>
kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Ðề tài: Samurai - Biểu tượng vinh nhục

  1. #1
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts

    Samurai - Biểu tượng vinh nhục

    Hai kiếm, một dài một ngắn (katana & wakizashi), lấp ló ở thắt lưng, chiếc áo kimono phủ dài từ trên xuống, quần rộng thùng thình như váy, áo khoác ngắn, đỉnh đầu cạo nhẵn thín và hai bên tóc túm lại thành lọn, đi đến đâu thì mọi ánh mắt đổ dồn đến đấy, dân thường không được bất kính, nếu trái lệnh có thể bị chém đầu... Đó là những phác thảo về Samurai - tầng lớp cao cấp nhất Nhật Bản một thời. Hiếm khi thấy Samurai vội vã bởi chính phủ không yêu cầu họ làm việc. Người ta chỉ yêu cầu các Samurai luyện gươm để sắn sàng bảo vệ chế độ mỗi khi có biến.


    Tính cách Samurai

    Mỗi Samurai đều có sẵn trong dòng máu của mình tính quân tử và tinh thần thượng võ. Trước mỗi cuộc giao tranh, Samurai sẽ phi ngựa ra giữa trận tiền, xưng danh và liệt kê chi tiết công mà anh ta đạt được cho... đối thủ nghe (ghê chứa? ^^), ví dụ: "Ta là Kajiwara Heizo Kagetory, hậu duệ đời thứ 5 của dòng họ Gongoro Kagemasa ở Kamakura. Ta là chiến binh lừng danh có thể địch nổi muôn người. Năm 16 tuổi, ta đã bị một mũi tên bắn xuyên qua mũ sắt trúng vào mắt trái. Ta đã gan dạ nhổ mũi tên đó và ném trả lại kẻ thù trước khi kết liễu chúng" (trích trong một Thiên cổ sử). Sau khi hoàn thành màn chào hỏi, Samurai mới bắt đầu xông lên.

    Danh dự của một Samurai được tính bằng số chiến lợi phẩm thu được sau trận chiến. Khi một trận đấu kết thúc, các chiến binh Samurai sẽ xưng công bằng thủ cấp của kẻ thù. Và họ sẽ được thưởng lại vàng, bạc, đất đai chiến lợi phẩm hay chức tước, bổng lộc. Công càng lớn càng được hưởng hiều và danh dự sẽ càng tăng. Samurai thua cuộc cũng có cách riêng để chứng tỏ danh dự của mình. Đó là seppuku - mổ bụng tự vẫn để xóa đi nỗi nhục chiến bại. Cách trừng phạt này đau đớn đến nỗi dần dần các Samurai phải tìm cho mình một cái chết êm ái và nhanh hơn, ví dụ: chém đầu.

    Vũ khí chính của các Samurai là kiếm. Thanh dài có tên là Katana, thanh ngắn có tên là Wakizashi. Các chuyên gia đều cho rằng Katana là loại kiếm tốt nhất thế giới. Tiếc là bí quyết sản xuất chúng giờ đây đã thất truyền. Trong thế chiến II, quân đồng minh đã ra lệnh cấm sản xuất kiếm, tịch thu và phá hủy gần 5 triệu thanh kiếm Nhật. "Lính Mỹ rất sợ kiếm Samurai, hay nói chính xác hơn là sợ sự thần bí của nó. Khi những chiến binh Nhật Bản cầm kiếm thì đó chính là lúc họ đặt toàn bộ niềm tin và sinh mệnh của mình vào sức mạnh của nó." ông Michiro Tanobe, người phụ trách Bảo tàng kiếm Nhật Bản nói.. Phải miến cưỡng lắm ông mới cho tôi sờ vào một thanh kiếm Katana 600 năm tuổi. Giá trị của thanh kiếm này là 10 triệu Yên, tương đương với $85.000.

    Chiếc kiếm thiêng liêng với một Samurai thế nào thì hình ảnh của một Samurai cũng thiêng liêng với nước Nhật như thế. Nét hấp dẫn vĩnh cửu của một Samurai bắt nguồn từ một sự thật rất đơn giản: đây là một trong những biểu tượng người hùng vĩ đại nhất thế giới, được thần thoại hóa trong hình ảnh một kiếm sĩ nhân danh bổ phận và danh dự chống lại sự tấn công của kẻ thù. Samurai là tổng hòa của một cao bồi, một hiệp sĩ, một đấu sĩ.

    Từ nững năm tháng hoàng kim...

    Lịch sử bắt đầu để ý tới Samurai vào thế kỉ thứ 10. Ban đầu, họ là lính riêng của vua và của các lãnh chú trên đất Phù Tang. Nhưng dần dà, Samurai (có nghĩa là người phục vụ) đã tạo thành một thế lực mới lấn lướt cả hoàng gia. Khi Samurai mở rộng ảnh hưởng quyền lực, các hoàng đế bị biến thành bù nhìn, mọi việc triều chính thực chất đều do những bàn tay võ biền của Samurai xếp đặt.
    Tầng lớp này đã chi phối lịch sử Nhật Bản trong gần 700 năm, từ 1185 đến 1867. Nó bắt đầu bằng việc tướng quân Youritomo lên nắm quyền nhiếp chính sau khi chiến thắng cuộc "nội chiến Samurai". Và nó kết thúc khi hoàng đế trẻ tuổi Meiji cùng rất nhiểu Samurai cấp tiến đã quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ để đưa nước Nhật bước vào thời kỳ hiện đại.
    Trong 700 năm đó, có một thế kỷ dài 20 phe cánh Samurai đã đầy nước Nhật vào cuộc "nồi da nấu thịt". Đầu chỉ thôi rơi, máu chỉ thôi đổ khi vị tướng tài Tokugawa Ieyasu đánh bại tất cả các đội quân Samurai để tái thống nhất Nhật Bản, mở ra một thời thịnh trịnh. Xuất thân binh nghiệp, trở thành Samurai can trường nhất, rồi lên ngôi vua, mở đầu cho một triều đại Tokugawa kéo dài 15 đời - Tokugawa đã gói gọn tinh thần, tính cách và số phận của Samurai qua cuộc đời mình.

    Triều đại Tokugawa, khi ấy đóng đô tại Edo, đã chia dân số ra làm bốn tầng lớp: samurai, nông dân, nghệ nhân và thương gia. Các điều luật được đề ra để quy định mỗi tầng lớp được phép sống ở đâu, ăn mặc ra sao, kiếm tiền như thế nào và sử dụng vũ khí gì. Samurai, chiếm 6% dân số lúc đó, là tầng lớp cao quý nhất, được triều đình bao cấp toàn bộ. Nhiều người trong số họ đã trở thành những quí tộc nhàn rỗi, tách biệt khỏi tất cả những gì bị coi là hạ đẳng. Trong lâu đài của mình, họ dành một phần thời gian để tổ chức tọa đàm về nghệ thuật cùng các họa sĩ, học giả, kịch tác gia, một phần để xem kịch Noh. Thời gian còn lại, họ luyện chữ, cắm hoa, chơi đàn luýt, và đặc biệt là thưởng tà - loại hình giải trí thượng lưu mà họ mê đám nhất.

    ...Đến những phút giờ mạt vận

    Nhung chính những triều vua Tokugawa yên bình đã làm tê liệt tham vọng của các Samurai. Đơn giản bởi Samurai không có chiến tranh như con chim không có bầu trời. Trong khi các Samurai vẫn giữ cho lưỡi gươm của mình luôn bén sắc thì khả năng chiến đấu của họ bắt đầu bị mài mòn. Họ trở nên trì trệ cả ở thể xác lẫn tinh thần. Khi nước Nhật đứng trước những làn sóng văn minh mới, tầng lớp được trong vọng nhât Nhật Bản bắt đầu phân cực. Một bên là những Samurai cấp tiến muốn phò minh quân mới, hoàng đế Meiji, để đưa Nhật Bản vào thời kì hiện đại. Một bên là những Samurai bảo thủ, chấp nhận mổ bụng tự sát cùng triều đại cũ Tokugawa.

    Rất may là không có cuộc cội chiến nào xảy ra. Triều đại Tokugawa sụp đổ mà hầu như không hề đổ máu. Chính phủ Meiji mới, sau khi nắm ấn, đã quyết định xoá bỏ giai cấp phong kiến, tịch thu lâu đài, chấm dứt trợ cấp và cấm Samurai đeo gươm. Samurai bắt đầu phải đối mặt với thiếu thốn - điều họ chưa từng quen.

    Rất nhiều Samurai nghèo khổ đã phải làm viên chức, võ sư, cảnh sát, kế toán. Đẩ có thêm thu nhập, họ sẵn sàng làm cả những việc chân tay như sản xuất ô, chuồng chim hay đồ gia dụng. Trong bô phim "Samurai thời mông muội", đạo diễn Yoji Yamada đã xây dựng một nhân vật Samurai phải vất vả bươn chải vì cuộc sống. Ông nói:"Tôi dã chán ngấy những bộ phim cường điệu về các anh hùng Samurai. Tôi muốn mọi người biết rằng, vào thời điểm cuối cùng, các Samurai cũng phải chịu đựng rất nhiều khó khăn. Một số thậm chí không có gì để ăn. Nhân vật chính của tôi đã phải bán gươm để chi trả cho đám ma của vợ."

    Tinh thần Samurai bất diệt

    Ngày nay, tinh thần Samurai vẫn chảy trong máu của người dân Nhật Bản. Hoài niệm về Samurai lý tưởng luôn bất diệt. Nếu không tin, hãy thử một lần đi xem kabuki - một loại kịch truyền thống của Nhật. Chủ đề chính của các vở kịch kabuki thường là đề cao danh dự, lòng trung thành, đức hy sinh và các chuẩn mực đạo đức của một chiến binh. Tâm hồn của Samurai thì sao? Tôi mang câu hỏi này đến Dajuro Ichikawa, một diễn viên đóng Samurai trong vở kịch mang tên Gongoro. "Qua vai diễn của mình tôi phải mang đến cho khán giả cái cảm giác rằng các chiến binh có ý thức về cuộc sống và cái chết khác với chúng ta, rằng anh ta sẽ chọn cái chết nếu danh dự của anh ta bị nghi ngờ. Nhiệm vụ của tôi là làm cho khán giả tin rằng vẫn tồn tại những tâm hồn như thế."

    Nếu bạn đi dạo vòng quanh các thành phố hay thị trấn của Nhật, bạn sẽ nhìn thấy hình ảnh những chiến binh Samurai kiêu kì ngạo mạn ở khắp mọi nơi. Khuôn mặt và khí của họ xuất hiện trên poster của các bột phim hành động, trên biển báo cấm lái xe khi say ruợu, trên băng rôn các bảo tàng , trên bìa sách, giá bày đồ chơi. Trong ngày lễ Thiếu nhi 5/5, các gia đình thường mua tặng đồ chơi Samurai như áo giáp, mũ bảo hiểm, gươm giáo để cầu chúc sức khỏe và sự cường tráng cho các em bé, đặc biệt là các bé trai.

    Tuy không còn nhưng Samurai vẫn để lại rất nhiều dấu ấn của mình trong đời sống Nhật Bản.Cuốn sách "Người Samurai cuối cùng" (The last Samurai) không chỉ đem lại doanh thu khổng lồ mà còn được dựng thành phim; Bushido, một điều luật của Samurai, đã được nâng lên và đưa vào chương trình giảng dạy quân sự; hàng triệu học sinh Nhật vẫn đang ngày ngày luyện kiếm (kendo), cung (archery) giống như các Samurai xưa, nhưng không phải để bảo vệ vua, mà là để rèn luyện thể chất. Tất cả những điều đó chứng tỏ một sự thật rằng Samurai vẫn sống, và hình ảnh của họ không thể dập tắt.

    Nhật Bản vừa kỷ niệm 400 năm bắt đầu của thời kỳ Edo, thời kỳ Samurai đạt tới đỉnh cao của quyền lực và các đặc ân. Đối với người dân Nhật, Samurai đang yên nghỉ trong hoà bình. Thời kỳ của Samurai đã đến và đã đi qua, như những bông hoa anh đào đã nở rộ và héo tàn. Xin kết thúc bài viết bằng dòng mở đầu của Heike Monogatari, một truyền thuyết về chiến tranh Samurai thế kỷ 13: "Những gì huy hoàng không bao giờ tồn tại mãi nhưng sẽ như giấc mơ trong một buổi tối mùa thu. Sự hùng mạnh sẽ tàn lụi, chỉ như hạt cát sau cơn gió"......

    Theo swordvn.bizhat
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  2. The Following 4 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    hiruma_yoichi (16-03-2012), lynkloo (17-03-2012), Momo-chan (16-03-2012), teenwitch (16-03-2012)

  3. #2
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Samurai, tinh thần hoa anh đào bất diệt

    Khám phá về những chiến binh từng gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho kẻ địch trên chiến trường.

    Người dân Nhật Bản mỗi khi nhắc tới từ "Samurai" thường không giấu nổi sự tự hào và kiêu hãnh. Vậy những chiến binh Samurai thời xưa có những phẩm chất gì mà lại có được sự kính trọng và tôn sùng từ hậu thế đến vậy? Hãy xem tầm ảnh hưởng của Samurai đến văn hóa truyền thống Nhật Bản lớn đến mức nào nhé!

    Mặt nạ và mũ




    Samurai với mũ giáp hoàn chỉnh.


    Trên chiến trường, các chiến binh Samurai gieo rắc nỗi kinh hoàng, thu nhặt đầu quân thù và giành lấy vinh quang với thanh kiếm của họ. Các thủ lĩnh sẽ đeo mặt nạ và mũ bảo hộ gắn những chiếc sừng.

    Họ coi trọng danh dự hơn là sự sống của chính mình, vì thế không được phép thất bại. Những chiến binh Samurai - tầng lớp chiến binh ưu tú cai trị Nhật Bản trong gần 700 năm từ 1185 – 1867, để để lại những dấu ấn không thể phai mờ trên đất nước mặt trời mọc này. Ảnh trên là mặt nạ Samurai và mũ bảo hộ được trưng bày tại bảo tàng Osaka Castle.

    Thanh kiếm Katana


    Thanh kiếm Katana đã là biểu tượng đẳng cấp của hiệp sĩ Nhật. Chỉ những Samurai mới được phép mang chúng - gần 1.000 năm liền chỉ với một thời gian gián đoạn ngắn, cho đến khi Nhật hoàng thu lại đặc quyền này năm 1867 và qua đó tước đi quyền lực của họ.


    Ngày nay, các Samurai thường được minh họa một cách cường điệu để thêm vẻ hoành tráng!


    Có ba điều quyết định cho chất lượng của một lưỡi kiếm: hình dáng, cấu trúc bề mặt của lưỡi kiếm và hamon: đường chia cắt giữa lưỡi kiếm và sống kiếm.


    Các bạn hẳn đã rất quen với hình ảnh thanh kiếm Katana được phóng tác trong những bộ truyền tranh Nhật Bản đã xuất hiện tại Việt Nam như Yaiba, Siêu quậy Teppi và cả Doraemon.

    Những cuộc chiến quyết liệt


    Vào dịp cuối tuần, người dân Nhật Bản tham gia một trận chiến được dựng lại dọc theo sông Ara tại Yorii, nơi vào năm 1590 đã xảy ra cuộc đụng độ giữa 50.000 chiến binh Samurai. Họ sử dụng đại bác, súng hoả mai, kiếm, giáo và cung tên. Bốn thế kỷ sau đó, lễ hội tại các thị trấn là một trong rất nhiều sự kiện liên quan đến Samurai tại Nhật Bản.

    Pháo đài của các Samurai


    Một cây cầu trong màn sương dẫn đến lâu đài Matsumoto, một trong những pháp đài được bảo quản tốt nhất từ triều đại của các Samurai, kéo dài từ thế kỷ 12 đến cuối thế kỷ 19.

    Trình diễn Kabuki


    Thực thi công lý một cách nhanh chóng và sắc bén, những thanh kiếm của Samurai đã trở thành nguồn cảm hứng cho kịch Kabuki. Đây là buổi diễn kịch tại lễ hội Hikiyama tại Nagahama. Nhiều câu thơ ca ngợi những Samurai anh hùng được viết cho Kabuki, một loại hình kịch xuất hiện vào đầu những năm 1600 để phục vụ nhu cầu giải trí của thường dân. Vụ bê bối giữa một nữ diễn viên và một người hâm mộ Samurai từ xưa đã buộc chính quyền cấm nữ giới tham gia kịch Kabuki, điều trở thành truyền thống cho đến ngày nay.

    Thi bắn cung





    Với niềm tin mang trong mình sức mạnh của những Samurai, một thí sinh đang kéo căng cây cung của mình trong Kyudo hay cuộc thi bắn cung, được tổ chức tại Tokyo.

    Cung tên


    Vũ khí ưa thích của những Samurai đầu tiên đang thành hình trong bàn tay (và cả bàn chân) của Shibata Kanjuro, một nghệ nhân làm cung tên thuộc thế hệ thứ 21 trong một gia đình ở Kyoto. Sử dụng loại tre 30 tuổi, ông đang căng cây cung dài 2 m cùng với những đường viền cổ điển của nó.

    Cuộc thi cưỡi ngựa bắn cung


    Da hươu góp phần hoàn thành bộ trang phục đi săn thời trung cổ cho những người tham gia Yabusame, hay chính là cuộc thi cưỡi ngựa bắn cung, một sự kiện thường niên ở Nikko. Môn thể thao này được chuyển thể từ một bài huấn luyện Samurai. Người cưỡi ngựa sẽ di chuyển liên tục và bắn tất cả những mũi tên lửa vào các mục tiêu nhỏ bằng gỗ.

    Geisha


    Việc xem Geisha trình diễn là điều cấm kị đối với các Samurai. Các Geisha múa hát trong những bộ Kimono thướt tha trong một buổi trình diễn tại nhà hát Gion Kobu Kaburenjo ở Kyoto. Hình thức giải trí này là một văn hoá đô thị phát triển trong thời kỳ Edoở Nhật Bản, trái với thị hiếu của các Shogun (tướng quân). Rất nhiều Samurai, do quá háo hức trước những buổi diễn, thường cải trang để tham dự.

    Kiếm thuật


    Khi không có chiến tranh, các Samurai sẽ quay lại với những môn như Kendo - thực hành đấu kiếm với những thanh kiếm tre.

    Sáo trúc


    Được nhắc đến như là một hình thức ăn xin được thực hiện bởi các Samurai vô chủ (Ronin). Các thành viên của Hội Komuso đi bộ tại Tokyo và thổi sáo trúc với khuôn mặt che kín. Các Ronin nhận sự bố thí trong suốt thời kỳ Edo hoà bình, họ lang thang tại các vùng nông thôn như những nhà sư khất thực.

    Festival giao chiến


    Tiếp thu bài học lịch sử một cách sinh động, nam giới tại các thị trấn hay thành phố (đôi khi cả nữ giới) với những giáo tre và kiếm nhựa trên sân bóng đá ở Yonezawa đang diễn lại một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất của Nhật Bản, trận chiến năm 1561 của Kawanakajima. Festival giao chiến này thật ra chủ yếu là các hoạt động xô đẩy một cách nhẹ nhàng, chơi âm nhạc và ngâm thơ, nhằm mô tả các hành động. Trong trận chiến thực tế, ít nhất 17.000 người đã thiệt mạng và bị thương.

    Hoa anh đào và Samurai


    “Sống và chết như hoa anh đào”. Chết như một bông hoa anh đào - chết khi đang ở đỉnh cao vẻ đẹp của nó – đây là một quan niệm đã ăn sâu vào tinh thần của các Samurai. Các chiến binh nếu gặp thất bại thà tự sát chứ không chịu sống với nỗi ô nhục.


    Học viên Sở Cứu hoả


    Những học viên phòng cháy chữa cháy đội những chiếc mũ giống với mũ của các Samurai. Trong thời bình, các Samurai sẽ phục vụ như những lính cứu hoả và làm công việc như cảnh sát. Sự dũng cảm và kỷ luật của họ lại được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày.

    Samurai hiện đại


    Ngày nay, để "trở thành" một Samurai, người ta chỉ phải trả 100 đô la cho trang phục và sự dũng cảm để xuất hiện trước công chúng. Nói vui vậy thôi, đây chỉ là một cách cosplay phổ biến, còn để trở thành samurai đích thực, không phải ai cũng làm được đâu!

    QV - Theo PLXH


    Xem thêm:

    Samurai
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  4. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (17-03-2012), teenwitch (16-03-2012)

  5. #3
    Shogun
    teenwitch's Avatar


    Thành Viên Thứ: 83322
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Đắk Lắk
    Tổng số bài viết: 1,274
    Thanks
    2,440
    Thanked 2,196 Times in 629 Posts
    Tấm ảnh cuối cùng...đi ra ngoài đường mà mặc vậy mọi người chắc tưởng mình đang đóng phim
    Còn bức thổi sáo trúc thì những cái "mũ" quả là độc đáo, vừa che đc mặt lại rất thoáng mát
    Chữ ký của teenwitch
    ~Oyasumipaana~
    *NEWS/Tegomass*YamaP*Hey!Say!JUMP/NYC*Kis-My-Ft2*Sako Tomohisa*Matsushita Yuya
    *Kana Nishino*YUI*BENI*Namie Amuro*Mai Kuraki*miwa*Ieiri Leo*Aimer*Utada Hikaru*AKB48*
    *Avril Lavigne*SS501*
    ~Kono koe ga kareru kurai ni GYOZA ni suki to ieba yokatta~

  6. #4
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Loạt bài viết về Samurai của tác giả Ngô Đức Minh trên trang vosidao.co.nr. Xin được phép mang về cho đủ bộ

    SAMURAI



    *
    * *


    LỊCH SỬ CỦA SAMURAI


    Nhật Bản đã có hàng ngàn năm lịch sử,các nhà khoa học cho rằng dân tộc Nhật Bản bắt nguồn từ nhiều nhóm người từ nhiều vùng đất khác nhau của Châu Á, bao gồm cả Hàn Quốc và Trung Quốc di cư đến.

    Vào khoảng năm 4500 trước công nguyên,quần đảo Nhật Bản được rất nhiều ngư dân,nông dân , thợ săn cư trú. Nền văn hóa sơ khai được gọi là Jomon vì thời kỳ này người ta thường dụng hoa văn dây thừng để tô điểm.

    Người Ainu chính là những cư dân đầu tiên của quần đảo Nhật Bản.Hiện nay người Ainu vẫn còn ở hầu hết các quần đảo Cực Bắc,bây giờ là Hockaido.

    Nền văn hóa chủ yếu kế tiếp của Nhật Bản xuất hiện vào khoảng năm 200 trước công nguyên, cư dân Nhật Bản còn gọi là YAYOI ,người Yayoi hầu hết làm nghề nông,các nhà khoa học tin rằng người Nhật Bản ngày nay có dáng vóc và ngôn ngữ rất giống người Yayoi xa xưa.

    Trong suốt chiều dài lịch sử Nhật Bản,chiến tranh luôn đong vai trò quan trọng. Những bộ tộc hiếu chiến kiểm soát hầu hêt quần đảo này,mỗi bộ tộc đều có các tộc trưởng.Nhật Bản chỉ có khoảng 20% đất đai thích hợp cho nông nghiệp. Chính vì sự tranh giành quyền kiểm soát đất đai đã tạo ra tầng lớp SAMURAI mà Việt Nam ta thường gọi là võ sĩ đạo ,kiếm sĩ....

    Vào năm 660 trước công nguyên,theo truyền thuyết, Jimmu Tenno trở thành chủ soái của các bộ tộc hiếu chiến .Tenno còn được biết đến với bệt hiệu làChiến Binh Siêu Phàm . Ông đã đưa dân tộc mình từ Kiushu đến chinh phục vùng Kinki ,lập nên triều đại Yamoto.Những người đứng đầu triều đại này luôn tin rằng họ là con cháu của một dòng dõi siêu phàm.

    Bộ tộc Yamoto đã tấn công vào các quốc gia trên đất liền ở Châu Á. Trong số những mục tiêu của họ có cả Trung Quốc ,Hàn Quốc. Họ đã du nhập văn hóa,kỹ thuật và nghệ thuật của hai quốc gia này.

    Những chiến binh Yayoi xa xưa đã biết chế tạo áo giáp, vũ khí trong các thế kĩ sau đó .Họ là những nhân tố của các Saimurai tại Nhật Bản.Vũ khí của thời kì sơ khai này là bao gồm cung tên và kiếm. Một sự thay đổi lớn đã diễn ra vào thế kỉ thứ % khi ngựa được du nhập vào Nhật Bản. Đến thế kỉ thứ 15 thì súng được đưa vào các trận đánh.Vào thời kì này nước Nhật đã đè cao một khái niệm được du nhập từ Trung Quốc đó là Tinh thần thượng võ của chiến binh mà người Nhật gọi đó là Bushido.


    Tinh thần thượng võ này đã dẫn dắt hành vi của tầng lớp Samurai. Một trong những triết lí của Bushido là Người võ sĩ không hề biết sợ hãi cái gì kể cả cái chết Chính sự can trường này sẽ cho võ sĩ đạo một sự yên tĩnh trong tâm hồn và sưc mạnh để phục vụ chủ nhân một cách trung thành,họ sẵn sàng hy sinh tính mạng nế cần. Vì vậy họ là những người có tinh thần trách nhiệm rất cao.

    Tầng lớp Samurai đã nổi bật từ những cuộc chiến tranh giành đất đai giữa 3 bộ tộc chính: Minamoto, Fujiwara và Taira

    Một số Samurai có liên hệ khá mật thiết với giai cấp thống trị,số còn lại được các Daimiyo (chủ đất phong kiến) thuê mướn. Họ luôn trung thành tuyệt đối với các chủ đất , đổi lại họ được nhận đất đai và chức vụ. Các Daimyo tuyển dụng các Samurai để bảo vệ đất đai ,phát triển quyền lực.


    Các Samurai thường sử dụng hai loại kiếm ,đó là Trường Kiếm (Daito-Katana) dài hơn 60cm và Đoản Kiếm (Shoto-Wakizashi) dài từ 30cm đến 60cm. Các thanh kiếm cổ xưa thường thẳng.Có kiểu dáng xuất phát từ Hàn Quốc và Trung Quốc. Sau đó Samurai đã thiết kế cho mình những thanh kiếm lưỡi cong sắc bén và cứng cáp hơn như chúng ta biết sau này.

    Năm 1876 Hoàng đế Meiji (Minh Trị) ban hành lệnh phế đao,các Samurai mất hẳn quyền mang kiếm và nghề nghiệp của mình . Cũng từ đó vị trí đặc biệt của họ trong xã hội cũng biến mất sau gần 1000 năm tồn tại.


    LỊCH SỬ KIẾM PHÁP NHẬT BẢN


    Kiếm là 1 trong những vũ khí được con người sử dụng nhiều nhất trong thờI phong kiến, khắp nơi từ Âu sang Á. Vũ khí và binh giáp của ngườI Nhật ngày xưa có chịu ảnh hưởng phần nào từ Trung quốc,trong đó có thanh kiếm. Khi xông trận, các kỵ sĩ trang bị áo giáp, mũ trận dày nặng, 1 tay cầm yên ngựa, tay kia cầm kiếm. Thanh kiếm thời đó có hình dạng thẳng, cấu trúc đơn giản, thường dùng để chém và đâm, động tác chiến đấu cũng chưa được tinh xảo. Theo truyền thuyết thì đến thế kỷ thứ 8, thanh kiếm với lưỡi hơi lượn cong, cán dài cấu trúc đặc thù Nhật bản được 1 thợ rèn tên là Amakumi chế tạo tạI tỉnh Yamoto.

    Song, theo những tài liệu đáng tin cậy hơn, thanh kiếm cong độc đáo như ngày nay chúng ta thấy xuất hiện vào thế kỷ thứ 10 (năm 940) dưới thời Heian do 1 nghệ nhân tài ba về nghề luỵên kiếm tên là Hoki rèn. Đây chính là loại kiếm được sáng tạo và rèn luyện rất công phu, chủ yếu để sử dụng bằng cả 2 tay khi chiến đấu. Đương nhiên, kèm theo đó là 1 số kỹ thuật công, thủ cơ bản cũng được giới thiệu. Nhận thức được sự lợi hại của thanh kiếm mới, nhiều kiếm sư và kiếm sĩ bèn làm 1 cuộc cách tân về vũ khí và chiêu thức tập luyện. Trước tiên nó được dùng trong các buổi giao đấu giữa các kiếm thủ và dần sau đó trở nên phổ biến trong quân độI thuộc quyền các lãnh chúa và dùng trên chiến trường ở qui mô lớn, bởi nó có hiệu quả đặc biệt hơn hẳn loạI kiếm thẳng. Đã có kiếm dài (trường kiếm-tachi, hay còn gọi là katana) thì phải có kiếm ngắn và thanh đoản kiếm (kodachi, hay còn gọi là wakizashi) được chế tạo cũng theo kiểu dáng cong cong tương tự. Kiếm ngắn chỉ sử dụng khi lâm nguy (mất kiếm dài ) và để dùng trong nghi thức seppuku (mổ bụng tự sát, 1 hành động vì danh dự của samurai, hay còn gọi là harakiri).

    Có thể nói từ đây môn kiếm thuật Nhật bản Kenjutsu vớI những đặc trưng riêng đã được hình thành. Những kiếm sĩ thành danh thường xây dựng hệ thống kỹ thuật riêng để lập nên những trường phái, rồi cứ thế được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Tinh hoa nghệ thuật cũng theo đó dần dần phát triển thêm lên. Tuy nhiên phảI đến cuốI thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, bài tập đốI luyện kiếm thuật (kata) vớI tổ hợp động tác công-thủ-phản công có qui ước mớI được đưa vào hệ thống nghiên cứu huấn luyện.Và vào cuốI thế kỷ 15, kiếm gỗ (bokken) mới được đưa vào sử dụng trong những buổi tập luyện. Thời này lý thuyết chung về kiếm thuật đã được hoàn thiện nhằm mục đích huấn luyện giới samurai. Không chỉ vậy, lý thuyết này còn được kết hợp với tư tưởng Nho giáo để xây dựng 1 triết lý về phong cách sống và hành động của giớI võ sĩ đạo (bushido). Theo 1 số thư tịch cổ thì từ thế kỷ 15-17 trên toàn nước Nhật có khoảng 600 trường phái kiếm thuật, chưa kể các môn võ thuật khác. Những trường phái này cũng là nơi cung cấp nhân tài phục vụ đắc lực cho các vị lãnh chúa hoặc Tướng quân (shogun).

    Thế kỷ 16-17 đánh dấu 1 bước phát triển của nghệ thuật sử dụng kiếm. Khởi đầu từ kiếm sư Shekisu-sai (1527-1606), ngườI sáng lập trường phái Yagyu Shinkage, được tướng quân Tokugawa Ieyashu bảo trợ. Trước đó thanh kiếm chỉ được xem như là 1 vũ khí giết ngườI và ngườI ta luyện tập cũng vì mục đích ấy. Nhưng do Shekisu-sai có kiến thức có kiến thức về đạo học và mốI liên hệ gần gũi vớI thiền sư Takuan (1573-1645), ông đã truyền giảng cho môn sinh khái niệm về sự cảm nhận tâm linh đạt được qua việc luyện tập kiếm thuật. NgườI con ông là Munenori (1571-1646), 1 kiếm sĩ tài ba, đã biên soạn Fudochi-Shinmyoroku, nội dung kể về kinh nghiệm trực ngộ Thiền đạo trong kiếm thuật. Yagyu Shinkage, cũng như Maniwa Nen, Shinkatato… là những trường phái tiên phong trong khuynh hướng chuyển từ Kiếm đạo sang Kiếm thuật (Kendo); đồng thờI đưa kiếm tre (shinnai) vào tập luyện, thi đấu để hạn chế tốI đa những thương tích, tử vong do kiếm thật bằng thép và cả kiếm bằng gỗ cứng gây nên. Kiếm tre ban đầu được chế tạo bằng cách dùng 4 mảnh tre dài ghép lạI đút vào 1 cái bao dài bằng da cóc hoặc da bò thuộc,chưa có miếng là chắn che tay (tsuba). Về sau được Nakanishi Chuba,môn đệ của Ono Tadaaki cảI tiến với bao vải thay thế bao da, thêm miếng lá chắn vào, và trọng lượng-kích thước gần bằng kiếm thật, song có hình dạng thẳng.

    Khởi đầu chỉ có kiếm thuật hay Kenjutsu, là nghệ thuật đánh kiếm, dù thật sự từ để chỉ kiếm Nhật là katana 刀 chính là từ "đao" trong tiếng Hán để chỉ các loại vũ khí một lưỡi sắc bén. Còn chữ Hán kiếm (tiếng Nhật ken) 剣 hay 劍 là để chỉ các vũ khí hai lưỡi . Sau thời đại Kiếm Thương, hết đánh đấm nên kiếm thuật dần dần biến thành kiếm đạo, và người thực tập kiếm đạo chú trọng luyện tinh thần cũng ngang bằng hoặc hơn cả luyện tập thuật đánh kiếm. Iaido đúng ra cũng là một phần của kendo, chuyên luyện phép đánh kiếm thần tốc: rút kiếm ở mọi tư thế và chém rất nhanh một nhát chí tử trước khi đối thủ kịp phản ứng, rồi rảy máu ở thanh kiếm, và tra kiếm vào vỏ.


    Sau khi Nhu đạo phát triển vào thế kỷ 20, Kendo và Iaido trở thành những môn riêng biệt. Kendo ngày nay ta thấy phát triển như một môn thể thao, dù người luyện tập cũng thực hành các bài Kata 型 gồm các đòn thế chém đâm đỡ tiến lùi... Còn Iaido chỉ chuyên thực tập các bài tập kata: rút kiếm, chém, rảy máu, tra kiếm vào vỏ. Và ở Nhật vẫn còn hàng trăm trường phái Kendo, cũng như hàng trăm trường phái Iaido.

    Đến thế kỷ 18, ngoài kiếm tre và sàn tập bằng gỗ trở nên phổ biến tạI các trường phái dạy kiếm, các dụng cụ hỗ trợ luyện tập như giáp che ngực, mặt nạ, mũ che đầu, găng tay bảo vệ… cũng được cách tân từ binh giáp truyền thống để trang bị cho môn sinh. Sang thế kỷ 19, Kendo phát triển rộng trong quần chúng cũng như nhiều môn võ khác, không còn thu hẹp trong giới Samurai. Vào giữa thế kỷ này, nhiều cuộc biễu diễn kiếm đạo được tổ chức cho công chúng xem tại nơi công cộng, có thu tiền. Không ít kiếm sư giương danh võ lâm qua những cuộc lưu diễn và thách đấu với người khác. Nhưng chỉ vài thập niên sau, khi văn minh cơ giớI phát triển. Súng ống, đạn dược nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí trên chiến trường. Thanh kiếm oanh liệt suốt bao thế kỷ chỉ còn tồn tại bên người quân nhân với công dụng thứ yếu (đánh giáp lá cà) hoặc như 1 biểu tượng quyền hành chỉ huy. Đồng thời về mặt xã hội, thời điểm các lãnh chúa bị Minh Trị thiên hoàng thu hồi quyền lực cũng chính là lúc kết thúc thờI vàng son của giớI samurai. Những kiếm thủ phải về vườn hoặc chuyển nghề, nhiều môn phái phải đóng cửa. Tình trạng này khiến các bậc thầy tâm huyết vớI kiếm đạo lo âu không ít.

    Trong bối cảnh đó, 1 sự kiện lớn gây chấn động làng võ Nhật đã xảy ra vào năm 1882 : võ sư Jigoro Kano, 1 thiên tài võ thuật trẻ tuổi bắt đầu truyền bá môn Nhu đạo ( Judo ) mà ông đã dày công nghiên cứu,sáng tạo sửa đổI thêm từ môn Nhu thuật ( Jujutsu ) cổ truyền ( ai xem "Truyền nhân Atula" hẳn phải biết cái món ăn chơi này ^_^ ). Thành công nhanh chóng của Kano với môn võ giàu tính thể thao, được xem như đạt tiêu chuẩn cao về giáo dục tinh thần và thể xác theo xu thế thời đại mới, đã trở thành nguồn cảm hứng khơi dậy ngọn lửa trong lòng các kiếm sư. Kiếm đạo bắt đầu thâm nhập vào học đường, tại 1 số trường trung học và đại học. Năm 1912, cùng với Nhu đạo, Kiếm đạo được chính thức đưa vào chương trình huấn luyện thể dục ở bậc trung học áp dụng trên toàn nước Nhật. Năm 1928, liên đoàn kiếm đạo Japanese được thành lập, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉnh lý hệ thống tổ chức, kỹ thuật, phương pháp huấn luyện, điều luật thi đấu… Môn sinh theo học ngày 1 đông hơn,phát triển sang các nước lân cận và cả châu Âu, châu Mỹ. Năm 1971, liên đoàn Kiếm đạo quốc tế ( International Kendo Federation-IKF) được thành lập, và cũng từ đây giảI vô địch kiếm đạo thế giớI được tổ chức theo thông lệ 3 năm 1 lần (có tư liệu khác cho rằng IKF được thành lập năm 1970 và mớI đầu là tổ chức 2 năm/lần). Hiện nay số members của IKF bao gồm 37 đơn vị liên đoàn và hiệp hội thuộc hơn 30 nước trên thế giới (chưa có VN )

    Một chi tiết đáng ghi nhận là trong quá trình phát triển môn Kiếm đạo hiện đại có sự đóng góp ở mức độ nhất định của tổ sư môn Judo Jigoro Kano. Ông là người đặt ra hệ thống đẳng cấp (dan-kyu) được áp dụng ngày nay. Chính liên đoàn kiếm đạo nhật bản JKF (Japan Kendo Federation) cũng thừa nhận điều này vào năm 1958. Là 1 nhà sư phạm lớn, 1 đại sư thấm nhuần triết lý võ đạo, Kano luôn sẵn sàng hỗ trợ,tạo điều kiện cho các môn phái võ thuật đồng hành phát huy vì sự nghiệp giáo dục chung, không chỉ vớI kiếm đạo mà với cả Không thủ đạo ( Karatedo ). Khi võ sư Gichin Funakosi từ đảo Okinawa đến Tokyo để truyền bá nghệ thuật này, Kano đã dành cho người đồng đạo võ lâm 1 phần diện tích tại võ đường Kodokan (Giang đạo quán) của ông để mở lớp dạy Karatedo trong nhiều năm .

    Live by Honor, die by Sword

    Kiếm pháp Phù Tang trọng cái "tinh – thành thuộc" hơn là cái "xảo – kỳ ảo", cũng có nhiều cao thủ Phù Tang nổi danh nhờ cái xảo tuy nhiên cái tinh bao giờ cũng thắng thế.


    Một kiếm khách khả dĩ có thể gọi là cao thủ nếu anh ta thoả mãn những yếu tố sau : nhanh - độc - chuẩn - ổn. "Tốc độ" là yếu tố kiến quyết hàng đầu, địch bất động ta bất động nếu địch động ta động trước, những cái động đó chỉ trong chớp choáng vì vậy đòi hỏi kiếm thủ phải có một sự tập trung cao độ. Cao thủ giao chiêu chỉ một sơ sót nhỏ có thể phải hối hận, chậm hơn đối phương một chút là đã có thể mất đi nhiều tiện nghi, khi đã mất đi ưu thế ban đầu thì khó lòng mà thủ thắng. Thứ đến phải nói là "hiểm độc", phải đánh vào điểm yếu, tử huyệt của đối phương. Chỉ cần đánh trúng cho dù là nhẹ cũng đủ giết người, đó là lý do tại sao những cao thủ võ công cao cường đều lấy yết hầu của đối phương làm mục tiêu (yết hầu là khoảng nằm giữa thân người và đầu, nôm na gọi là cần cổ ). Dĩ nhiên mục tiêu như thế thì khó mà đánh trúng được nhất là đối phương cũng di động chứ không phải là cái bia để cho ta xỉa , nhất là với tốc độ cao, cho nên cần phải "chuẩn – chính xác". Mà muốn như vậy thì võ công phải "tình – thành thuộc", ra tay không hề sai lạc, những chiêu thức các kiếm thủ có khi luyện tập đến hàng ngàn vạn lần nguyên do là đó. Và cuối cùng là "ổn". Ở đây chính là sự ổn định về tâm lý. Ra tay nhanh, độc, chuẩn và bảo đảm ba yếu tố trên mọi lúc mọi nơi. Tâm lý ổn định, ý chí kiên quyết, đã xuất chiêu là không ngần ngừ, biến đổi giữa chừng. Cao thủ đối chiêu nếu có vấn đề về tâm lý hầu như là cầm chắc thất bại, cho nên các kiếm khách thường lấy sự "vô tình" để làm chuẩn cho sự "ổn định" của mình. Họ không dám có tình cảm vì tình cảm sẽ làm cho họ mềm yếu, vợ con gia đình sẽ làm cho họ phân vân mà đó chính là những yếu tố dẫn đến sự mất ổn định về tâm lý. Có chuyện (mà cũng có thể là có thật) cả gia đình kiếm khách đều tự sát để cho người kiếm khách có thể ra đi mà không còn bị bất cứ một sự ràng buộc vướng bận nào (có hơi tàn nhẫn). Biết anh hùng trọng anh hùng, các kiếm sĩ trước khi giao chiến thường có tình huống hoàn thành tâm nguyện lẫn nhau, giúp cả hai tháo gỡ những vấn đề về tâm lý để có thể thi đấu thực hơn và toàn tâm toàn ý hơn.

    Mạn phép bàn sơ qua một chút về vũ khí.

    -- Vũ khí dĩ nhiên có dài có ngắn, tùy thuộc vào loại võ công. Vũ khí dài thiện dụng cho các loại võ công cương mãnh, phạm vi tấn công rộng rãi, khống chế toàn cục, thể hiện một tính cách chính trực, rộng rãi.

    -- Vũ khí ngắn thiện dụng cho các loại võ công lấy tốc độ và cái xảo, cái hiểm làm đầu. Chính vì vũ khí nhẹ nên kô thể trực tiếp đương đầu với đối phương. Đã thế thì phải ra tay nhanh, hiểm độc, dùng nhiều kỳ chiêu khiến đối phương không thể biết đường đón đỡ.

    -- Một tấc dài một tấc lợi, một tấc ngắn một tấc hiểm. Vũ khí nào cũng có cái hay và cái lợi riêng của nó, sử dụng vũ khí cũng phải phú hợp với tính cách con người thì mới có thể phát huy được võ công đến cực hạn. Phái yếu và những ai có tâm địa thâm hiểm, âm trầm thì thường lựa cho cho mình những vũ khí ngắn. Phụ nữ lựa chọn vũ khí ngắn phần cũng vì thể lực và thể hình của họ không phù hợp với những vũ khí dài cồng kềnh khi sử dụng phái tốn hao nhiều sức. Người có tâm địa thâm trầm, âm hiểm… chọn vũ khí ngắn (tất nhiên không phải tất cả đều như thế) vì nó hợp với tính chất của võ công của họ, vũ khí ngắn thì đòi hỏi cái xảo – kỳ ảo nhiều hơn.

    thay đổi nội dung bởi: Kasumi, 16-03-2012 lúc 04:18 PM
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  7. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (17-03-2012)

  8. #5
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    HỌ NHƯ THẾ NÀO?

    Tinh thần của Samurai

    Khi còn là đứa trẻ, các samurai tương lai đã phải chịu đựng theo một thứ kỷ luật thật sự hà khắc. Bọn trẻ (ca nam lẫn nữ) phải đi chân trần băng qua tuyết từ sớm mùa đông để đến trường dạy mà nơi đó chúng được huấn luyện nghề kiếm cung. Đôi khi chúng phải trải qua nhiều giờ vào ban đêm tại các nghĩa trang để rèn luyện lòng can đảm. Người samurai chân chính phải không biết đến sợ hãi, khinh bỉ sự đau đớn và cái chết. Người samurai không sống vì mình. Tính sẵn sàng hy sinh được đặt lên hàng đầu "Chúng ta không chết bình lặng mà chúng ta sẽ chết bên cạnh chủ sóai của chúng ta. Nếu đi trên biển, đại dương sẽ là mồ chôn chúng ta. Nếu đi trên núi, cây cỏ sẽ phủ ngực chúng ta." Đó là nguyên tắc mà bất cứ samurai nào cũng phải biết tới.

    Nếu lâu đài của "ông chủ" (lãnh chúa) bị cháy thì cũng sẵn có một samurai nào đấy xông qua lửa đỏ để tìm lại báu vật cho chủ. Khi mà thấy không còn lối ra, anh ta sẵn sàng mổ bụng để giấu báu vật vào đó, sau này người ta sẽ tìm thấy nó trong cái xác cháy đen của mình.

    Trẻ em Samurai

    Trẻ em samurai cũng phải chứng tỏ tính anh hùng. Trong thời kỳ nội chiến kinh khủng vào thế kỷ 12 giữa hai phe Taira và Minamoto, một hoàng tử tám tuổi biết mình sắp bị bắt trong một trận thủy chiến đã dám lao đầu xuống giữa các ngọn sóng để tránh nhục nhã khi bị bắt.

    Dưới thời Edo, các trường học được lập ra dành cho con trai của các samurai. Thư pháp và chữ Hán là hai môn học chính thức, được dạy cùng các quy tắc của samurai. Trẻ gái học ikebana, tức nghệ thuật cắm hoa và học trà đạo từ người mẹ. Vào độ tuổi 13, trẻ trai phải cạo tóc trước trán và trên đỉnh đầu, đây là dấu hiệu chúng đã trưởng thành. Trẻ gái để tóc dài xỏa sau vai và rẽ ngôi ở giữa, đến khi lớn tóc dài chấm đất.

    Những thanh Katana, Wakizashi và Tanto

    Kiếm của samurai là lọai kiếm tốt nhất trên thế giới thường được chế tạo. Samurai thường mang theo hai thanh kiếm, một dài một ngắn. Wakizashi là kiếm ngắn được giắt vào thắt lưng, kiếm dài và hơi cong là katana đeo lủng lẳng bên hông. Ngoài kiếm ra, samurai cũng hay mang theo naginata, là một cây mác dài.

    Tôn giáo của samurai


    Thần Đạo là tôn giáo đầu tiên của người Nhật. Tín đồ Thần Đạo tin rằng mọi vật trong thiên nhiên đều ẩn chứa một vị thàan. Họ cũng tin rằng Nhật hoàng đầu tiên là hậu duệ của nữ thần Mặt Trời Amaterasu, thế nên họ nghĩ hoàng đế của họ là một vị thần.

    Những người theo Thần Đạo xây dựng nhiều đền thờ, vì họ cho là các vong hồn người chết dùng đền thờ để làm nơi tụ tập. vào những dịp nhất định trong năm, người ta thắp nến đặt vào đèn ***g, thả chúng trôi theo dòng nước để soi sáng đường đi cho các vong hồn trở về thăm nhà của họ trên núi.

    Phật Giáo gia nhập vào Nhật từ Trung Quốc. Các samurai tin theo một phái Phật Giáo gọi là Thiền tông. Thiền là tập trung tư tưởng vào một sự việc hoặc một ý tưởng duy nhất. Những người theo Thiền tông cho là họ có thể tìm ra chân lý và sự hiểu biết thông qua tĩnh tâm và chế ngự bản thân. Các samurai thì cho là Thiền sẽ giúp họ hành động dứt khoát, đặc biệt là trong chiến đấu, và phát triển thư thái nội tâm.

    Đền Ise: Ngôi đền Thần Đạo thiêng nhất ở Nhật là đền Ise, cứ mỗi 20 năm được xây dựng lại một lần. Trong đền còn giữ hai báu vật thiêng : một viên ngọc và một chiếc gương. Người ta tin rằng nữ thần Mặt Trời đã ban các vật này cho Nhật hoàng đầu tiên là Jimmu. Đền được đặt trên một nền cấu trúc đá mài thời tiền sử. Nó được xây dựng lại lần cuối cùng năm 1973.


    Bức tượng Phật nổi tiếng nhất của Nhật được đặt tại Kamakura. Tượng này làm bằng đồng, được đúc năm 1252. Lúc đầu, tượng được đặt trong chùa xây bằng gỗ, nhưng chùa bị một cơn sóng cồn cuồn trôi năm 1495.


    Thần phong Kamikaze : Năm 1274, Nhật đứng trước nguy cơ xâm lược của quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của hoàng đế Hốt Tất Liệt. Ông đã chinh phục phần lớn phía đông Châu Âu và châu Á. Quân Mông Cổ chuẩn bị nhiều chiến thuyền, lúc đầu xem ra họ nắm phần thắng vì được tổ chức tốt. Nhưng lúc đêm xuống, một trận cuồng phong cuốn phăng họ ra biển, làm 13.000 lính chết đuối. Quân Mông Cổ phải lui về Trung Quốc.

    Năm 1281, quân Mông Cổ lại rắp tâm xâm chiếm Nhật, với lực lượng đông hơn lần trước. Lần này, các chiến binh samurai chuẩn bị tốt hơn và có chiến thuyền riêng, họ chiến đấu với quân Mông Cổ ở vịnh Hakata. Sau hai tháng, một trận bão tố lại giúp họ đánh bại kẻ thù, quân Mông Cổ tổn thất nặng nề hơn lần trước.

    Sau thắng lợi này, người Nhật tin rằng hai trận cuồng phong đã cứu họ thoát khỏi quân Mông Cổ là do các thần phái đến. Vì vậy, họ gọi là kamikaze, nghĩa là "thần phong".

    Nghệ thuật của samurai

    Samurai không chỉ là chiến binh tài giỏi, họ còn phải hiểu và biết đánh giá tất cả các thể loại nghệ thuật. Samurai thường thích đọc thuộc lòng và sáng tác thơ. Giữa thế kỷ 17, nhà thơ Matsuo Basho phát triển haiku- một thể thơ 17 âm tiết để ca ngợi thiên nhiên. Các samurai thường sáng tác các bài thơ này và đọc cho nhau nghe.

    Samurai đánh giá cao thư pháp, là nghệ thuật viết chữ đẹp. Mọi nét chữ phải được viết ra một cách thanh nhã và chính xác mà không được lưỡng lự.
    Samurai cũng học các điệu múa truyền thống. Người ta nói rằng tướng Oda Nobunaga tính tình hung bạo đã cầm quạt múa uyển chuyển cho quân lính xem, trước khi cùng họ vào cuộc chiến đấu.

    Múa:



    --- ---

    3 Kiểu Thư Pháp cơ bản: Kaisho, Gyosho, Sosho


    Samurai thích nghệ thuật sân khấu. Thế kỷ 12, họ tham gia diễn các vở tuồng được ưa chuộng gọi là kabuki. Vào gần cuối thời đại samurai, nghệ thuật sân khấu có diễn Noh được coi là thích hợp hơn. Trong cả hai lọai sân khấu này, các vai phụ nữ đều do đàn ông thủ diễn. Vào thời bây giờ, một tục ngữ phổ cập của samurai có nói :" Hãy luyện tập nghệ thuật hài hòa bằng tay trái và nghệ thuật chiến tranh bằng tay phải".


    TRANG PHỤC CỦA SAMURAI


    Trang phục cơ bản hàng ngày của một samurai là kimono, thường chỉ gồm hai lớp: ngoài và trong. Chỉ khi mùa đông người ta mới chui vào mấy bộ kimono nặng nề nhiều lớp. Nói vậy chứ thực ra, cũng có một ngày mùa hè mà người ta vẫn phải mặc kimono to sụ của mùa đông: ngày mùng một tháng tư âm lịch (vào khoảng thượng tuần tháng năm).

    Một bộ kimono của samurai thường được làm bằng lụa, thứ chất liệu đã được chọn lựa kỹ, nó tuyệt hơn rất nhiều so với vải bông hay vải gai, vùa bền vùa đẹp lại rất lý tưởng để mặc trong những ngày hè nóng nực ở Nhật Bản (nhân tiện đây nói thêm: để làm một bộ kimono theo truyền thống là phải mất nguyên một súc lụa rộng 2 feet dài 20 yard) Đương nhiên chất lượng của những bộ kimono liên quan nhiều đến địa vị và tài sản của vị samurai xài nó; cho dù suốt hồi đầu thời Edo, không hề có một quy định rõ ràng nào về vấn đề này. Hojo Soun đã từng đề cập đến chuyện ăn mặc trong 21 bài xã luận của ông: “đừng cho rằng kiếm và quần áo của bạn bắt buộc phải tốt như của những người khác, chỉ cần không quá tệ là được rồi. Khi bạn cố gắng chạy theo người ta nhưng sự thay đổi đó không hợp với bạn thì bạn sẽ trở thành trò hề cho thiên hạ”. Ngoài ra, đối với một bộ kimono, màu sắc loè loẹt và những hoa văn kỳ quái là điều cấm kỵ, và ai mặc mấy thứ đó sẽ bị cười nhạo như là một kẻ vô liêm hay một tên tự phụ. Cho nên, nguời phụ nữ trong các gia đình samurai luôn phải cẩn thận quan tâm đến chuyện mặc kimono. Chỉ riêng trẻ con là được xài kimono sặc sỡ một cách thoải mái, nhưng đến lễ nguyên phục thì chúng bắt đầu dùng những gam màu nhã nhặn giống những người lớn. Còn khi về già, samurai thường chọn màu sắc ôn hoà như xám hay nâu, nó phù hợp với tuổi tác của họ hơn.

    Bên trong lớp áo kimono, samurai thường mặc một cái khố (fundoshi). Khố được chia làm hai loại: loại thứ nhất thì về cơ bản là một thứ đồ bọc bên ngoài, rất khó để miêu tả nhưng có lẽ nó tương tự cái bỉm (quen thuộc với tất cả những người đã từng tham gia hay chứng kiến mấy cái lễ hội nhảy múa thần bí của Nhật Bản hiện đại); còn loại kia (thường được mặc dưới áo giáp) lại là một mảnh vải dài mang trước cơ thể. Loại này có một vòng dây to thắt quanh cổ (trông như một cái thòng lọng) và bó chặt một đầu của cái khố, trong khi đầu kia kết thúc ở lưng và được buộc qua bụng cũng bằng một sợi dây.

    Ở thời đó, người ta thường đi dép cỏ (waraji) và guốc gỗ (geta). Waraji là sự kết hợp của nhiều loại nguyên liệu, bao gồm cỏ rơm, sợi gai, và chỉ bông. Những tầng lớp thấp hơn (như geisha hay các nghệ sĩ kabuki) thì hay xài geta, cho dù samurai đôi khi cũng mang nó, ví dụ như vị tướng Taira Kiyomoiri lừng danh cũng đã được miêu tả trong tập Heike Monogatari là từng đi geta, dù là việc này đã được các địch thủ của ông ta thêm mắm dặm muối rất nhiều với ý đồ mỉa mai châm biếm.

    Waraji: Hay đi kèm với áo giáp là ủng làm bằng da gấu, nó đã từng rất phổ biến, nhưng tiếc rằng chỉ được một thời gian rồi lỗi thời vào giữa thế kỷ thứ 16.


    Samurai hay mang vớ (tabi), đó là loại vớ “hai ngón”: chỉ có hai phần, để tách riêng ngón cái và các ngón khác (rất thuận tiện khi xài waraji). Tabi dùng hàng ngày thường có màu trắng và chúng được làm theo mùa. Vào những ngày mưa, samurai, như tất cả mọi người, mặc áo mưa làm bằng rơm (kappa) và dùng ô gấp (nó trông khá giống với cái lọng thời Victoria , kể cả trong cách trang trí)

    Từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 17, hitatare trở nên phổ biến. Không giống kimono, hitatare là loại trang phục hai mảnh, nhưng sự mềm mại và rộng rãi thoải mái thì cả hai đều như nhau (trong đó có Yoroi hitatare là một loại rất thoải mái để mặc duới áo giáp). Để dễ tưởng tượng thì bạn hãy nhớ đến loại trang phục mà các samurai thường mặc trong các bộ phim Nhật nói về những thời kỳ trước thời Edo (như là: Kagemusha, Ran, Throne of Blood, Heaven and Earth, vân vân). Nhìn chung khi được mặc trong những nghi lễ trang trọng, hitatare thường gắn thêm huy hiệu (mon) của gia tộc hay đảng phái của người mặc, hoặc là huy hiệu của daimyô hay shugo trong trường hợp samurai đó là người thân hay tuỳ tùng của họ. Hitatare có thể mặc nửa vời, khi đó nửa trên sẽ được mắc vào eo cho gọn, để tiện tham gia một trận đấu đầy hấp dẫn hay là để biểu diễn kỹ thuật chiến đấu cá nhân của samurai (túm lại là hitatara được mặc như vậy với mục đích quân sự).


    Samurai đeo kiếm ở phía trước thắt lưng (obi). Trong đó, thanh kiếm chính thì được buộc vào obi bởi một sợi dây nhỏ (giông giống với phương Tây) còn kiếm ngắn (wakizaki) hay dao (tanto) thì đeo xuyên qua obi.
    Dù thế nào đi nữa, kiếm cũng luôn được đeo bên trái để tiện rút ra đút vô và nó đã trở thành phong cách đeo kiếm của phương Đông (vậy còn với những samurai thuận tay trái thì sao?)

    Ở trong nhà , samurai có thể không cần đến katana, nhưng họ luôn mang bên người một vài thứ vũ khí, nó có thể chỉ là dao găm chẳng hạn. Một daimyo có thể sai người tuỳ tùng mang thanh kiếm cho ông ta, cho dù việc này chủ yếu chỉ xảy ra trong những nghi lễ trang trọng. Thực ra trước đây, người tuỳ tùng của một lãnh chúa sẽ phải mang cả cung tên và kiếm cho ông ta trong những buổi lễ quan trọng, nhưng đến thế kỷ thứ 16 thì những chiếc cung không còn được mang theo nữa do vài vị daimyô đã cảm thấy không thích giữ chúng. Ngoài ra người ta cũng đút một ít khăn giấy cũng như một chiếc quạt vào obi.

    ---

    Vào thời Edo, hitatare đã bị kamishimo “đánh bại”. Kamishimo cũng gồm có hai mảnh, được mặc phủ lên trên kimono. Đó mới chính là loại trang phục nổi tiếng nhất của samurai. Mảnh trên (kataginu) về cơ bản là áo vét không tay với phần vai to đùng. Nhưng cũng có lúc, người ta dùng đến cái áo khoác dài tay (haori), đặc biệt là khi đi xa hay trong thời tiết xấu. Mảnh dưới (hakama) là thứ quần rộng và mềm giống như kiểu quần của hitatare. Kamishimo thường được làm bằng chất liệu giống với hitatare và dùng để phản ánh địa vị của người mặc. Trong lịch sử Nhật Bản, thời Edo là một thời có ý thức rõ rệt về địa vị, đặc biệt là ở tầng lớp samurai. Chính vì vậy kamishimo của samurai sẽ phải tuân theo nhiều quy tắc ngặt nghèo hơn là những người thuộc tâng lớp khác.

    Kamishimo thường được mặc khi đi ra ngoài hay khi tiếp khách, hoặc không thì người ta sẽ dùng một bộ kimono thật nghiêm chỉnh.

    ---

    Hầu hết các văn bản và gia quy luôn nhấn mạnh vai trò to lớn của một vẻ ngoài lịch lãm, mà trong đó tóc của samurai là một phần rất quan trọng trong diện mạo của một người đàn ông. Kiểu tóc truyền thống (được dùng tới hơn một nghìn năm) là búi tóc, nó không phải là của riêng samurai mà gắn bó mật thiết với tất cả mọi người, ngoại trừ những nhà sư, và ngay cả các chuyên gia cũng gần như không thể tìm hiểu được nguồn gốc của búi tóc. Nhưng trông nó hao hao như kiểu búi của Trung Hoa cổ nên có lễ đó là một phần của nền văn hoá vật chất đã được du nhập từ lục địa vào Nhật Bản trong khoảng giữa thời kỳ Asuka- Nara và Heian. Không cần ơhải nói, không có nhiều kiểu tóc vào thời Edo. Chasen-gami, chẳng hạn , khi làm kiểu này người ta bọc một đoạn dây quanh chiều dài búi tóc, rồi gắn một cái trâm ở cuối. Búi tóc sẽ được mang đằng trước hoặc đằng sau đầu. Mitsu-ori là một kiểu tóc khác rất phổ biến vào cuối thế kỷ thứ 16. Khi để kiểu này, tóc sẽ được xoa dầu, tạo thành hình và gập ra đằng trước, sau đó gấp ngược trở lại rồi được buộc chặt . Tương tự nhưng đơn giản hơn là futatsu-yori , với loại này thì chỉ cần gập ra trước rồi buộc luôn , sau đó tỉa lại bằng dao cạo để làm cho phía trước trông cứng cáp hơn. Thật vui là những kiểu tóc đó không hề hiếm gặp ở tầng lớp dưới.

    Nửa đầu phía trước được cạo để thuận tiện cho việc đọi mũ giáp.. Tới gần thời đại Edo , nó đã trở nên phổ biến , không chỉ trong giới samurai .

    Râu ria cũng phổ biến trong những thời kỳ trước Edo, vì nó làm cho người đàn ông trông rất nam tính. Một vị tướng để ria sẽ trở nên nổi bật, có lẽ vậy nên ria khá được ưa chuông. Còn râu thì không giống với bình thường lắm, nó thường chỉ là một lớp mỏng mà thôi, vì như thế chúng sẽ khiến cho việc mang mũ giáp được dễ dàng hơn (đặc biệt là những người suốt ngày phải dùng tới mũ giáp thì lại càng khoái râu ria “mảnh dẻ”). Nhưng đến thời Edo thì mọi người không còn có thiện cảm với đám râu ria nữa, và tới tận ngày nay thì vẫn không nhiều người Nhật thích thú với việc để râu cho lắm.

    Thứ đồ trùm đầu đi kèm với áo giáp dành cho samurai (daimyo / shugo hoặc người tuỳ tùng thân cận của họ) là một cái mũ màu đen (eboshi), nó làm bằng lụa đen có lưới được gia công cho chắc chắn thêm với một lớp giấy lót được sơn đen bóng. Chiếc mũ vải đó được giữ chặt bởi một cái dây buộc màu trắng, hoặc được kẹp thật chắc vào búi tóc của samurai. Kích thước và hình thù của mũ phụ thuộc rất nhiều vào địa vị người đội nó. Nhưng thực ra thì đến thế kỷ thứ 16, eboshi hầu như chỉ xuất hiện trong những dịp lễ trang trọng.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  9. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (17-03-2012)

  10. #6
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ KIẾM NHẬT

    Kiếm Nhật (nihonto) đã đóng một vai trò khá quan trọng trong lịch sử Nhật Bản và đã trở thành huyền thoại. Kiếm ngoài mục đích chiến đấu còn là biểu tượng địa vị của Samurai. Ngày nay người ta xem nó như một sản phẩm nghệ thuật truyền thống . Khi kiếm bị gãy cũng có nghĩa là samurai bị hạ (defeated).

    Một thanh kiếm tốt phải đáp ứng 3 yêu cầu khá mâu thuẫn với nhau: cứng cáp, khó gãy, có lực cắt tốt và cứng cáp thì phải dùng loại thép cứng trong khi yếu tố khó gãy lại là yêu cầu của một loại thép mềm. Lịch sử kiếm Nhật Bắt nguồn từ lục địa Châu Á,các thanh kiếm được du nhập từ Hàn Quốc , có dạng thẳng được gọi là KEN

    Năm 794 - 1185, những thợ rèn Nhật Bản đã chế tạo ra loại kiếm có dạnh cong cong,dùng cho các Samurai chiến đấu trên lưng ngựa. Có thể nói đây là thời đại khai sinh kiếm Nhật chính thống. Thanh kiếm được gọi vào thời kỳ này là TACHI,dài khoảnh 9 tấc và được mang ngang thắt lưng .

    Thời kì Kamakura (1185-1332), chiến tranh xảy ra liên tục,có thể nói đay là thời đại vàng son của kiếm Nhật.Trước thời kỳ Kamakura ,kiếm chỉ được rèn từ một thanh thép,về sau vua Toba đã tập trung các thợ rèn nổi tiếng nhất Nhật Bản . Họ tìm cách luồn một lõi thép có hàm lượng carbon thấp (thép mềm) vào ruột thanh kiếm. Điều này khiến thanh kiếm có một bề ngoài cứng cáp,lưỡi săt bén,trong khi lõi lại là thép mềm làm tăng độ bền và dẻo của thanh kiếm , đáp ứng được 3 yêu cầu của một thanh kiếm tốt.

    Một số cải tiến kỹ thuật khác được phát triển sau hai lần xâm lăng của quân Mông cổ vào cuối thế kỉ 13 . Thanh kiêm Tachi được cải tiến cho rộng bản, dày và nặng hơn, nó đòi hỏi người sử dụng phải cầm hai tay , gây khó khăn cho các kỵ binh cho nên thời kì này vai trò của bộ binh được đề cao . Nhưng cũng chính điều này đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có một vũ khí hỗ trợ khi cận chiến và từ đó đoản kiếm ra đời . Đoản kiếm đầu tiên có tên là Tanto dài khoảng 3 tấc


    Trường kiếm của Samurai (Daito-Katana)


    Các loại kiếm thường thấy


    Đoản kiếm (Wakizashi)



    CÂU TRUYỆN VỀ CÁC SAMURAI


    1/Tử thí trên đảo Ganryu Shima

    Miyamoto Musashi đứng bất động, một dòng máu nhỏ từ tiền đình chảy dần xuống sống mũi. Vạt Hakama phất phơ trong nắng sớm. Thanh mộc kiếm hơi nghiêng về phía mặt đất. Tập trung cao độ, chàng lắng nghe không chỉ kẻ đại cừu Sasaki Kojiro mà tất cả vạn vật chung quanh: thân tâm hợp nhất.

    Sau lưng chàng, chếch về phía tay trái, kẻ đại cừu lảo đảo mấy bước. Chàng nghe tiếng mũi kiếm cắm phập xuống cát, tiếng thân người ngã xuống. Chung quanh lặng lẽ. Chàng nghe hơi nhức nơi trán, nhịp tim vẫn đập đều. Một ý nghĩ thoáng qua “Xong rồi!”.

    Mới khoảnh khắc trước đây, khi bắt đầu ba bước “nhập thân” (irimi) như thường lệ, tay kiếm thủ bên hông theo thế waki gamae, tất cả năng lực trong người chàng khí-kiếm-thể chỉ tập trung vào một việc: tung ra đòn “thác đổ” - “men” (trực trảm) đúng lúc, đúng nơi. Dù sấm chớp, dông bão, dù động đất, sóng thần, dù đại trường kiếm của kẻ địch có dài đến mấy, và chiêu “én vẩy đuôi” của y hiểm độc đến cỡ nào, Musashi vẫn tin chắc là mình sẽ rửa được mối đại thù của gia tộc - chưa ai thoát khỏi đường kiếm dũng mãnh của chàng và Sasaki Kojiro, tay kiếm khách lừng lẫy cũng thế thôi.


    Đúng khi chàng vận khí bình sinh hất ngược mái chèo (mà chàng vừa mới đẽo cho ra hình dáng kiếm lúc ngồi trên thuyền đến nơi tỉ thí) thì cũng là lúc Kojiro tung độc chiêu “én vẩy đuôi”, kiếm quang xoáy trên đầu chàng. Mũi kiếm cắt đứt khăn đầu của chàng. Chàng đã thoát chết trong gang tấc. Vì cây mộc kiếm trong tay mình nặng hơn bình thường, Musashi đã chuyển bộ chậm hơn một sát na, điều đó đã cứu sống chàng. Nhưng hai cánh tay hộ pháp của chàng đã không chậm, và chiêu “thác đổ - trực trảm” đã không tha mạng cho Sasaki. Một thoáng chấn động toàn thân. Và Miyamoto Musashi hiểu là mình đã thanh toán xong mối đại thù vốn nung nấu lòng chàng từ bao nhiêu năm qua.


    “Sống, chết chỉ là một khoảnh khắc mong manh” - chàng nghĩ, mắt đăm đăm nhìn vào thanh mộc kiếm. Tâm trí chàng mang mang, cảm giác trống vắng, hụt hẫng xâm chiếm lòng chàng. Một hình ảnh hiện ra trước mắt Musashi. Không phải gương mặt khả ái của Otsu, người yêu thùy mị, trìu mến mà chàng đã tạ từ ra đi theo tiếng gọi của kiếm cung, mà đường nét nhân hậu, an nhiên tự tại của đại sư Trạch An, vị thầy đáng kính của chàng, kẻ đã giúp chàng tu luyện để trở thành một tay kiếm lừng danh. Đôi mắt trầm tư như nhìn chàng và nhắc nhở:

    Miyanoto Musashi
    Thần kiếm nguyên lai vô nhị đạo.

    Thần đạo và kiếm đạo vốn dĩ chỉ là một. Vì cả hai cùng dẫn đưa con người đến một mục đích là diệt ngã.

    Musashi vất thanh mộc kiếm. Chàng nhìn lòng bàn tay và hẹn với lòng mình là từ nay sẽ không bao giờ cầm một thanh kiếm giết người (satsu jin ken: sát nhân kiếm) trong tay. Năm đó vừa bước sang tuổi ba mươi và đã trải qua 60 trận tỉ thí mà chưa một lần bị thảm bại. Trong tác phẩm kinh điển của mình Ngũ Đại Thư (Go Rin No Sho) được viết trong một hang động, nơi Musashi Miyamoto ẩn cư sau cả một đời giang hồ ngang dọc trên khắp đất nước Phù Tang, ông đã tóm lược tinh hoa kiếm pháp của mình như sau:

    “Đạo của binh pháp là cái đạo của Trời Đất. Một khi người đã thấu triệt được cái lý của vũ trụ, bắt được cái nhịp của cuộc diện, người có thể an nhiên đối diện với đối thủ và triệt hạ y” (Ngũ Đại Thư - Sách về “Thổ”).

    Làng kiếm đạo Nhật bản ghi nhận 1 điểm son lịch sử với kiếm sĩ huyền thoại Miyamoto Musashi. Sinh năm 1854, thụ giáo kiếm thuật với thân phụ từ khi còn thơ ấu, năm 13 tuổi Musashi đã sớm đạt được vinh quang khi đánh bại 1 đấu thủ lớn hơn cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề trong 1 cuộc tranh tài trước mặt nhiều cao thủ. Từ đó về sau, trải hơn 60 trận thư hùng trên khắp nước Nhật, chưa 1 tay kiếm nào thủ hoà nổi trước lưỡi kiếm của Musashi. Năm 29 tuổi , sau trận đấu để đời với kiếm thủ thượng thừa Sasaki Kojiro mà chiến thắng vẫn thuộc về ông, Musashi rời bỏ chốn võ lâm lui về ẩn cư. Ông dốc toàn tâm toàn lực suy nghiệm để khám phá chân lý. Hơn 20 năm sau, ở tuổI 50, con người bất khả chiến bại ấy đã giác ngộ. Vào tuổi lục tuần, Musashi viết tác phẩm Gorin-no-Sho (Ngũ luân thư).


    Chân dung Musashi


    2/Cuộc trả thù của 47 Ronin

    ("Ronin" là tên gọi chung cho các samurai lang thang, khi đã từ bỏ người chủ của mình)

    Một câu chuyện nổi tiếng, minh họa cho ý thức bổn phận của người Nhật. Lãnh chúa Kira, một daimyo (thủ lĩnh) lớn, mời daimyo Asano đến dự một nghi lễ đặc biệt. Không may, lễ vật Asano dâng lên cho Kira để cảm tạ lời mời lại bị Kira khinh rẻ. Vào ngày trọng đại đó, trong cơn giận dữ không kiềm chế được, Asano đã ăn mặc không đúng qui cách. Rồi ông ta rút gươm ra và tấn công Kira, gây cho ông này một vết thương nơi trán.

    Vô cùng hổ thẹn, Asano chuẩn bị để seppuku (thiết phúc - mổ bụng tự sát). Ông ta nói lời vĩnh biệt Oishi, người tùy tùng trung thành, rồi tự sát. Vì ông không có người nối dõi, nên lãnh địa của ông bị tịch thu và những tùy tùng của ông trở thành ronin - "người vô chủ" hay những samurai lang bạt không có chủ để phục vụ. Những ronin do Oishi lãnh đạo thề sẽ trả thù cho nửi nhục của chủ nhân. Gánh nặng của bổn phận chưa tròn đè nặng lên họ. Trong một lần họp mặt, Oishi chọn ra 47 ronin. Họ cắt máu ăn thề và cuộc báo thù bắt đầu.

    Đó là một kế hoạch cực kỳ phức tạp. Cả Tokyo nghĩ rằng sẽ có chuyện báo thù, vì thế lãnh chúa Kira đã phái người đi dò la tin tức. 47 ronin thường xuyên lui tới những quán rượu mạt hạng, để cho mọi người nghĩ rằng họ đã mất hết phẩm giá và ý thức danh dự. Oishi đa li di người vợ và để cho thanh kiếm của mình bị rỉ sét. Một ronin đã giết bố vợ, một người khác đã bán vợ vào nhà chứa để lấy tiền chi dùng cho kế hoạch, còn em gái của người thứ 3 được đưa vào hầu hạ trong nhà của Kira.

    Vào cái đêm định mệnh đó, Oishi mở một tiệc rượu thết đãi đám bảo vệ của Kira và chuốc cho chúng say mèm. Các ronin đột kích vào pháo đài của lãnh chúa Kira, và xông vào phòng của lão. Kira không có trong phòng, nhưng giường của lão vẫn còn hơi ấm. Họ tỏa ra tìm kiếm. Nhìn vào nhà xí, họ thấy hình như có người đang trốn bên trong. Một ronin xông đến, thọc ngọn giáo qua bức vách gử đâm vào người hắn, nhưng khi rút ra thì mũi giáo không thấy dính máu.

    Thực ra, đó chính là Kira và mũi giáo đã làm lão bị thương, nhưng lão đã dùng tay áo kimono lau sạch máu trên mũi giáo. Các ronin xông vào nhà xí và nhận ra lão nhờ vết sẹo trên trán, vết sẹo do lưỡi kiếm của Asano gây ra. Họ yêu cầu lão hãy seppuku, nhưng kẻ hèn nhát đã khước từ. Họ chặt đầu lão và mang thủ cấp cùng thanh gươm đến ngôi mộ của Asano. Các ronin đã làm tròn bổn phận.

    3/Di hình hoán ảnh và vô âm kiếm

    “Tỉ thí là tử thí”, tổ sư môn Aikido - Uyeshiba Morihei - vẫn thường nhắc nhở các môn sinh. Do đó trong Aikido không có thi đấu, không cho phép thách đấu, thử tài cao thấp.

    Thế nhưng chính tổ sư Uyeshiba cũng đã có lần dính vào một trận tỉ thí. Vào thời đó, tiếng tăm của ông như là một tay kiếm siêu quần đã lan truyền trong khắp các giới võ lâm Nhật Bản, nên có nhiều người đến xin lãnh giáo. Ông luôn luôn cương quyết chối từ. Một hôm, một viên sĩ quan hải quân đến xin thọ giáo với ông. Viên sĩ quan vốn là một kiếm sư của một môn phái nổi danh từ thời xa xưa. Trong câu chuyện xảy ra tranh luận về tinh hoa kiếm pháp giữa các môn phái, bầu không khí nóng dần lên và viên sĩ quan hải quân yêu cầu được lãnh giáo một số tuyệt chiêu của tổ sư Uyeshiba để được xóa tan mối hoài nghi và thỏa lòng mong đợi. Trước sự khẩn khoản của viên kiếm sư “Thần đạo lưu”, tổ sư Uyeshiba buộc lòng chấp nhận.

    Hai người ra khu vườn sau nhà, mỗi người cầm trong tay một thanh mộc kiếm. Vừa lúc hai bên cùng thét lên một tiếng “Hey!” và vào thế thủ, viên sĩ quan trẻ tung kiếm nhảy bổ vào tấn công bằng một đòn shomen (chính diện) như trời giáng. Tổ sư Uyeshiba chỉ xoay nhẹ thân pháp đã tránh được cú đánh thần tốc của đối thủ. Viên kiếm sư vội quay người huơ gươm chém tiếp một đòn yokomen (đòn chém vào thái dương) vũ bão với một tiếng thét “kiai” long trời lở đất.

    Vị võ sư già lại dùng phép “chuyển hoán” tránh đòn mà không phản công. Tưởng cũng nên nói, thân pháp “chuyển hoán” do tổ sư Aikido thi triển thường được gọi là Tai no tenkan (Thân chi chuyển hoán), một trong “Tứ đại công phu” của bộ môn Aikido, và đã được tác giả Kim Dung đề cập với tên “Di hình hoán ảnh” hay còn gọi là “Lăng ba vi bộ”. Trong kiếm pháp, phép Tenkan thường được phối hợp với “Vô âm kiếm” (Otonai shi no ken) trong các chiêu tay không đoạt kiếm.

    Viên sĩ quan hải quân càng đánh càng hăng, và giận vì đối phương không đánh trả, nên điên tiết tung ra các chiêu thức sở trường của mình. Nhưng với công phu khinh linh tuyệt đỉnh, tổ sư Uyeshiba vẫn ung dung tự tại thi triển di hoán pháp, chợt hiện, chợt biến mặc cho kiếm trận tứ bề phủ vây.

    Viên kiếm sư “Thần đạo lưu” cảm thấy thất vọng và bế tắc, mồ hôi ra đẫm tay kiếm và hai mắt như hoa lên. Ông vận hết sức bình sinh thét lên một tiếng thật lớn như để trút hết nỗi phẫn hận tuyệt vọng và nhảy lùi ra sau, đứng bất động. Đại sư Uyeshiba cũng thối lui ba bước, tay kiếm Chudan no kamae (thế thủ trung đẳng). Khi thấy viên sĩ quan thu kiếm cúi chào, ông cũng cúi chào đáp lễ.

    Sau đó, khi một mình thơ thẩn trong khu vườn vắng vẻ, đại sư Uyeshiba đã được chứng ngộ. Đó là vào tháng giêng năm 1925, tại Ayabe, một thị trấn nhỏ ở miền nam nước Nhật.

    Những gì vị sáng lập môn phái Aikido đã trích xuất ra từ những năm tháng tầm sư học đạo và hành hiệp giang hồ (đến tận đất Ngoại Mông, đầu thập niên 1920 và Mãn Châu, cuối thập niên 1930) đã được đúc kết lại trong kiếm phái Aikiken. Tinh hoa kiếm pháp Aikiken được tóm gọn trong bốn câu thơ:

    “Tâm vô ưu
    Thần bất động
    Khí uy dũng
    Kiếm vô chiêu”.



    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Gồm nhiều nguồn khác nhau tuy nhiên, đây là đề tài đã quan tâm từ lâu, sưu tầm trong thời gian dài nên không nhớ hết. Sau đây là một số link mới nhất đã tham khảo:

    http://www.judoinfo.com/samurai.htm
    http://www.artelino.com/articles/samurai.asp
    http://www.samuraichamploo.com/
    http://www.karatedepot.com/samurai_swords.html
    http://journals.iranscience.net:800/.../bsamurai.html

    Hi vọng bài viết sẽ cung cấp một số kiến thức về Samurai dành cho những ai chưa biết và đang quan tâm. Cám ơn.

    Ngô Đức Minh
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  11. The Following User Says Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    lynkloo (17-03-2012)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. [13/8/2011] Yokohama Marinos tôn vinh cố hậu vệ Matsuda
    By Hei in forum Toàn cảnh Nhật Bản
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 13-08-2011, 11:10 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 30-12-2009, 12:08 AM
  3. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 23-06-2008, 04:39 PM
  4. Bạo động sân Vinh...Buồn cho văn hóa Việt Nam...Chùm ảnh
    By †3N† in forum Toàn cảnh Nhật Bản
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 27-05-2008, 06:25 PM
  5. Nhật Bản: Tôn vinh...kim gẫy
    By Kasumi in forum Toàn cảnh Nhật Bản
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 11-02-2007, 07:34 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •