TỪ THỜI KỲ JOMON TỚI THỜI KỲ TIỀN EDO
Nguồn gốc của thuật xăm mình Nhật Bản đã được chứng minh là tồn tại từ thời Jomon (khoảng năm 10.000 đến năm 300 trước Công Nguyên). Jomon có nghĩa là "hoa văn dây thừng". Rất nhiều bình lọ bằng gốm với vết thừng trên về mặt đã được tìm thấy trong thời kỳ này. Sản phẩm tượng nhỏ bằng đất sét được làm trong thời gian này được gọi là dogu. Những bức dogu cổ nhất được tìm thấy gần Osaka năm 1977 có dấu vết của thuật xăm mình trên mặt. Chúng được đánh giá là có từ thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Những bức tượng nhỏ với dấu xăm cũng được tìm thấy trong thời Yayoi (từ năm 300 trước Công Nguyên đến năm 300 sau Công Nguyên).
Tục xăm mình của Nhật Bản được miêu tả trong lịch sử Trung Quốc thế kỷ thứ 3, Gishiwajinden, cũng là ghi chép lâu đời nhất đề cập đến Nhật Bản. Nhật Bản được gọi là Wa, và tục xăm mình được nói đến như sau:
"...Người Wa xăm lên mặt và vẽ lên người những mẫu hình. Họ thích lặn kiếm cá và vỏ sò. Trước đây họ vẽ mình chỉ để ngụy trang khỏi những loài cá lớn, nhưng sau này những mẫu hình trở thành vật trang trí. Những bộ lạc khác nhau có những cách sơn mình khác nhau. Vị trí và kích thước của hình mẫu thay đổi phụ thuộc vào vị trí trong xã hội hay mỗi cá nhân... Họ bôi lên mình màu hồng và đỏ giống như người Trung Hoa chúng ta dùng bột màu..."
Thời Kofun (năm 300 đến năm 600 sau Công Nguyên) là tiếp theo của thời Yayoi. Kofun mang nghĩa là "mộ cổ". Vào khoảng thời gian này những tượng đất sét hình búp bê, ngựa và nhà cửa đều được tìm thấy trong những nấm mồ. Những tượng này được gọi là haniwa - chỉ là cách gọi khác của dogu thời Jomon. Dấu hiệu trên một số haniwa được đánh giá như là những hình xăm.
Năm 622 sau Công Nguyên, một công sứ Trung Quốc đã ghi chép lại tục xăm mình của Nhật Bản trong Zuisho. Trong đó có một phần miêu tả thói quen xăm mình của những người phụ nữ vùng Ryukyu, "Ryukyu kokuden". Những đảo thuộc Ryukyu nay nằm trong quận Okinawa, ở miền cực Nam của Nhật Bản. Khi nơi này còn là một nước độc lập, nó luôn bị đe doạ bởi sự thống trị của Trung Quốc và Nhật Bản.
Ghi chép này, Zuisho, còn cho thấy Okinawa và Đài Loan đã thiết lập mối quan hệ thông thương từ thời đó. Tuy nhiên nó lại không chỉ rõ Ryukyu trong Zuisho có quan hệ với Okinawa hay Đài Loan. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định mẫu xăm ở Okinawa rất giống với kiểu xăm của một bộ phận thổ dân Trung Quốc. Hình xăm Okinawa có thể không chỉ liên hệ với tục xăm mình ở Đài Loan mà còn với Đông Nam Á.
Sách in ở Nhật Bản đã xuất hiện từ trước thế kỷ thứ 8. Cuốn Kojiki (năm 712 sau Công Nguyên) liệt kê ra rằng có 2 kiểu xăm mình. Kiểu thứ nhất là đánh dấu tước vị của những người đàn ông có địa vị cao trong xã hội. Kiểu còn lại là để nhận dạng tội phạm. Sau này trong cuốn ký sự niên đại của Nhật Bản, Nihonshoki, hoàn thành năm 720 sau Công Nguyên, có ghi chép về một người tên là Azumi no Murajihamako đã bị xăm lên người vì tội phản bội. Đây là ví dụ cho việc sử dụng xăm mình làm một hình phạt. McCallum (1988) đã tổng kết thói quen xăm mình của người Nhật Bản trong suốt thời Kofun. Khởi đầu thời kỳ này, xăm mình vẫn được coi như một tục lệ xã hội có thể chấp nhận được. Tuy nhiên dường như nó đang bắt đầu bắt gặp sự cấm đoán từ các tổ chức, có lẽ từ giữa thời kỳ.
Giữa năm 600 trước Công Nguyên và năm 1600, có rất ít tài liệu đề cập đến tục xăm mình. Tamabayashi (1956) và Van Gulik (1982) đã chỉ ra rằng bộ luật Joei lưu hành năm 1232 đã đề cập đến xăm mình như một hình phạt. Cũng theo một số nhà nghiên cứu (Richie 1980 và Van Gulik) thì xăm mình được sử dụng để đánh dấu và phân biệt những thành phần bị xã hội ruồng bỏ. Do vậy, những người nhận hình phạt xăm mình thường tập trung thành những nhóm nhỏ, bị gọi là eta (cách nói trại của người làng) và hinin (không phải con người).
Izawa (1973) và Tamabayashi (1956) cho biết tục xăm mình cũng được tìm thấy giữa những chiến binh samurai thế kỷ thứ 16. Trong thời gian đó, samurai xăm mình để được nhận dạng.
Người lính ra trận thường mặc áo giáp và có những đồ đạc để nhận dạng riêng nhưng những loài chim ăn xác thối thường lột trần những xác chết trên chiến trường làm cho việc nhận dạng trở nên khó khăn hơn. Trong trường hợp này những hình xăm là cách nhận dạng dễ dàng nhất.
Trong thời Tensho (1573~1591), những chiến binh samurai của bộ tộc Satsuma (giờ là vùng Kagoshima) đã xăm lên mình những ký tự tiếng Nhật lên bắp tay. Nhưng thông tin dạng này không rõ ràng để chứng thực lắm.
XĂM MÌNH Ở AINU VÀ RYUKYU
Tục xăm mình ở Ryukyu được đề cập đến đầu tiên 1461. Tuy nhiên một vài học giả lại coi đoạ miêu tả hình xăm trong Zuisho năm 662 là tài liệu lâu đời nhất của tục xăm mình Ryukyu cho dù tài liệu này còn nhiều chi tiết tự biện. Tài liệu cổ nhất về hình xăm Ainu được ghi lại bởi một nhà nghiên cứu người Ý, Girolamo de Angelis vào năm 1612 và 1621. Người Ainu xăm hình lên mặt và mu bàn tay cũng như cánh tay. Trên mặt họ xăm vòng quanh môi, hai má, trán hay cả lông mày. Có rất nhiều lý do để người Ainu xăm mình: để trang điểm, để phân biệt các bộ lạc, trong dịp thành niên hay biểu thị tôn giáo. Mặc dù chỉ có những hình xăm của phụ nữ Ainu được nói đến nhưng cũng có ghi chép rằng ở một vài vùng khác đàn ông cũng xăm mình.
Những cô gái Ainu bắt đầu xăm mình từ khi họ 10 đến 13 tuổi. Một vài người còn bắt đầu từ khi mới 5 hay 6 tuổi. Những hình xăm của họ sẽ hoàn thành khi họ đến tuổi lấy chồng. Mẫu xăm của người Ainu có liên hệ với quần áo truyền thống của bộ tộc họ.
Tosabayashi (1948) đã trình bày quá kết quả nghiên cứu trên những hình xăm của người Ainu khá chi tiết. Theo đó mẫu xăm có ý nghĩa tương tự như chiếc dây lưng của phụ nữa Ainu, là biểu tượng của sự trinh bạch, trong trắng. Hình xăm Ainu còn được sử dụng để bảo vệ người có nó khỏi bị hành hung bởi những bộ lạc khác.
Hình xăm của Ryukyu lại chỉ có trên mu bàn tay, bao gồm cả ngón tay, cổ tay và khửu tay. Không có mẫu xăm vào phù hợp với mặt. Tục xăm mình không phải là thói quen ở tất cả các đảo thuộc Ryukyu. Ở một vài vùng cả nam và nữ đều có hình xăm nhưng ở một số nơi chỉ phụ nữ mới có. Độ tuổi bắt đầu xăm mình cũng khác nhau, phụ thuộc vào ví trí đảo và các thế hệ. Hình xăm Ryukyu biểu trưng cho tín ngưỡng, sự trưởng thành, kết hôn, trang trí cơ thể, khác biệt về giới tính và truyền thống của bộ lạc. Glacken (1955) đã ghi chép lại rằng phụ nữ Ryukyu xăm mình để tránh không bị bắt vào các nhà chứa tại Nhật Bản. Bắt cóc là việc thường xuyên xảy ra trong lịch sử tồn tại của Ryukyu, và người Ryukyu thì biết rõ rằng người Nhật Bản không thích phụ nữ xăm mình.
Có nhiều ví dụ về việc hình xăm Ainu và Ryukyu có thể chữa bệnh. Người ta tin rằng xăm mình có thể chữa lành một số phần bị nhiễm bệnh. Đây không phải giống như châm cứu, mà có phần siêu thực.
BỐI CẢNH VĂN HOÁ XÃ HỘI
Tokugawa Ieyasu, vị shogun đầu tiên của thời Edo (1600~1867) đã thống nhất lại đất nước và đặt bộ máy chính phủ tại Edo (Tokyo ngày nay). Ông đặt ra một hệ thống xã hội cứng nhắc được chia làm 4 tầng lớp: shi (những chiến binh samurai), no (nông dân), ko (thợ thủ công) và sho (nhà buôn). Những vị trí này được phân chia dựa trên đạo Khổng. Samurai là tầng lớp cao nhất. Nông dân và thợ thủ công ở vị trí cao hơn nhà buôn vì họ góp phần sản xuất chính cho đất nước. Vào thời đó, thuế được trả bằng nguồn lương thực chủ yếu là gạo. Dù vậy nông dân vẫn bị coi như tầng lớp hạng hai. Ieyasu tiếp tục lưu hành những đạo luật khắc nghiệt, những ý tưởng tôn giáo bắt buộc. Năm 1614, ông cấm hẳn đạo Cơ Đốc. Lời tuyên bố của Ieyasu chống lại Chúa rõ ràng để công báo rằng Nhật Bản mới là đất nước của Thần. Thú vị hơn, Ieyasu còn trích trong Đạo Khổng câu nói: "Thân thể, tóc và da thịt là chúng ta nhận được từ cha ta và mẹ ta; không làm tổn hại đến chúng là khởi đầu của chữ Hiếu. Giữ gìn được cơ thể chính chúng ta đã là tỏ lòng thành kính với ông Trời rồi". Đạo hiếu là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong tư tưởng triết học của Đạo Khổng, nó bao gồm những bổn phận của con cái đối với cha mẹ như: vâng lời, có trách nhiệm với cha mẹ và lòng trung thành. Đó cũng là nền tảng của lễ nghi phong kiến. Hơn nữa, những hệ thống của Chu Hsi, một triết gia nghiên cứu về Đạo Khổng mới sau này còn được Hayashi Razan, một trong những triết gia nổi danh nhất thời tiền Edo dẫn dắt. Chu Hsi nhấn mạnh sự liên hệ giữa con người với nhau qua năm mối quan hệ chính: giữa cha và con trai, giữa người cai trị và kẻ bị trị, giữa chồng và vợ, giữa anh và em và giữa bạn bè với nhau.
Buke Shohatto (luật nhà binh) được ban hành năm 1615 và nhanh chúng trở thành bộ luật cơ bản của samurai. Nó bao gồm 13 điều, đề cập một cách nghiêm khắc đến cung cách sống hàng ngày của một samurai bao gồm cách giáo dục và hôn nhân, thậm chí cả kiểu ăn mặc. Điều thứ 10 của Buke Shohatto nói rõ : "Tất cả trang phục và đồ trang sức đều phải thích hợp với vị thế của người mặc. Không được đi quá xa trong màu sắc hay kiểu dáng". Những sự hạn chế về trang phục thời Edo rất nghiêm ngặt. Ieyasu ban hành những luật về kiểu cách ăn mặc liên tục trong suốt thời gian trị vì. Ngay cả đối với người thường, luật về phục trang cũng được ban hành cực kỳ chi tiết.








Trả Lời Với Trích Dẫn
Bookmarks