
Nguyên văn bởi
cún
この月は 熱いですから、 cúnは dalatに ずっと います

らいげつに 私は saigonに 行きます^^, 私も ぞれ を楽しみにしています
ヨーロッパ でしょう? wow, 凄い 凄い ね!!!mohoaちゃんは 何時に 行きますか?
そうですか。Dalatは 美しい ですね。私は そこに 行きたい よ。とにかく、ヨーロッパに 今月末に 行くつもりです。
ところで、 mohoaちゃん は まんがおたく ですか?
私は まんが好き です。おたく じゃないですよ。^^
@hayvevoianh: Cảm ơn bạn nhiều. Mong bạn tiếp tục chỉ bảo thêm. Onegaishimasu. m(_._)m
Nhưng mà trong bài trước, anh chàng Yoshi không những tỏ ra là mình là người am hiểu mà còn muốn khoe khoang, chứng tỏ ta đây có học thức nữa. Đương nhiên với tình huống bình thường thì ta không dùng 博士 cho trường hợp này, nhưng tình huống ở đây hoàn toàn ko bình thường. Thế nên chị Takase mới ko thèm đi chơi với anh ta nữa. Ne? ^^
*
Bài hôm nay chỉ là ôn tập lại những gì chúng ta đã học, nên mo*hoa bỏ qua phần Kana và dịch Tiếng Việt. 行きましょう。
Bài 59 - Dự báo thời tiết.
Khi ai đó bị ốm, ta nói;
お大事に (Odaiji ni): Mong anh sớm bình phục!
Trả lời cho câu trên, ta chỉ cần nói cảm ơn: ありがとうございます.
Audio bài 56 -> bài 60
Code:
http://www.japanesepod101.com/index.php?cat=1&order=asc&paged=12
Hội thoại: (01:19)
たけ: この テレビは すごい ですね。
夏子: でしょう。六百チャンネルも ありますよ。
たけ: すごい ですね。私は 天気予報が 好き です。世界の天気を 見ましょう。
夏子: 本気 ですか。
たけ: 本気ですよ。トロントは雨です。ベ リンは雪です。ロスは晴れです。東 は曇りです。ロンドンはきりです。 楽しいです。
夏子: 何が そんなに 楽しい ですか。
たけ: もちろん、お天気 お姉さん です。
夏子: あ、やっぱり。
Từ vựng:
チャンネル (channeru):kênh truyền hình
天気 「てんき」(tenki): thời tiết - lịch sự hơn, ta thêm "o" vào trước -> お天気
予報 「よほう」(yohou):dự báo, dự đoán
明日の天気はどうですか - thời tiết ngày mai thế nào?
あ、ちょっと分かりません。天気予 を見ましょう。- A, tôi không biết. Ta hãy xem dự báo thời tiết xem.
本気 「ほんき」(honki): nghiêm túc, thật sự, làm thật.
Sau mỗi lần thua cuộc, Peter nói:
つぎは本気で - lần sau chắc chắn.
Hoặc khi bạn hỏi ai đó:
本気 ですか? - anh làm thật đấy à?
トロント : Toronto
ベルリン (berurin) : Berlin
ロス (rosu) cách nói tắt của ロサンゼレス (Rosanzeresu): Los Angeles
ロンドン : London
雨 「あめ」(ame): mưa
雪 「ゆき」(yuki): tuyết
晴れ 「はれ」(hare): nắng
曇り 「くもり」(kurmori): mây
霧 「きり」(kiri): sương mù
お天気お姉さん 「おてんきおねえ ん」(Otenki Oneesan): Chị dự báo thời tiết.
- "Oneesan" là cách gọi 1 cô gái trẻ 1 cách thân mật, tương tự như Tiếng Việt ta gọi ai đó "chị ơi" nhưng người đó không nhất thiết là chị ruột. Điều này thì xa lạ với người phương Tây, vì họ quan niệm đã gọi "anh/chị" = quan hệ ruột thịt.
またあした。
Bookmarks