Các cuộc Thập Tự Chinh trong lịch sử
Tiếng La Tinh CRUX có nghĩa là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, biểu tượng của đạo Ki Tô. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ CRUSADE có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công Giáo từ Âu Châu kéo qua các nước lân cận để tấn công những người Hồi Giáo trong thời Trung Cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn chinh Công Giáo này đều mang huy hiệu chữ thập ở phía trước ngực và phía sau lưng nên được gọi là Thập Tự Quân (Crusaders). Suốt trong hai thế kỷ từ 11 đến 13 (1096-1291) những đoàn quân thập tự này đã gieo rắc biết bao kinh hoàng tang tóc cho những người Hồi Giáo Ả Rập. Hình ảnh tàn bạo man rợ của đoàn quân Công Giáo Âu Châu đã in sâu vào tim óc của thế giới Hồi Giáo nói chung và của những người Hồi Giáo Ả Rập nói riêng. Đến nỗi ngày nay, người Hồi Giáo đã đồng hóa Công Giáo với chủ nghĩa thực dân đế quốc. Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền của Tây Phương, họ thường tố cáo hành vi đó là "Tân chiến tranh thập tự". (Neo-Crusade).
Cổ nhân thường nói "ôn cố tri tân", chúng ta hãy coi lại lịch sử của hai thế kỷ chiến tranh đẫm máu do những đoàn viễn chinh chữ thập Công Giáo La Mã phát động chống những người Hồi Giáo ở Trung Đông trong hai thế kỷ từ 11 đến 13. Những bài học lịch sử sẽ soi sáng cho chúng ta trong nhiều vấn đề của thời cuộc hôm nay và cũng để hiểu thêm thực chất của một tôn giáo thường hay vỗ ngực tự xưng là đạo của Công bằng bác ái!
Để trình bày về đề tài này, chúng tôi tham khảo các tài liệu sau đây:
1. The CRUSADES, by Brenda Staleup, Green Haven Press xuất bản 2000.
2. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe, by George Holmes, Oxford University Press 1986.
3. The Cross and the Crescent, by Malcoms Billing, Sterling Publication 1988.
NGUYÊN NHÂN CHIẾN TRANH
Có hai nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thảm khốc giữa hai tôn giáo anh em (fraternal faiths) kéo dài 195 năm là: sự xung đột như nước với lửa về giáo lý và sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo (nhưng thực chất cả hai đều là đế quốc).
1. Sự xung đột về giáo lý
Mặc dầu kinh Koran là Kinh Thánh của đạo Hồi (Koran: The Muslim Gospel) công nhận Jesus là vị tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng Koran phủ nhận tính cách thiêng liêng của Jessus. Koran gọi các phép lạ của Jesus là những trò ảo thuật học mót ở Babylon (Magic and such things as come down at Babylon - Koran 2:102).
Kinh Koran hoàn toàn phủ nhận tội tổ tông, hoàn toàn phủ nhận cái chết của Jesus trên thập giá. Koran khẳng định người Do Thái không giết và không đóng đinh Jesus (The Jews killed him not, nor cruxified him - Koran 4:157)
Muhammad thù ghét Công Giáo vì đạo này thờ ảnh tượng, vi phạm điều răn thứ hai của Maisen. Một điều nữa mà Muhammad ghét cay ghét đắng là thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki Tô. Đối với Muhammad, đạo Ki Tô là Đa Thần Giáo, đi ngược lại chủ thuyết độc thần của tổ phụ Abraham. Hồi Giáo và đạo Do Thái là hai đạo Độc Thần đúng nghĩa vì chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (Monotheist Religion = Only-One-God Religion). Công Giáo La Mã thờ ảnh tượng, thờ ba Thiên Chúa, quá tôn sùng bà Maria và các thánh do họ tự phong... do đó Công Giáo là một tà đạo đa thần chứ không phải là đạo Thiên Chúa đúng nghĩa.
Muhammad cũng ghét đạo Do Thái vì Do Thái gọi Thiên Chúa bằng số nhiều Elohim (số nhiều của El). Đạo Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả Rập là Il. Đi liền với Il có chữ "ah" là một mạo tự (article) trong ngôn ngữ Ả Rập. Vì thế Il thành Il-ah. Khi chuyển sang Anh Ngữ, các chữ I đổi thành A, vì thế Il - ah thành ALLAH (cũng như Ibrahim trong tiếng Ả Rập đổi thành Abraham trong tiếng Anh).
Muhammad gọi chung những người theo đạo Do Thái và Ki Tô Giáo là "Những tín đồ của các sách thánh kinh" (The People/The followers of the Books) hoặc gọi chung là "Những kẻ không tin Thiên Chúa Allah" (The Unbelievers). Riêng đối với các tín đồ Công Giáo, Muhammad gọi là "Những kẻ thờ thần tượng". (The Idolers).
Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi các tín đồ đạo Hồi Giáo phải chiến đấu chống lại những kẻ theo Do Thái, đạo Ki Tô và tất cả những ai không tin theo đạo Hồi. Trong vùng kiểm soát của Hồi Giáo, bất cứ một ai ngoại đạo đều phải nộp thuế thân và phải chấp nhận một địa vị thấp kém trong xã hội. (Fight those who do not believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight them until they personnally pay tax on non - Muslims adknowledging their inferiority - Koran, sura 9).
Những người Công Giáo thờ ảnh tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo (The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred mosques - Koran 9:28).
Các người Do Thái và Ki Tô bị cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Ki Tô Giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị sát hại bất cứ lúc nào. Kinh Koran chương 9 câu 5 đã qui định: "Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hãy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hãy phục kích để bắt chúng" (When the sacred months have passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives and wait for them in every ambush - Koran Sura 9: verse 5).
Người Tây Phương gọi những câu thơ nói trên là "Những câu thơ của đao binh" (The verses of the swords). Trong thực tế, những câu thơ của kinh Koran đã tạo nên sự dũng mãnh của những đoàn quân Hồi Giáo trong công cuộc mở mang nước Chúa Allah (The Kingdom of Allah). Chỉ trong một thế kỷ, đoàn quân Hồi Giáo đã chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới Trung Quốc. Nhưng đồng thời những câu thơ nói trên cũng đã gây hận thù sâu sắc giữa các tôn giáo anh em và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc thánh chiến.
Source: http://my.opera.com/ngocuong1960/blo...%BB%B1%20chinh