phát triển kinh tế và lợi thế so sánh mà tạo lập cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả.

    Có thể thấy sự chuyển dịch cơ cấu ở các quốc gia thuộc ASEAN trong thời gian trước đây gắn khá chặt với các bước chuyển trong nền kinh tế Nhật Bản. Với chiến lược “nhập khẩu - sản xuất - xuất khẩu” và chiến lược “đổi mới - sản xuất - xuất khẩu” mà Nhật thực thi đã biến các quốc gia ASEAN thành cơ sở sản xuất và phân phối các hàng hoá có nguồn gốc từ Nhật và cũng vì vậy đã hình thành một mạng lưới với các cơ sở sản xuất trong các ngành kinh tế gắn bó phụ thuộc với nhau. Nhìn chung, Nhật đều là bạn hàng chủ yếu của các quốc gia ASEAN cho nên những thay đổi trong cơ cấu sản xuất của Nhật sẽ kéo theo sự thay đổi cơ cấu sản xuất trong các quốc gia ASEAN.

    Thứ ba là, gia tăng nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài. Cũng do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang tập trung phát triển các ngành công nghệ cao dẫn đến phần lớn thanh niên, lao động Nhật sẽ tập trung vào các ngành nghề mới, những lĩnh vực có thu nhập cao. Các lĩnh vực lao động tạp vụ và giản đơn sẽ ít được chú ý và đây chính là cơ hội cho việc xuất khẩu lao động vào thị trường Nhật - vốn là thị trường đóng cửa khá cao trong thời gian trước đây. Trên thực tế hơn một thập kỷ qua, nhất là những năm gần đây lao động nước ngoài mà nhất là lao động Châu Á xâm nhập vào Nhật Bản ngày một tăng. Các lĩnh vực thu hút nhiều lao động nước ngoài ở Nhật là xây dựng, chế tạo, dịch vụ khách sạn, chế biến thực phẩm.... Năm 1993 ở Nhật có trên 23 vạn lao động nước ngoài, 1996 - 22,5 vạn và đến 1999 là trên 28 vạn. Do quá trình già hoá dân số gia tăng, số lượng lao động trẻ bổ sung cho nền kinh tế ngày một hạn chế và cùng với đó là ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá gia tăng buộc Nhật phải cải cách, mở cửa thị trường lao động. Chính vì vậy dòng lao động nước ngoài vào Nhật những năm gần đây có gia tăng. Riêng Việt Nam trong thời gian từ 1992 đến 2000 chúng ta đã xuất khẩu sang Nhật 7500 lao động. Trong tương lai, nhu cầu lao động nhập khẩu của nền kinh tế Nhật tiếp tục gia tăng do quá trình tái cơ cấu và phục hồi kinh tế. Vì vậy, chúng ta sẽ có cơ hội nâng cao số lao động sang thị trường này. Việc gia tăng lao động sang Nhật Bản một mặt giải quyết tình trạng dư thừa lao động ở Việt Nam và quan trọng hơn là qua thực tế người lao động có thể tiếp thu kỹ thuật và học tập những kinh nghiệm quản lý của Nhật.

    Thứ tư là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật sẽ thúc đẩy chuyển giao công nghệ kỹ thuật và quản lý thông qua đầu tư trực tiếp trong những ngành đòi hỏi nhiều lao động, nguyên liệu. Trong chiến lược điều chỉnh cơ cấu của mình, Nhật Bản chú trọng tập trung vào phát triển các ngành công nghệ cao, còn những ngành cần nhiều lao động và nguyên liệu sẽ tiếp tục được đẩy mạnh chuyển giao sang các nước và lãnh thổ kém phát triển hơn. Vì vậy có thể thấy đây là cơ hội gia tăng thu hút vốn đầu tư và tạo lập, phát triển những ngành công nghiệp như sắt thép, ôtô, xi măng, hoá chất, đối với các quốc gia trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mình.

    Trên thực tế Nhật là một trong những quốc gia hàng đầu trong thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Quá trình bành trướng kinh tế qua FDI của Nhật được thực hiện ngay từ những năm 1950, song qui mô và tốc độ tăng mạnh là thời kỳ những năm 1970, 1980, đặc biệt là nửa sau những năm 1980 lại đây. Do quá trình đồng yên tăng giá cùng với chính sách tự do hoá và ưu tiên thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao và mới trong nước, nên nhiều công ty đã gia tăng chuyển cơ sở sản xuất cần nhiều lao động và nguyên liệu ra nước ngoài. Các nước thuộc ASEAN luôn đứng đầu danh sách các nước nhận đầu tư của Nhật Bản. Về cơ cấu đầu tư, nguồn vốn của Nhật chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng và khai thác các nguồn nguyên nhiên liệu. Xu hướng này giảm dần theo thời gian cùng với sự tăng lên các khoản đầu tư vào chế tạo dịch vụ. Tỷ lệ đầu tư vào sản xuất tăng lên từ mức 58% năm 1989 lên 68,1% năm 1999. Đặc điểm nổi bật của đầu tư Nhật Bản những năm gần đây là sự gia tăng vào khu vực chế tạo. Năm 1997 đầu tư vào lĩnh vực chế tạo ở Malaixia chiếm 72,5%, ở Thái Lan là 72,3% và ở Philippin là 57,8%.

    Trong xu thế tiếp tục bố trí lại cơ cấu sản xuất của các công ty Nhật nhằm tận dụng lợi thế so sánh của mình cũng như của các quốc gia bản địa, các cơ hội tiếp nhận vốn kỹ thuật qua các hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty Nhật ở Việt Nam sẽ tăng lên. Tuy nhiên, điều đó có thành hiện thực hay không lại tuỳ thuộc rất lớn vào sức hút của môi trường kinh doanh Việt Nam. Đây quả là một thách thức đối với chúng ta trong những năm tới đây. Đó là chưa kể tới sự cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn từ Nhật của các quốc gia lân cận cũng hết sức quyết liệt.

    Tóm lại, tuy kinh tế Nhật Bản đang còn khó khăn, nhưng xét về triển vọng cải cách ta thấy đây vẫn là nền kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực. Những bước chuyển của nền kinh tế này không chỉ tạo ra cơ hội trong việc xác lập cơ cấu ngành nghề mà còn mở ra đường hướng đi lên tiếp theo của các nền kinh tế khu vực. Nói cách khác trong những năm tới đây vai trò đầu tàu thúc đẩy cải cách và tăng trưởng khu vực của nền kinh tế Nhật Bản chưa có ai thay thế được, ngay cả bản thân Trung Quốc. Do trình độ còn thấp nên Trung Quốc chỉ đóng vai trò là thị trường đầu tư và tiêu thụ sản phẩm hơn là vai trò định hướng dẫn dắt cải cách và tăng trưởng như Nhật Bản.

    Tài liệu tham khảo

    1. Vũ Văn Hà (chủ biên): Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hoá, NXB Khoa học xã hội. Hà Nội, 2003.
    2. Kế hoạch cải cách kinh tế trọn gói của Nhật Bản, Thông tin Tài chính, số 9 năm 2001.
    3. Bijan B. Agherli: Structural change in Japan - Macroeconomic impact and policy challenges, IMF, Washington, 1998.

    Vũ Văn Hà
    Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  20. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    ANNY_3003 (11-02-2012), lynkloo (10-02-2012)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 30-11-2010, 10:32 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 10-01-2009, 09:16 PM
  3. Nhật sa thải quan chức tiết lộ thông tin mật
    By Kasumi in forum Toàn cảnh Nhật Bản
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 18-01-2008, 08:47 PM
  4. Nhật Bản: 5 yếu tố quan trọng thúc đẩy 3R thành công
    By Kasumi in forum Toàn cảnh Nhật Bản
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 03-11-2007, 04:59 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 06-09-2007, 05:20 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •