GIẢI THÍCH VỀ TÊN GỌI
Nếu nói đến Miyamoto Musashi là nói đến Gorin-no-sho, nói đến Gorin-no-sho là nói đến Miyamoto Musashi. Ngay cả những người không thể kể tên nổi một tác phẩm trước tác nào của những kiếm khách đương thời khác vẫn biết đến Gorin-no-sho của Miyamoto Musashi. Trong một chừng mực nào đó thì điều này kỳ lạ bởi vì tuy có tiếng tăm như vậy nhưng nó lại trải qua một quá trình lịch sử khá lạ lùng. Gorin-no-sho là cuốn sách giáo khoa về binh pháp do Miyamoto Musashi viết. Tên sách gồm 3 chữ Hán là "ngũ" (go), "luân" (rin) và "thư" (sho) và thêm trợ từ "no" vào trong cách đọc. Nhưng Musashi đã không viết ra tập sách với tựa đề "Gorin-no-sho". Đây chỉ là cái tên hậu thế gán ghép mà gọi chứ thực ra Musashi đã không đặt tên cho tác phẩm của mình như vậy.
Cái tên "Gorin-no-sho" trở nên thông dụng và phổ biến từ sau thời Meiji, còn từ trước đó cho đến thời Edo thì tác phẩm này được gọi bằng nhiều tên khác nhau, đại khái như "Gokan-no-sho" (tập sách 5 quyển), "Heihō gokan" (binh pháp ngũ quyển), "chi sui ka fū kū no gokan" (5 quyển địa thủy hỏa phong không),... Trong đó, ở Higo (1) có trường hợp gọi tác phẩm này là "Gorin-no-sho" nhưng cái tên này không được phổ biến, hơn nữa cách gọi "Gorin-no-sho" hạn chế trong một phạm vi rất nhỏ và tác phẩm lúc đó vẫn được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau.
Yoshida kehon (Gorin-no-sho bản sao nhà Yoshida), 5 quyển địa thủy hỏa phong không do Terao hiệu đính
Như nhiều người đã biết, danh tác "Genji Monogatari" (2) của nữ sĩ Murasaki Shikibu có tựa đề như vậy cũng không phải do chính tác giả đặt ra. Đương thời tác phẩm này cũng được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như "Genji no monogatari", "Hikaru Genji no monogatari", "Murasaki no monogatari", "Murasaki no yukari no monogatari",.... Đến thời Edo, trường phái Hán học còn gọi tác phẩm này là "Gengo" hay "Shibun". Cho nên, trong cái truyền thống hậu thế tự đặt tên cho sách vở đó thì tác phẩm của Musashi được gọi là "Gorin-no-sho" cũng không phải điều lạ.
Hosokawa kehon, bản sao của họ Hosokawa
Theo như ghi chép trong "Tanji Hōkin Hikki" (3), tập truyện ký về Musashi ở Chikuzen thì không phải Musashi mất sau khi hoàn tất tập 5 cuốn binh pháp thư này. Vì vậy lúc đó cũng chưa có tên cụ thể để chỉ toàn tập sách này, và tập sách cũng không còn lưu lại như bản sao với bìa đầy đủ như hiện tại.
Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là tập sách này hoàn toàn không có tiêu đề gì. Musashi gọi 5 quyển lần lượt là "địa" (chi), "thủy" (sui), "hỏa" (ka), "phong" (fū) và "không" (kū). Tuy không có tên gọi cụ thể để chỉ tổng thể 5 cuốn nhưng từng cuốn riêng biệt vẫn có tên gọi. Vì vậy hậu nhân gọi đây là "Gokan no Heihōsho" (5 quyển binh pháp thư) hay "Heisho Gokan" (binh thư ngũ quyển).
Kusunoki kehon, bản sao của họ Kusunoki
Vậy tại sao tập sách này lại được gọi là "Gorin-no-sho", vì "địa", "thủy", "hỏa", "phong", "không" là năm nguyên tố cấu thành nên vũ trụ và Musashi đặt tên từng quyển theo tên các nguyên tố này. Nhưng sẽ nói đến ở phần sau, Musashi đặt tên từng quyển theo tên các bộ phận của Ngũ Luân tháp (4) (tháp 5 tầng) có lẽ đúng hơn là theo tên năm nguyên tố vũ trụ. Nói cách khác là Musashi đã xây dựng nên một ngọn tháp 5 tầng bằng 5 quyển trong tập sách. Ngũ Luân tháp là ngọn tháp đá dựng ở mộ người chết, vậy nên chúng ta tiếp nhận di nguyện của Musashi và gọi tập sách này là "Gorin-no-sho".
Iwato Kannon, Reigan-dō
Theo như phần mở đầu của Gorin-no-sho thì ông bắt đầu viết tập sách này vào năm 60 tuổi, vào tháng 10 năm Kan-ei thứ 20 (1643). Khi chấp bút là vào thượng tuần tháng 10, ông lên núi Iwato ở vùng ngoại ô phía Tây Kumamoto cầu nguyện. Nơi đây có Iwato Kannon (Quan Âm Iwato), một nơi linh hiển nổi tiếng của đức Quan Âm và có động Reigan-dō (Linh Nghiêm động). Từ nơi danh thắng này mà hậu thế đã khai sinh ra truyền thuyết Musashi viết nên Gorin-no-sho tại đây.
Nhưng dù sao Musashi cũng đã bắt đầu viết Gorin-no-sho vào tháng 10 năm Kan-ei thứ 20. Hình như bấy giờ ông không ở dinh thự Kumamoto mà ở một biệt trang trong một ngôi làng gần đó. Đến mùa hạ năm sau, niên hiệu Kan-ei 21 (1644, cũng là năm đầu niên hiệu Shōhō) thì Musashi phát bệnh, không còn chấp bút được như ý muốn nữa. Có đại phu được phái đến để điều trị nhưng bệnh tình Musashi ngày càng nặng. Vì điều kiện chữa trị ở biệt trang rất hạn chế nên chúa Hosokawa Mitsunao (5) cùng quan Gia Lão (6) Nagaoka Okinaga cùng quần thần khuyên ông nên trở về Kumamoto nhưng Musashi không đồng ý. Khiến mọi người phải khổ sở một thời gian, mãi đến tháng 11 năm đó Musashi mới được đưa về dinh thự ở Kumamoto.
Có thể Musashi đã chấp bút viết bản thảo trước khi mất nhưng dựa theo sự việc này, từ tháng 10 năm Kan-ei thứ 20 cho đến lúc phát bệnh, tức mùa hè, hay nhiều nhất là mùa thu năm sau thì Gorin-no-sho được viết trong một khoảng thời gian ngắn chưa đầy một năm. Nhất là khoảng thời gian từ sau tháng 11 năm Kan-ei thứ 21, với bệnh tình như vậy thì khó có thể nghĩ rằng Musashi còn có thể viết được.
Nửa năm sau đó, Musashi qua đời vào ngày 19 tháng 5 năm Shōhō thứ 2, nhưng trước khi mất 7 ngày thì có trao lại tác phẩm cho một môn đệ là Terao Son-no-jō. Có lẽ truyền thuyết này phát sinh dựa trên phần ghi chép tên người nhận và thời gian đề ở mỗi quyển trong tập sách. Nhưng từ việc ngoài Terao Son-no-jō ra, không còn ai khác nhận được thì có thể thấy tập sách này chưa hoàn chỉnh thành tập mà chỉ là một bộ bản thảo duy nhất.
Gorin-no-sho vốn là tập sách chưa hoàn thiện. Vậy nên truyền thuyết Musashi dồn hết tâm huyết để viết nên Gorin-no-sho rồi qua đời chẳng qua chỉ là một truyền thuyết vô căn cớ được hậu nhân dựng nên mà thôi.
Cước chú:
(1) Higo: địa danh ngày xưa, ứng với tỉnh Kumamoto ngày nay. Đây là nơi Musashi lưu lại vào cuối đời, được chúa phiên Kumamoto đối đãi.
(2) Genji Monogatari: tập tiểu thuyết gồm 54 cuốn của nữ sĩ Murasaki Shikibu viết vào giữa thời Heian. Đây được xem là danh tác đầu tiên của nhân loại.
(3) Tanji Hōkin Hikki: tập truyện ký về Miyamoto Musashi do Tachibana Minehira viết. Ông này là một trà nhân, đồng thời cũng là kiếm khách phái Chikuzen Niten Ichi-ryū đời thứ 5.
(4) Ngũ Luân tháp (Gorintō): thạch tháp 5 tầng với 5 tảng đá lần lượt chồng lên nhau với hình dạng tứ giác, tròn, tam giác, bán nguyệt và hình bảo châu. Thời Heian, nó tượng trưng cho đức Đại Nhật Như Lai trong Mật tông, sau trở thành tháp thờ cúng người chết, dựng ở nghĩa địa.
(5) Hosokawa Mitsunao: Daimyō đầu thời Edo, chúa phiên Kumamoto đời thứ 2.
(6) Gia Lão (Karō): chức danh cao nhất trong hệ thống cấp bậc bề tôi của các lãnh chúa thời Edo. Chức này thâu tóm, kiểm soát mọi bề tôi của chúa, giúp chúa lo chính sự, thu chi,<$EE>Mọi việc trọng đại trong phiên đều qua tay Gia Lão.










Trả Lời Với Trích Dẫn
Bookmarks