Chiune Sugihara - Một người nhân ái




Năm 1993 phim “Schindler’s List” của đạo diễn Steven Spielberg đoạt 7 giải Oscar cùng nhiều giải thưởng khác, được American Film Institute xếp hạng 8 trong 100 phim hay nhất từ trước tới giờ. Phim này đã mang tên tuổi Oskar Schindler gần gủi với mọi người. Với ai chưa coi phim này, Oskar Schindler là người Đức đã cứu hơn 1000 người Ba Lan gốc Do Thái thoát chết trong đệ nhị thế chiến, bằng cách mướn họ làm việc trong hãng của mình, thông qua … hối lộ sĩ quan Đức.

Chứa chấp, giúp đỡ người Do Thái là một cái tội nặng thời đó trong những vùng do Đức chiếm đóng, có thể mất mạng. Ở phạm vi nhỏ, những chuyện cứu giúp vẫn lén lút xảy ra, nhưng công khai bảo vệ cả ngàn người, hình như chỉ có Oskar Schindler, chưa kể ông này là người Đức ! Nhưng Oskar Schindler có phải là người duy nhất làm được chuyện này không ?

Cuộc hội ngộ tình cờ

Một ngày tháng 12 năm 1939, cậu bé Solly Ganor ở Kaunas háo hức tìm đến cửa hàng của người cô để … xin tiền coi phim “Laurel and Hardy” bộ mới, vừa được trình chiếu tại đây. Kaunas, bây giờ là Kovno, là thủ đô của Lithuania, một quốc gia nhỏ bé nằm sát Nga và giáp biển Baltic. Bao nhiêu tiền riêng để dành cậu đã đóng góp vào quỹ cứu trợ người Do Thái Ba Lan đang tỵ nạn tại Lithuania. Muốn có tiền coi xi nê, cậu nghĩ ngay tới cô Anushka tốt bụng, đang kinh doanh một tiệm bánh kẹo sang trọng ở Kaunas. Ở tiệm này người ta có thể tìm thấy cà phê, cheese, chocolat … nhập cảng từ những nước Âu Châu khác. Khách hàng thường là nhân viên ngoại giao các tòa Đại Sứ.

Sau khi kể cho cô Anushka ý muốn xin tiền, Solly bỗng nghe một giọng nói lạ

_ Nếu cháu cần tiền coi xi nê, thì đã có đây.

Vừa nói người khách vừa chìa tay đưa ra hai đồng lit. Solly hơi sửng sốt vì đây là lần đầu tiên cậu gặp một người Á Châu.

_ Thưa ông tôi không nhận tiền của người lạ.

_ Nhưng nếu cháu coi tôi là chú, thì nhận được phải không ?

Solly sung sướng nhận tiền và nói thêm

_ Nếu đã là chú, thì thứ bảy này xin mời chú lại nhà cháu dự tiệc Chanukah.

Theo dõi câu chuyện từ đầu, cô Anushka chưa hết ngạc nhiên nhưng cũng thêm vào

_ Đúng rồi, mời ông tới chung vui với gia đình chúng tôi.

Người khách lạ vui vẻ nhận lời. Gia đình Ganor là người Nga ở Moscow qua định cư tại đây từ thập niên 1920. Còn người khách lạ là Phó Lãnh Sự Nhật tại Lithuania, rất giỏi tiếng Nga. Chanukah là lễ Festival of Lights của người Do Thái.

Thứ bảy đó ông Chiune Sugihara, vị Phó Lãnh Sự, và vợ là bà Yukiko tới dự tiệc với gia đình Ganor. Ngoài đại gia đình Ganor gồm cả chục người, còn có Jacob Rosenblatt, và con gái là Lea, hai người Do Thái Ba Lan đang tỵ nạn và sống chung trong nhà. Qua câu chuyện của Rosenblatt, lần đầu tiên ông Sugihara nghe kể trực tiếp về hành vi bạo ngược của Nazi với người Do Thái. Ở thời điểm này đệ nhị thế chiến vừa xảy ra cách đó 3 tháng, sau khi quân đội Đức tấn công Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939. Nhà ông Rosenblatt bị dội bom và vợ ông chết ngay lúc đó. Tuy chính sách bài Do Thái của Hitler đã bắt đầu từ mấy năm trước, khiến những người nổi tiếng như Albert Einstein, Sigmund Freud … phải tỵ nạn qua Mỹ, người dân Lithuania gần như chưa cảm nhận được hoàn toàn không khí của chiến tranh, dù với sự có mặt của người tỵ nạn Ba Lan.

Nghe xong câu chuyện, ông Sugihara hỏi ngay ông Chaim Ganor, cha của Solly, liệu gia đình ông có ý định dọn đi đâu không. Ông Chaim cho biết hiện tại chưa có dự định. Một chần chừ mà sau này nghĩ lại ông cảm thấy sai lầm, ân hận. Sau chiến tranh, đại gia đình này chỉ còn lại bốn người : Chaim, Anushka, Solly và Fanny, chị của Solly. Tất cả những thành viên khác hoặc bị giết hoặc chết dần mòn trong các trại tập trung.

Những câu chuyện về người chết báo mộng không lạ với người Á Đông, nhưng hiếm với người Âu và chuyện này đã xảy ra với gia đình Ganor. Ngày Noel năm 1944, ông Chaim và Solly đang ở trong một trại tập trung của Đức Quốc Xã, trong khi vợ và con gái ông ở một trại khác. Đó là ngày sinh nhật của ông. Trong một phút bất thần bỗng dưng ông gặp vợ tới thăm, chừng tỉnh lại mới biết đó là giấc mộng. Sau chiến tranh khi gặp lại con gái, ông mới biết vợ ông chết đúng ngày Noel 1944 vì chứng typhoid fever ở Stutthof (Đức) và Fanny là người vuốt mắt cho bà !

Về phần Solly, lúc chiến tranh chấm dứt, cậu được một đơn vị lính Á Châu giải thoát và họ là … lính Mỹ gốc Nhật (Japanese American soldiers) ! Hồi tưởng lại chuyện này, Solly cho biết là mình có duyên với người Nhật. Sau này Solly là tác giả cuốn “Light one candle” và đi nhiều nơi kể lại kinh nghiệm Holocaust của mình.

Chiune Sugihara – một người can đảm

Chiune Sugihara (1) sinh ngày 1 tháng giêng năm 1900 tại Yaotsu, thuộc tỉnh Gifu, Trung Bộ Nhật Bản. Là một học sinh giỏi, cha ông muốn ông theo học y khoa, trong khi ông thích văn chương, sinh ngữ và mơ sau này sống ở ngoại quốc. Với bản tính cứng cỏi ông cương quyết đi theo ý muốn của mình và trúng tuyển vào Đại Học Waseda ngành English Literature. Cha ông đùng đùng nổi giận và quyết định … cúp viên trợ ! Ông phải đi làm thêm để sống và đóng tiền học. Không kham nổi vừa làm vừa học, chưa đầy một năm ông phải bỏ học ! Đang lúc phân vân chưa biết tương lai ra sao, chợt có một quảng cáo trên báo cần người qua Mãn Châu học sinh ngữ, được Bộ Ngoại Giao chu cấp toàn phần và khi tốt nghiệp sẽ được tuyển làm nhân viên của Bộ. Mãn Châu nằm ở phía bắc Trung Hoa, người Hoa và người Nga là hai sắc dân chính ở đây.

Đúng là cá gặp nước, đây là cơ hội để ông thực hiện ước mơ ấp ủ từ lâu. Sau khi đậu kỳ thi tuyển của Bộ Ngoại Giao, ông được gởi qua Mãn Châu học tiếng Nga tại trường Harbin Gakuin National University. Trong thời gian này ông cũng học thêm tiếng Hoa, Đức, Anh, Pháp. Tốt nghiệp, ông được mời dạy học (part time) tại trường và làm thư ký kiêm thông dịch viên cho Bộ Ngoại Giao của chính phủ Mãn Châu. Trong thời gian này ông lập gia đình với người Nga và cải đạo theo Russian Orthodox Christianity.

Nhật chiếm Mãn Châu, nhưng đường xe lửa China Eastern Railway lại thuộc về Nga. Để loại ảnh hưởng Nga, chính phủ Mãn Châu muốn mua lại đường xe lửa này và ông Sugihara được giao công tác điều tra. Ông đi khắp nơi và giao tiếp nhiều giới ở Mãn Châu (kể cả băng cướp) để thu thập tin tức về hành khách, số lượng hàng vận chuyển, nhu cầu v…v…Ngay lúc đó, tháng 3 năm 1935, Hitler tuyên bố tăng cường quân đội và thách thức Hiệp Ước Versailles (Versailles Treaty). Tin này làm Nga muốn bán gấp đường xe lửa. Với chi tiết do ông Sugihara cung cấp, phía Nhật mua được giá rẻ, 140 triệu yen, trong khi Nga ban đầu đòi 300 triệu yen ! Đây là thành công đáng kể và đầu tiên trong sự nghiệp của ông.

Sugihara bây giờ là nhân vật số 2 trong Bộ Ngọai Giao của chính phủ Mãn Châu, coi như chắc chắn là Bộ Trưởng tương lai. Trong lúc con đường quan tước đầy hứa hẹn, ông bỗng … từ chức (2) ! Chứng kiến cảnh người Nhật ngược đãi người Hoa, ông bất mãn, từ chức và trở về Nhật. Thời điểm này ông cũng ly dị người vợ Nga (3). Về Nhật ông gặp và kết hôn với cô Yukiko Kikuchi.

Hiện tại nói chung người Nhật có tinh thần quốc gia và kỷ luật cao. Nhưng thời tiền chiến tinh thần đó còn cao hơn bây giờ nhiều. Chuyện bất mãn chính phủ vào thời đó coi như không chấp nhận được, dù với chính sách kỳ thị ! Trong lúc còn là sinh viên, Sugihara có một năm thụ huấn quân sự ở Mãn Châu. Tinh thần kỷ luật trong quân đội Nhật rất khắt khe, chuyện bất tuân lịnh chỉ có thể nói là can đảm Vậy mà lúc về trình diện Bộ Ngoại Giao ở Tokyo, ông chẳng những không bị khiển trách mà còn được cử qua làm việc trong tòa Đại Sứ Nhật ở Helsinki (Phần Lan) ! Rồi một thời gian ngắn sau, tháng 3 năm 1939, ông được lịnh thành lập Lãnh Sự Quán Nhật tại Kaunas, Lithuania. Tại sao ?

Quan hệ Nga Nhật

Tháng 3 năm 1939 Âu Châu đang căng thẳng trước hiểm họa chiến tranh, không biết Đức cho bùng ra lúc nào. Vậy có được mấy người Nhật hay Á Đông biết tới quốc gia nhỏ bé Lithuania để du lịch hoặc buôn bán ? Ngược lại cũng chẳng có người dân Lithuania nào đi lại qua Nhật. Cho dù có, tòa Đại Sứ Nhật ở Nga, Latvia có thể đảm trách. Nghĩa là trước mắt không có nhu cầu giải quyết dịch vụ chiếu khán, thương mại, trao đổi văn hóa v…v… Vậy tại sao phải lập tòa Lãnh Sự ? và chỉ có một nhân viên Nhật duy nhất là ông Sugihara ?

Hiroshi Oshima là Đại Sứ Nhật tại Đức, ông cũng là Thiếu Tướng trong quân đội. Ông có lập trường thân với Đảng Quốc Xã của Đức và là người có công trong việc ký kết Hiệp Ước Phe Trục (Axis Tripartie Pact) giữa Đức-Nhật-Ý. Ông có lẽ là người Nhật hiếm hoi có được mối liên hệ cá nhân mật thiết với giới lãnh đạo cao cấp Đức, kể cả Hitler và Ngoại Trưởng Joachim Von Ribbentrop. Ribbentrop bí mật đi Nga nhiều lần để thương lượng hiệp ước bất xâm lăng với Nga. Đức muốn gác Nga qua một bên để thanh toán những nước nhỏ trước, Nga cũng muốn yên thân với Đức để tập trung vào mặt trận phía đông với Nhật. Theo thỏa thuận ngầm này, Nga đòi chiếm các quốc gia Baltic và phần đất phía đông Ba Lan, mảnh đất bị mất thời Nga Hoàng. Hitler đồng ý nhưng đòi để Lithuania trung lập, làm vùng phi quân sự giữa hai thế lực Nga và Đức. Hiệp Ước Bất Xâm Lăng được ký kết ngày 23 tháng 8 năm 1939. Chỉ một tuần sau Đức tấn công Ba Lan. Ít lâu sau Nga tuyên bố chính phủ Ba Lan không còn nữa và hiệp ước giữa hai nước không còn giá trị ! Nga ngang nhiên chiếm một một phần Ba Lan và Đức không phản đối.

Về phía Nhật, Oshima và chính phủ Nhật thất vọng với hiệp ước Nga-Đức. Họ bất mãn vì Đức bắt cá hai tay ! Để an ủi, Hitler bật mí cho Oshima biết trong tương lai gần Đức sẽ tấn công Nga (4). Cả Oshima lẫn Bộ Tổng Tham Mưu Nhật đều đặc biệt chú ý đến tin này. Chiến trường Âu Châu có liên hệ mật thiết với kế hoạch tương lai của Nhật. Tuy Nhật chiếm Mãn Châu, nhưng phần đất này cũng bị Nga dòm ngó và hai bên thường xuyên có đụng độ biên giới. Chính những vụ xung đột này làm Nhật phải duy trì một lực lương quân sự lớn ở Mãn Châu. Để thoát khỏi bế tắc, Nhật rất cần Đức tấn công Nga. Trong tình huống đó Nga phải rút lực lượng viễn đông về mặt trận Âu Châu, Nhật được giải tỏa áp lực ở Mãn Châu sẽ điều động quân tràn xuống Đông Nam Á !

Thực tế cho thấy vào thời điểm chiến tranh khốc liệt, một vài nước Âu Châu như Anh Pháp đã mộ lính ở thuộc địa Á Châu, Phi Châu đem về chiến trường Âu Châu chiến đấu. Trong lúc các “mẫu quốc” trong lực lượng đồng minh đang bận đánh nhau với Đức, phòng thủ ở các nước thuộc địa Đông Nam Á trở nên lỏng lẻo. Trước tình thế này chúng ta không ngạc nhiên khi Nhật đảo chánh Pháp chỉ mất một ngày. Cái gai lớn nhất còn lại trên bản đồ Đông Nam Á là hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng (Hawaii). Nhật đã triệt hạ hạm đội này cũng trong một ngày !

Như trình bày ở phần trên, kế hoạch của quân đội Nhật tùy thuộc nặng nề vào yếu tố “Đức đánh Nga”. Chuyện này có xảy ra hay không, chính Đức cũng không tiết lộ. Phía Nhật quyết định điều tra riêng. Địa điểm theo dõi quân Đức và Nga tiện nhất là Lithuania, nằm ở trung điểm hai nước. Và người giữ trọng trách này, không ai xứng đáng hơn Sugihara, người thông thạo tiếng Nga, Đức, theo đạo tin lành chính thống (Russian Orthodox Christianity) và quen thuộc xã hội Nga. Tầm vóc công tác này có lẽ đã làm Bộ Ngoại Giao Nhật lờ đi chuyện bất mãn của Sugihara ở Mãn Châu.

Sau chiến tranh chính ông Sugihara đã xác nhận công tác này trong một lá thư viết năm 1967. Hiroki , người con trai trưởng, cho biết trong thời gian sống ở Kaunas, gia đình thỉnh thoảng có đi picnic. Trong những buổi như vậy ông thường biến mất vài tiếng đồng hồ. Tới chừng gặp lại ông cho biết có chuyện phải ra biên giới Đức hoặc Nga. Đây là một phần trong hoạt động tình báo.

Tuy nhiên tên tuổi của Sugihara lưu lại hậu thế không phải bằng công tác thu thập tin tình báo mà là … lòng nhân ái của ông.

Visas for Life

Từ lúc Sugihara dọn tới Kaunas, dòng người tỵ nạn, phần lớn từ Ba Lan, tiếp tục kéo tới thành phố này. Nhưng cuộc sống gia đình ông vẫn bình thường trong căn nhà 3 tầng. Lầu 3 có hai chị em người Lithuania ở trọ, lầu 2 là gia đình ông với cô em vợ Setsuko, lầu 1 là Lãnh Sự Quán Nhật.

Ngày 27 tháng 7 năm 1940, cả gia đình ông bị đánh thức vì tiếng ồn ào bên ngoài. Qua khung cửa sổ, họ thấy cả trăm người đang đứng chầu chực ngoài cổng. Ông Sugihara cho người thư ký ra yêu cầu họ cử năm người đại diện vào trình bày nguyện vọng. Năm người này cho biết họ trốn được tới đây và bây giờ cần trốn một lần nữa bằng visa quá cảnh của Nhật (transit visa). Tại sao bằng transit visa của Nhật ? Câu chuyện bắt đầu bằng sáng kiến của hai vợ chồng tỵ nạn, chồng người Hòa Lan, vợ người Ba Lan. Vì quân Đức tiến về Lithuania từ hướng tây, con đường thoát thân chỉ còn là hướng đông, đi xuyên Nga. Ông chồng, Nathan Gutwirth, nảy ra ý kiến trốn qua đảo Curaçao ở Nam Mỹ, một thuộc địa của Hòa Lan. Xứ này không cần visa, chỉ cần entry permit. Viên Lãnh Sự Hòa Lan ở Lithuania là Jan Zwartendijk, cho biết ông sẵn sàng giúp nếu người tỵ nạn có được transit visa tới thành phố cảng Vladivostok, rồi từ đó đi tàu qua Nhật, rồi đi Thượng Hải (không cần visa) hoặc Curaçao, hay một quốc gia khác. Tin này lan nhanh trong người tỵ nạn và họ ùn ùn kéo tới Tòa Lãnh Sự Nhật.



Người Do Thái tụ tập trước Lãnh Sự Quán Nhật, tháng 8 năm 1940
(cung cấp bởi Hiroki Sugihara, tài liệu tham khảo số 3)

Sugihara cho biết ông chỉ có quyền cấp visa cho vài người. Để cấp cho cả trăm, cả ngàn người, ông cần sự chấp thuận từ Bộ Ngoại Giao ở Tokyo. Ngay ngày hôm đó ông hỏi ý kiến bà Yukiko. Không do dự bà nói cần phải giúp người tỵ nạn bằng tất cả phương tiện có được. Ông liền gởi bức điện sau đây tới Tòa Đại Sứ Nhật ở Berlin, ở nước láng giềng Latvia và Bộ Ngoại Giao ở Tokyo.

I request permission to issue visas to hundreds of Jewish people who have come to the Consulate here in Kaunas seeking transit visas. They are suffering extremely. As a fellow human being, I cannot refuse their request. Please permit me to issue visa to them. This request is a humanitarian plea. The refugges’ request for visa should not be denied.

Hai ngày sau Tokyo phúc đáp

Concerning transit visas requested previously STOP. Advise absolutely not to be issued to any traveler not holding firm end visa with guaranteed departure ex Japan STOP. No exceptions STOP. No further inquiries expected STOP.

K. Tanaka, Foreign Ministry Tokyo.

Không nản chí, ông gởi thêm một bức điện nữa. Phúc đáp lần thứ hai :

Permission denied. The Japanese Department of the Interior feels that such an action would endanger public security. The shipping company that operates the ferry boats between Vladivostok and the port of Tsuruga also rejects this request, the reason being that such an action would compromise passenger safety.

Không chịu thua, ông gởi bức điện thứ ba và lại bị từ chối (5). Ông liền họp gia đình và hỏi ý kiến. Tất cả đều muốn giúp. Trong thâm tâm ông cũng nghĩ như vậy, nhưng sợ gia đình liên lụy, nên ông tránh lên tiếng trước.

Hôm sau ông đi gặp Đại Sứ Nga để thuyết phục. Chính phủ Nga có một chính sách ác ôn : chỉ những người tỵ nạn mới được dùng transit visa ! Quyết định này đã gián tiếp xóa sổ phần lớn dân Do Thái ở Lithuania.


Từ đó, bất chấp lệnh cấm của Bộ Ngoại Giao, mỗi ngày ông làm việc trên 16 tiếng để phát hành khoảng 300 visas một ngày. Phần lớn người tỵ nạn trốn qua Lithuania bằng đường bộ nên không có passport để đóng dấu. Ông phải tự viết tay một bản thế vì và đóng dấu lên đó. Mỗi visa dùng cho cả gia đình. Lúc đầu ông lập danh sách những người được cấp visa nhưng sau vì mệt mỏi ông không bổ túc nữa. Theo danh sách không đầy đủ này, ông đã cấp visa cho 2,123 gia đình, ước tính tổng cộng từ 6000 đến 10,000 người. Những người này được gọi là “Sugihara Survivors”.



Một trong những transit visa còn lưu lại sau chiến tranh
(cung cấp bởi Leon Ilutovich, tài liệu tham khảo số 3)

Ông không còn ăn cơm chung với gia đình, vợ ông đặt trên bàn làm việc một dĩa thức ăn vì không biết lúc nào ông ngừng tay. Tối khuya lúc đi ngủ, vợ ông phải massage cánh tay. Hai mắt ông thâm quầng, ông chỉ thấy các con lúc tụi nó đã ngủ.

Ông làm việc có hai người phụ tá. Một người là Wolfgang Gudze, thư ký người Đức, người kia là tình nguyện viên Moshe Zupnik, người Do Thái tỵ nạn từ Đức ! Tuy vậy họ không có vấn đề và đối với nhau tử tế. Hai người có trao đổi những đề tài nóng bỏng như Hitler, kỳ thị / sát hại người Do Thái. Wolfgang cho biết người bạn gái đầu tiên của anh là người Do Thái, anh cảm thấy thương hại nhưng không kỳ thị người Do Thái như đa số bao nhiêu người khác. Về phần Hitler, anh không ái mộ nhưng anh đặt nước Đức trên hết. Sau này Wolfgang về Đức phục vụ, còn Moshe vẫn tiếp tục con đường tỵ nạn. Sau chiến tranh người ta không còn nghe tông tích của Wolfgang Gudze, còn Moshe Zupnik trở thành một giáo sĩ (Rabbi). Hai người này như hai thế lực đang tranh chấp trong tâm trí Sugihara. Một bên là nghĩa vụ, sự phục tùng đối với chính phủ, tượng trưng bằng Wolfgang và một bên là lòng nhân đạo cứu người bằng sự rủi ro của chính mình mà Moshe là nạn nhân tiêu biểu. Đối với người khác đó là sự cân nhắc đắn đo, nhưng đối với Sugihara câu trả lời dường như đã có sẵn, cấm đoán của Bộ Ngoại Giao không làm ông chùn bước.

Ngày 2 tháng 8 năm 1940, Sugihara nhận một bức điện từ Tokyo ra lệnh đóng cửa tức khắc Tòa Lãnh Sự và phải trình diện tại Tòa Đại Sứ Nhật ở Berlin. Lúc đó Nga đã chiếm Lithuania, tất cả sứ quán ngoại quốc đều được lệnh đóng cửa. Ông yêu cầu Tòa Đại Sứ Nga gia hạn vì số người xin visa càng ngày càng đông. Tòa Lãnh Sự Nhật được gia hạn tới ngày 28 tháng 8 năm 1940. Ngày đóng cửa Tòa Lãnh Sự, thay vì lên đường đi Berlin, quá mỏi mệt gia đình ông ra Hotel Metropole ở vài ngày để nghỉ ngơi. Lập tức lobby của khách sạn có một hàng dài người tỵ nạn xếp hàng xin visa ! Ông đã gởi con dấu của Tòa Lãnh Sự về Berlin, nhưng không muốn họ thất vọng, ông dùng mẫu giấy in sẵn của Tòa Lãnh Sự để cấp visa, dù chính ông cũng không biết nó có hiệu lực hay không. Ra nhà ga, lên xe lửa ông vẫn tiếp tục viết và trao cho họ qua cửa sổ. Lúc xe lửa chuyển bánh, ông trao tất cả mẫu giấy còn lại cho họ. Câu nói cuối cùng ông nghe được là “Chúng tôi không bao giờ quên ông, chúng ta còn gặp lại”.



Hình trích từ một trong những web site về Sugihara
(người viết không còn nhớ địa chỉ URL)

Sau đó ông được phái làm Lãnh Sự (Consul General) tại Prague (Tiệp Khắc), Königsberg (Đức) và Bucharest (Romanie). Cũng như tại Lithuania, ngoại giao chỉ là cái vỏ bọc, công tác chính của Sugihara là thu thập tin tức quân sự, thông qua sự hợp tác với mạng lưới tình báo Ba Lan.

Sau chiến tranh

Chiến tranh chấm dứt gia đình ông bị quân Nga giam 18 tháng ở Romanie. Sau đó đi xe lửa trong toa chở hàng hơn một tháng xuyên Siberia. Họ đi theo đúng lộ trình của Sugihara Survivors ! Tới Nakhodka bị giam thêm 3 tháng. Một hôm người cai tù Nga khen bộ kimono của bà Yukiko lạ và đẹp. Bà lập tức tặng anh ta bộ kimono đẹp nhất, ngày hôm sau cả gia đình được thả ! Nghĩa là họ quên thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu).

Về Nhật năm 1947, Sugihara lên trình diện Bộ Ngoại Giao và được Thứ Trưởng Okazaki tiếp. Trong buổi gặp mặt này, ông bị yêu cầu làm đơn từ chức vì hành vi bất tuân lệnh ở Lithuania. Những gì phải đến cuối cùng đã đến, đây là giây phút mà hai vợ chồng ông lo lắng sau ngày rời Lithuania. Lúc đó ông 47 tuổi, một cái tuổi khó kiếm việc ở Nhật, nhất là sau chiến tranh. Cả gia đình ông phải trải qua những ngày tháng cơ cực, có lúc ông phải gõ cửa từng nhà để bán bóng đèn ! Nhưng nhờ khả năng sinh ngữ, ông tìm được nghề thông dịch viên và cuối cùng làm General Manager cho chi nhánh Moscow của một hãng mậu dịch Nhật. Ông làm công việc này cho tới ngày về hưu.

Yehoshua Nishri, một trong năm người đại diện đã gặp ông ở Kaunas, sau này trở thành Tùy Viên Kinh Tế Tòa Đại Sứ Israel ở Tokyo. Nishri bắt được liên lạc với ông năm 1968. Nhờ Nishri lần đầu tiên ông biết visa của ông đã cứu sống hàng ngàn người tỵ nạn. Những người “Sugihara Survivors” này có liên lạc với Bộ Ngoại Giao Nhật để tìm ông sau chiến tranh, nhưng không được. Một phần ông không còn làm cho chính phủ, một phần họ tìm sai tên, “Sempo Sugihara” thay vì “Chiune Sugihara”. Hồi còn ở Kaunas, vì tên Chiune khó đọc đối với người ngoại quốc, ông bảo họ gọi ông là Sempo (onyomi). Chiune và Sempo là hai cách phát âm của cùng một tên, 杉原 千畝.

Để hiểu giá trị của những tờ “Sugihara visa”, chúng ta cần nhìn số phận của những người Do Thái không có visa. Trước chiến tranh Lithuania có 235,000 người Do Thái, sau chiến tranh chỉ còn lại chưa tới 5,000 ! Ba Lan có khoảng 3.3 triệu người Do Thái, hơn 3 triệu bị sát hại trong chiến tranh !

Năm 1969 ông viếng thăm Israel và được chính phủ đón tiếp. Ông gặp lại Zorach Warhaftig, một trong năm người đại diện người tỵ nạn ở Kaunas. Ông này bây giờ là Bộ Trưởng Bộ Tôn Giáo và là một trong những người đầu tiên ký tên trong tuyên ngôn độc lập của Israel. Ông cũng được nhìn lại transit visas mà ông đã viết gần 30 năm trước. Cả gia đình ông được trao tặng quốc tịch Israel. Người con trai út, Nobuki, được học bổng tại Đại Học Jerusalem.

Tuy lòng nhân ái của ông được đánh giá cao, nhưng cũng có người muốn biết động cơ nào đã thúc đẩy ông lao vào công tác … vô bổ này ? Biết đâu đây chỉ là hành động trả lễ đối với sự cộng tác của tình báo Ba Lan ? Đây là câu trả lời của chính ông khoảng năm 1985. (tr. 259, tài liệu tham khảo số 3).

“You want to know my motivation, don’t you ? Well, it is the kind of sentiments anyone would have when he actually sees the refugees face to face, begging with tears in their eyes. He just cannot help but symphatize them …. Yes, I actually witnessed such scenes with my own eyes. Also, I felt at that time, that the Japanese government did not have any uniform opinion in Tokyo. Some Japanese military leaders were just scared because of the pressure from the Nazis; while other officials in the Home Ministry were simply excited.

People in Tokyo were not unified. I felt it kind of silly to deal with them. So, I made up my mind not to wait for their reply. I knew that somebody would surely complain to me in the future. But, I myself thought this would be the right thing to do. There is nothing wrong in saving many people’s lives…”


Năm 1985 ông là người Á Châu duy nhất được trao tặng “The Righteous Among Nations” từ Bảo Tàng Viện Holocaust ở Israel. Cùng năm này một tổ chức dân sự Nhật trao tặng Nagasaki Peace Prize.

Ông qua đời năm 1986, thọ 86 tuổi. Các hội đoàn Do Thái khắp nơi cử một phái đoàn hùng hậu qua Nhật dự đám tang, lúc đó dư luận Nhật mới bắt đầu biết tới ông ! Khoảng năm 2004 Bộ Ngoại Giao Nhật có gởi thư chính thức xin lỗi bà Yukiko. Thư này cũng khen ông Sugihara can đảm và có lòng nhân đạo. Lúc đó ông Sugihara đã ra người thiên cổ gần 20 năm và bà Yukiko đã 91 tuổi, sắp về cõi vĩnh hằng !

Tượng đài kỷ niệm, bảo tàng viện, tem, tên đường Sugihara … được xây dựng ở Jerusalem, Kaunas, Poland, Massachusetts, Los Angeles và Yaotsu, nơi sinh quán của ông. Thiên Hoàng Akihito và Hoàng Hậu trong lần viếng thăm Âu Châu có ghé thăm tượng đài kỷ niệm Sugihara ở Lithuania.




Thiên Hoàng Akihito và Hoàng Hậu Michiko trước tượng đài kỷ niệm Sugihara ở Lithuania




Sau ngày ông qua đời, bà Yukiko có xuất bản tập hồi ký “Visas for Life”. Tổ chức Visas for Life Foundation có triển lãm tại nhiều thành phố lớn trên thế giới.

Khoảng năm 1996 (?), trong lúc nói chuyện với một người bạn, tôi thấy anh ta bồn chồn, lo lắng cho công việc sắp tới. Tôi đoán có lẽ anh được trao một công việc quan trọng nào trong hãng ? Anh lắc đầu cho biết không phải vậy. Có một phu nhân người Nhật sắp qua Mỹ và cộng đồng người Do Thái ở đây sẽ có một buổi tiếp tân, anh ta sẽ là thông dịch viên ngày hôm đó ! Anh ta giỏi tiếng Nhật, có vợ Nhật, nhưng dù vậy khả năng Nhật Ngữ vẫn không phải 100%, nên hơi lo. Tôi thường xuyên theo dõi tin tức báo chí, nhưng không biết tin này. Biết tôi thắc mắc, anh ta kể vắn tắt phu nhân này là vợ ông Sugihara, người từng cứu người Do Thái trong đệ nhị thế chiến. Tôi không hỏi thêm, sau đó tìm đọc tài liệu trên internet về ông này. Rồi câu chuyện rơi vào quên lãng … Cho tới gần đây tình cờ tôi coi được phim tài liệu “Conspiracy of kindness”. Phim này cho tôi một cái nhìn mới về câu chuyện ông Chiune Sugihara. Khác với những bài viết trên internet, phim này đặt câu chuyện trong bối cảnh đệ nhị thế chiến, cách trình bày này cho cái nhìn đầy đủ và làm câu chuyện hấp dẫn hơn. Coi xong, hiểu được vấn đề nhiều hơn, tôi được kích thích bởi nhiều chi tiết về đệ nhị thế chiến, mới tìm đọc sách về Chiune Sugihara và cuối cùng bài viết này ra đời.


Ghi Chú :

1) Sugihara Chiune là cách xưng hô của người Nhật. Trong bài này người viết dùng “Chiune Sugihara” để thống nhất với các tài liệu tham khảo.

2) Có giả thuyết cho rằng ông bị quân đội Nhật ở Mãn Châu ép từ chức vì ông tiếp xúc quá nhiều với người Nga, trong lúc Nga và Nhật đang kình nhau. Theo diễn biến của những năm về sau, giả thuyết này không có tính thuyết phục.

3) Tên người vợ Nga là Klaudia Semionovna Apollonova. Phải khó nhọc lắm nhà nghiên cứu Hillel Levine mới tìm ra được bà năm 1995, lúc đó bà đang sống trong một viện dưỡng lão ở Cabramatta (Úc). Qua buổi phỏng vấn, bà Klaudia cho thấy vẫn còn yêu mến Sergei Pavelovich, nickname của Sugihara, người gọi bà là Yukiko. Món quà cuối cùng mà Sergei tặng Yukiko là bộ áo kimono, lúc đó Sergei chỉ mới có … 81 tuổi ! quá cái tuổi thất thập cổ lai hy. Có một chuyện không liên quan lắm nhưng thiết ngĩ cũng nên kể ra đây vì nó có mầu sắc “dị đoan”, theo cách suy nghĩ của người Á Đông.

Sau khi có được địa chỉ của bà Klaudia, lúc đầu ông Levine dự định chờ vé máy bay đại hạ giá sẽ bay qua Úc phỏng vấn, nhưng nghĩ tới cái tuổi 93, ông tức tốc đi liền ngày hôm đó. Khoảng 30 tiếng sau, hai người của hai đại lục Mỹ - Úc đang bắt đầu cuộc nói chuyện. Trên đường về Mỹ, ông nhận được tin bà Klaudia qua đời ! Y tá cho biết những ngày cuối cùng bà vui tươi lạ lùng, một hình ảnh họ chưa bao giờ thấy trong bao nhiêu năm bà sống trong viện dưỡng lão. Nếu không có cuộc phỏng vấn chớp nhoáng đó, một phần đời của Sugihara sẽ mãi mãi chỉ là một dấu hỏi. Ngẫu nhiên Yukiko cũng là tên người vợ thứ hai.

4) Đức tấn công Nga ngày 22 tháng 6 năm 1941, chưa đầy một năm sau khi ký Hiệp Ước Bất Xâm Lăng, đúng như Hitler đã “bật mí” với Oshima.

5) Phúc đáp của Bộ Ngoại Giao Nhật phản ảnh chính sách của Nhật đối với người Do Thái thời đó. Mặc dù là đồng minh với Đức và chịu áp lực từ Đức, Nhật chủ trương không sát hại, kỳ thị người Do Thái nhưng cũng không khuyến khích giúp đỡ. Cách ứng xử này này được phác thảo qua Gosho Kaigi năm 1938 (五省会議). Đây là cuộc họp của Thủ Tướng Nhật với bốn Bộ Trưởng : Ngoại Giao – Ngân Khố - Bộ Binh (Army) – Hải Quân. Những bức điện tín trong bài được trích dẫn từ tài liệu tham khảo số 2.

Tài liệu tham khảo :

Người đọc có lẽ thắc mắc tại sao bài viết về một nhân vật Nhật Bản lại toàn tham khảo sách của người Mỹ ? Sự thật là các tác giả sau đây đều nhờ vào sự cộng tác của người Nhật trong lúc biên soạn.

1) “Conspiracy of Kindness” (DVD), phim tài liệu thực hiện bởi Robert Kirk và Dianne Estelle Vicari.

2) “A Special Fate – Chiune Sugihara : Hero of the Holocaust”, Alison Leslie Gold, Scholastic Press, NY, 2000.

3) “In search of Sugihara”, Hillel Levine, The Free Press, NY, 1996.

4) “Diplomat Heroes of the Holocaust”, Mordecai Paldiel, KTAV Publishing House Inc., 2007.

5) Một số tài liệu internet.
Theo Đoàn Tất Trung
Nguồn: erct.com