VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ KIẾM NHẬT
Kiếm Nhật (nihonto) đã đóng một vai trò khá quan trọng trong lịch sử Nhật Bản và đã trở thành huyền thoại. Kiếm ngoài mục đích chiến đấu còn là biểu tượng địa vị của Samurai. Ngày nay người ta xem nó như một sản phẩm nghệ thuật truyền thống . Khi kiếm bị gãy cũng có nghĩa là samurai bị hạ (defeated).
Một thanh kiếm tốt phải đáp ứng 3 yêu cầu khá mâu thuẫn với nhau: cứng cáp, khó gãy, có lực cắt tốt và cứng cáp thì phải dùng loại thép cứng trong khi yếu tố khó gãy lại là yêu cầu của một loại thép mềm. Lịch sử kiếm Nhật Bắt nguồn từ lục địa Châu Á,các thanh kiếm được du nhập từ Hàn Quốc , có dạng thẳng được gọi là KEN
Năm 794 - 1185, những thợ rèn Nhật Bản đã chế tạo ra loại kiếm có dạnh cong cong,dùng cho các Samurai chiến đấu trên lưng ngựa. Có thể nói đây là thời đại khai sinh kiếm Nhật chính thống. Thanh kiếm được gọi vào thời kỳ này là TACHI,dài khoảnh 9 tấc và được mang ngang thắt lưng .
Thời kì Kamakura (1185-1332), chiến tranh xảy ra liên tục,có thể nói đay là thời đại vàng son của kiếm Nhật.Trước thời kỳ Kamakura ,kiếm chỉ được rèn từ một thanh thép,về sau vua Toba đã tập trung các thợ rèn nổi tiếng nhất Nhật Bản . Họ tìm cách luồn một lõi thép có hàm lượng carbon thấp (thép mềm) vào ruột thanh kiếm. Điều này khiến thanh kiếm có một bề ngoài cứng cáp,lưỡi săt bén,trong khi lõi lại là thép mềm làm tăng độ bền và dẻo của thanh kiếm , đáp ứng được 3 yêu cầu của một thanh kiếm tốt.
Một số cải tiến kỹ thuật khác được phát triển sau hai lần xâm lăng của quân Mông cổ vào cuối thế kỉ 13 . Thanh kiêm Tachi được cải tiến cho rộng bản, dày và nặng hơn, nó đòi hỏi người sử dụng phải cầm hai tay , gây khó khăn cho các kỵ binh cho nên thời kì này vai trò của bộ binh được đề cao . Nhưng cũng chính điều này đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có một vũ khí hỗ trợ khi cận chiến và từ đó đoản kiếm ra đời . Đoản kiếm đầu tiên có tên là Tanto dài khoảng 3 tấc

Trường kiếm của Samurai (Daito-Katana)

Các loại kiếm thường thấy

Đoản kiếm (Wakizashi)
CÂU TRUYỆN VỀ CÁC SAMURAI
1/Tử thí trên đảo Ganryu Shima
Miyamoto Musashi đứng bất động, một dòng máu nhỏ từ tiền đình chảy dần xuống sống mũi. Vạt Hakama phất phơ trong nắng sớm. Thanh mộc kiếm hơi nghiêng về phía mặt đất. Tập trung cao độ, chàng lắng nghe không chỉ kẻ đại cừu Sasaki Kojiro mà tất cả vạn vật chung quanh: thân tâm hợp nhất.
Sau lưng chàng, chếch về phía tay trái, kẻ đại cừu lảo đảo mấy bước. Chàng nghe tiếng mũi kiếm cắm phập xuống cát, tiếng thân người ngã xuống. Chung quanh lặng lẽ. Chàng nghe hơi nhức nơi trán, nhịp tim vẫn đập đều. Một ý nghĩ thoáng qua “Xong rồi!”.
Mới khoảnh khắc trước đây, khi bắt đầu ba bước “nhập thân” (irimi) như thường lệ, tay kiếm thủ bên hông theo thế waki gamae, tất cả năng lực trong người chàng khí-kiếm-thể chỉ tập trung vào một việc: tung ra đòn “thác đổ” - “men” (trực trảm) đúng lúc, đúng nơi. Dù sấm chớp, dông bão, dù động đất, sóng thần, dù đại trường kiếm của kẻ địch có dài đến mấy, và chiêu “én vẩy đuôi” của y hiểm độc đến cỡ nào, Musashi vẫn tin chắc là mình sẽ rửa được mối đại thù của gia tộc - chưa ai thoát khỏi đường kiếm dũng mãnh của chàng và Sasaki Kojiro, tay kiếm khách lừng lẫy cũng thế thôi.
Đúng khi chàng vận khí bình sinh hất ngược mái chèo (mà chàng vừa mới đẽo cho ra hình dáng kiếm lúc ngồi trên thuyền đến nơi tỉ thí) thì cũng là lúc Kojiro tung độc chiêu “én vẩy đuôi”, kiếm quang xoáy trên đầu chàng. Mũi kiếm cắt đứt khăn đầu của chàng. Chàng đã thoát chết trong gang tấc. Vì cây mộc kiếm trong tay mình nặng hơn bình thường, Musashi đã chuyển bộ chậm hơn một sát na, điều đó đã cứu sống chàng. Nhưng hai cánh tay hộ pháp của chàng đã không chậm, và chiêu “thác đổ - trực trảm” đã không tha mạng cho Sasaki. Một thoáng chấn động toàn thân. Và Miyamoto Musashi hiểu là mình đã thanh toán xong mối đại thù vốn nung nấu lòng chàng từ bao nhiêu năm qua.
“Sống, chết chỉ là một khoảnh khắc mong manh” - chàng nghĩ, mắt đăm đăm nhìn vào thanh mộc kiếm. Tâm trí chàng mang mang, cảm giác trống vắng, hụt hẫng xâm chiếm lòng chàng. Một hình ảnh hiện ra trước mắt Musashi. Không phải gương mặt khả ái của Otsu, người yêu thùy mị, trìu mến mà chàng đã tạ từ ra đi theo tiếng gọi của kiếm cung, mà đường nét nhân hậu, an nhiên tự tại của đại sư Trạch An, vị thầy đáng kính của chàng, kẻ đã giúp chàng tu luyện để trở thành một tay kiếm lừng danh. Đôi mắt trầm tư như nhìn chàng và nhắc nhở:
Miyanoto Musashi
Thần kiếm nguyên lai vô nhị đạo.
Thần đạo và kiếm đạo vốn dĩ chỉ là một. Vì cả hai cùng dẫn đưa con người đến một mục đích là diệt ngã.
Musashi vất thanh mộc kiếm. Chàng nhìn lòng bàn tay và hẹn với lòng mình là từ nay sẽ không bao giờ cầm một thanh kiếm giết người (satsu jin ken: sát nhân kiếm) trong tay. Năm đó vừa bước sang tuổi ba mươi và đã trải qua 60 trận tỉ thí mà chưa một lần bị thảm bại. Trong tác phẩm kinh điển của mình Ngũ Đại Thư (Go Rin No Sho) được viết trong một hang động, nơi Musashi Miyamoto ẩn cư sau cả một đời giang hồ ngang dọc trên khắp đất nước Phù Tang, ông đã tóm lược tinh hoa kiếm pháp của mình như sau:
“Đạo của binh pháp là cái đạo của Trời Đất. Một khi người đã thấu triệt được cái lý của vũ trụ, bắt được cái nhịp của cuộc diện, người có thể an nhiên đối diện với đối thủ và triệt hạ y” (Ngũ Đại Thư - Sách về “Thổ”).
Làng kiếm đạo Nhật bản ghi nhận 1 điểm son lịch sử với kiếm sĩ huyền thoại Miyamoto Musashi. Sinh năm 1854, thụ giáo kiếm thuật với thân phụ từ khi còn thơ ấu, năm 13 tuổi Musashi đã sớm đạt được vinh quang khi đánh bại 1 đấu thủ lớn hơn cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề trong 1 cuộc tranh tài trước mặt nhiều cao thủ. Từ đó về sau, trải hơn 60 trận thư hùng trên khắp nước Nhật, chưa 1 tay kiếm nào thủ hoà nổi trước lưỡi kiếm của Musashi. Năm 29 tuổi , sau trận đấu để đời với kiếm thủ thượng thừa Sasaki Kojiro mà chiến thắng vẫn thuộc về ông, Musashi rời bỏ chốn võ lâm lui về ẩn cư. Ông dốc toàn tâm toàn lực suy nghiệm để khám phá chân lý. Hơn 20 năm sau, ở tuổI 50, con người bất khả chiến bại ấy đã giác ngộ. Vào tuổi lục tuần, Musashi viết tác phẩm Gorin-no-Sho (Ngũ luân thư).

Chân dung Musashi
2/Cuộc trả thù của 47 Ronin
("Ronin" là tên gọi chung cho các samurai lang thang, khi đã từ bỏ người chủ của mình)
Một câu chuyện nổi tiếng, minh họa cho ý thức bổn phận của người Nhật. Lãnh chúa Kira, một daimyo (thủ lĩnh) lớn, mời daimyo Asano đến dự một nghi lễ đặc biệt. Không may, lễ vật Asano dâng lên cho Kira để cảm tạ lời mời lại bị Kira khinh rẻ. Vào ngày trọng đại đó, trong cơn giận dữ không kiềm chế được, Asano đã ăn mặc không đúng qui cách. Rồi ông ta rút gươm ra và tấn công Kira, gây cho ông này một vết thương nơi trán.
Vô cùng hổ thẹn, Asano chuẩn bị để seppuku (thiết phúc - mổ bụng tự sát). Ông ta nói lời vĩnh biệt Oishi, người tùy tùng trung thành, rồi tự sát. Vì ông không có người nối dõi, nên lãnh địa của ông bị tịch thu và những tùy tùng của ông trở thành ronin - "người vô chủ" hay những samurai lang bạt không có chủ để phục vụ. Những ronin do Oishi lãnh đạo thề sẽ trả thù cho nửi nhục của chủ nhân. Gánh nặng của bổn phận chưa tròn đè nặng lên họ. Trong một lần họp mặt, Oishi chọn ra 47 ronin. Họ cắt máu ăn thề và cuộc báo thù bắt đầu.
Đó là một kế hoạch cực kỳ phức tạp. Cả Tokyo nghĩ rằng sẽ có chuyện báo thù, vì thế lãnh chúa Kira đã phái người đi dò la tin tức. 47 ronin thường xuyên lui tới những quán rượu mạt hạng, để cho mọi người nghĩ rằng họ đã mất hết phẩm giá và ý thức danh dự. Oishi đa li di người vợ và để cho thanh kiếm của mình bị rỉ sét. Một ronin đã giết bố vợ, một người khác đã bán vợ vào nhà chứa để lấy tiền chi dùng cho kế hoạch, còn em gái của người thứ 3 được đưa vào hầu hạ trong nhà của Kira.
Vào cái đêm định mệnh đó, Oishi mở một tiệc rượu thết đãi đám bảo vệ của Kira và chuốc cho chúng say mèm. Các ronin đột kích vào pháo đài của lãnh chúa Kira, và xông vào phòng của lão. Kira không có trong phòng, nhưng giường của lão vẫn còn hơi ấm. Họ tỏa ra tìm kiếm. Nhìn vào nhà xí, họ thấy hình như có người đang trốn bên trong. Một ronin xông đến, thọc ngọn giáo qua bức vách gử đâm vào người hắn, nhưng khi rút ra thì mũi giáo không thấy dính máu.
Thực ra, đó chính là Kira và mũi giáo đã làm lão bị thương, nhưng lão đã dùng tay áo kimono lau sạch máu trên mũi giáo. Các ronin xông vào nhà xí và nhận ra lão nhờ vết sẹo trên trán, vết sẹo do lưỡi kiếm của Asano gây ra. Họ yêu cầu lão hãy seppuku, nhưng kẻ hèn nhát đã khước từ. Họ chặt đầu lão và mang thủ cấp cùng thanh gươm đến ngôi mộ của Asano. Các ronin đã làm tròn bổn phận.
3/Di hình hoán ảnh và vô âm kiếm
“Tỉ thí là tử thí”, tổ sư môn Aikido - Uyeshiba Morihei - vẫn thường nhắc nhở các môn sinh. Do đó trong Aikido không có thi đấu, không cho phép thách đấu, thử tài cao thấp.
Thế nhưng chính tổ sư Uyeshiba cũng đã có lần dính vào một trận tỉ thí. Vào thời đó, tiếng tăm của ông như là một tay kiếm siêu quần đã lan truyền trong khắp các giới võ lâm Nhật Bản, nên có nhiều người đến xin lãnh giáo. Ông luôn luôn cương quyết chối từ. Một hôm, một viên sĩ quan hải quân đến xin thọ giáo với ông. Viên sĩ quan vốn là một kiếm sư của một môn phái nổi danh từ thời xa xưa. Trong câu chuyện xảy ra tranh luận về tinh hoa kiếm pháp giữa các môn phái, bầu không khí nóng dần lên và viên sĩ quan hải quân yêu cầu được lãnh giáo một số tuyệt chiêu của tổ sư Uyeshiba để được xóa tan mối hoài nghi và thỏa lòng mong đợi. Trước sự khẩn khoản của viên kiếm sư “Thần đạo lưu”, tổ sư Uyeshiba buộc lòng chấp nhận.
Hai người ra khu vườn sau nhà, mỗi người cầm trong tay một thanh mộc kiếm. Vừa lúc hai bên cùng thét lên một tiếng “Hey!” và vào thế thủ, viên sĩ quan trẻ tung kiếm nhảy bổ vào tấn công bằng một đòn shomen (chính diện) như trời giáng. Tổ sư Uyeshiba chỉ xoay nhẹ thân pháp đã tránh được cú đánh thần tốc của đối thủ. Viên kiếm sư vội quay người huơ gươm chém tiếp một đòn yokomen (đòn chém vào thái dương) vũ bão với một tiếng thét “kiai” long trời lở đất.
Vị võ sư già lại dùng phép “chuyển hoán” tránh đòn mà không phản công. Tưởng cũng nên nói, thân pháp “chuyển hoán” do tổ sư Aikido thi triển thường được gọi là Tai no tenkan (Thân chi chuyển hoán), một trong “Tứ đại công phu” của bộ môn Aikido, và đã được tác giả Kim Dung đề cập với tên “Di hình hoán ảnh” hay còn gọi là “Lăng ba vi bộ”. Trong kiếm pháp, phép Tenkan thường được phối hợp với “Vô âm kiếm” (Otonai shi no ken) trong các chiêu tay không đoạt kiếm.
Viên sĩ quan hải quân càng đánh càng hăng, và giận vì đối phương không đánh trả, nên điên tiết tung ra các chiêu thức sở trường của mình. Nhưng với công phu khinh linh tuyệt đỉnh, tổ sư Uyeshiba vẫn ung dung tự tại thi triển di hoán pháp, chợt hiện, chợt biến mặc cho kiếm trận tứ bề phủ vây.
Viên kiếm sư “Thần đạo lưu” cảm thấy thất vọng và bế tắc, mồ hôi ra đẫm tay kiếm và hai mắt như hoa lên. Ông vận hết sức bình sinh thét lên một tiếng thật lớn như để trút hết nỗi phẫn hận tuyệt vọng và nhảy lùi ra sau, đứng bất động. Đại sư Uyeshiba cũng thối lui ba bước, tay kiếm Chudan no kamae (thế thủ trung đẳng). Khi thấy viên sĩ quan thu kiếm cúi chào, ông cũng cúi chào đáp lễ.
Sau đó, khi một mình thơ thẩn trong khu vườn vắng vẻ, đại sư Uyeshiba đã được chứng ngộ. Đó là vào tháng giêng năm 1925, tại Ayabe, một thị trấn nhỏ ở miền nam nước Nhật.
Những gì vị sáng lập môn phái Aikido đã trích xuất ra từ những năm tháng tầm sư học đạo và hành hiệp giang hồ (đến tận đất Ngoại Mông, đầu thập niên 1920 và Mãn Châu, cuối thập niên 1930) đã được đúc kết lại trong kiếm phái Aikiken. Tinh hoa kiếm pháp Aikiken được tóm gọn trong bốn câu thơ:
“Tâm vô ưu
Thần bất động
Khí uy dũng
Kiếm vô chiêu”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Gồm nhiều nguồn khác nhau tuy nhiên, đây là đề tài đã quan tâm từ lâu, sưu tầm trong thời gian dài nên không nhớ hết. Sau đây là một số link mới nhất đã tham khảo:
http://www.judoinfo.com/samurai.htm
http://www.artelino.com/articles/samurai.asp
http://www.samuraichamploo.com/
http://www.karatedepot.com/samurai_swords.html
http://journals.iranscience.net:800/.../bsamurai.html
Hi vọng bài viết sẽ cung cấp một số kiến thức về Samurai dành cho những ai chưa biết và đang quan tâm. Cám ơn.
Ngô Đức Minh
Bookmarks