Trời lại mưa nặng hạt. Ở khu vực chiến đấu quanh núi Ueno, nước mưa ngập đầy hồ và các rãnh nước, đường sá lầy lội, nhiều chỗ lút chân, quân sĩ chiến đấu thật khổ nhọc. Hơn nữa, Shogitai đánh trận lì lợm hữu hiệu hơn dự tưởng, lúc đầu cầm cự rất lâu ở Sanbashi, sau rút về cố thủ cửa Kuromon, dàn trận súng pháo mãnh liệt suốt trong vài giờ, không cho quân triều đình tiến lên được bước nào. Phía Shogitai có 7 cỗ bích kích pháo (pháo nòng ngắn) kiểu Pháp cỡ 4 pound của quân Mạc Phủ cũ để lại, trong đó, 2 cỗ đặt ở Kuromon, 2 cỗ đặt ở Sannodai, còn lại 3 cỗ chia đi các chỗ xung yếu phía sau; hoả lực của các cỗ súng này làm quân triều đình khốn khổ vô cùng. Trận địa pháo binh của quân triều đình thì đặt ở dinh cơ của hai phiên trấn Kaga và Toyama ở Hongodai, nhắm pháo kích núi Ueno qua hồ Shinobazu, gồm hai cỗ đại bác Armstrong do phiên trấn Nabeshima xứ Hizen đã mua được từ Anh quốc trước chính biến. Đạn đại bác ấy không phải hình cầu mà là hình quả đấu (acorn) có mũi nhọn, sức phá hoại, sức giết hại là vô địch trên thế giới thời bấy giờ. Loại đại bác này thì đương thời, ngoài nước Anh ra, trên khắp địa cầu, chỉ có phiên trấn Nabeshima (Saga) xứ Hizen có được mà thôi. Bộ Hải quân Anh lúc đầu cũng không dùng loại đại bác này vì có ít nhiều nguy hiểm trong cách thao tác (xin xem "Đại bác Armstrong" cũng của Shiba Ryotaro, Phạm Vũ Thịnh dịch), sau khi dùng thử trong cuộc chiến giữa hạm đội Anh quốc với phiên trấn Satsuma, thấy có công hiệu nên đặc biệt quan tâm nhưng vẫn chưa dám chính thức thu dụng. Pháo thuật trưởng R.E. Trace của soái hạm Anh quốc trong cuộc chiến giữa hạm đội Anh quốc với phiên trấn Satsuma đã viết báo cáo về bản quốc như sau: "Có thể nói rằng trong tất cả các loại súng pháo được sử dụng hiện tại, loại đại bác này có lực phá hoại lớn nhất. Hiệu lực của loại đại bác dùng đạn phát tán có nhét ngòi nổ này, phải nói là có tán dương đến mấy cũng không đủ".
Hôm trước ngày tấn công Ueno, Omura đã đặc biệt cho gọi người pháo đội trưởng đảm trách hai cỗ đại bác này của phiên trấn Nabeshima xứ Hizen đến bảo:
-"Đại bác này là bức trường thành bảo vệ quan quân triều đình đấy. Nếu quân địch xông tới thì phải thối lui, đừng để địch lấy mất".
Mà đạn đại bác này cũng không có nhiều, hơn nữa, ngay từ đầu cuộc chiến đấu mà đã bắn đại bác này thì quân địch sẽ biết vị trí mất, do đó Omura dặn là đừng bắn sớm, chờ đến buổi chiều, khi chiến đấu đến hồi kịch liệt nhất thì mới bắt đầu bắn đại bác.
Đúng như lời dặn ấy, chiều hôm đó, tiếng nổ long trời đặc sắc của loại đại bác này đã vang rền đến tận khu Nishinomaru trong thành Edo. Đang lim dim tựa đầu vào cột trụ, Omura mở mắt, rút đồng hồ trong túi ra xem, rồi cho vào túi lại, nhắm mắt tiếp.
Tình hình chiến đấu được cấp báo về thành Edo mỗi giờ, nhưng không thấy tiến triễn như ý, mà thời gian lại trôi qua nhanh chóng. Ngay cả bọn Tham mưu, phó Tham mưu của phiên trấn Choshu cũng bắt đầu xầm xì:
-"Cứ điệu này chắc phải đánh luôn ban đêm nữa!"
-"Đạt Ma phun lửa đang làm gì kia chứ?"
Bàn tán xôn xao khiến bọn Satsuma nghe thấy, cũng xúm lại cùng đi cật vấn Omura. Cả bọn xông vào phòng Phủ Tổng đốc thì chẳng thấy Omura đâu cả. Mới hỏi người trong phòng:
-"Đạt Ma phun lửa đâu rồi?"
Người trong phòng đáp là mới đi ra đó, có lẽ leo lên tháp ngắm núi Phú Sĩ rồi.
Nghe thế, cả bọn theo nhau leo lên tháp. Quả thật có Đạt Ma phun lửa ở đó, đang tựa đầu vào cột. Tham mưu Terashima Akisuke đại diện mọi người hỏi:
-"Xin tiên sinh cho hỏi. Lúc đầu tiên sinh bảo là tuyệt đối không được đánh ban đêm. Bảo là sẽ xong xuôi nội trong ban ngày. Thế nhưng với tình hình chiến đấu này thì đến chạng vạng cũng chưa phá nổi vòng ngoài của quân địch. Thế thì hóa ra là phải đánh ban đêm rồi. Mà đánh đêm như thế chỉ vì phải đánh tiếp trận ban ngày chứ đâu có còn lợi thế gì. Tiên sinh tính sao?"
Omura như còn đang suy tính chuyện gì lung lắm nên không tỏ phản ứng gì trước lời cật vấn ấy. Tiếp tục suy nghĩ một hồi lâu, rồi như chợt để ý đến bọn kia, Omura rời lưng khỏi cột trụ, chỉ tay vào đồng hồ mà nói:
-"Đến giờ rồi. Thu dọn thôi".
Cứ như là kim đồng hồ ấy có uy lực kết thúc chiến trường được vậy.
Thế mà, như hô ứng với lời nói của Omura, bên ngoài cửa sổ, phía Ueno bùng lên đám khói đen nghịt, có cả lửa đỏ ngùn ngụt bốc lên. Omura quay mặt nhìn cả bọn:
-"Có vẻ đã dứt điểm rồi đấy". Omura lấy ngón tay gạt mồ hôi trán, bắt đầu nói dài dòng khác với lệ thường, như bình giảng về cuộc thí nghiệm: -"Ngọn lửa kia là do quân địch đốt bỏ núi Ueno để bại tẩu đó. Bọn nghịch tặc ấy không còn lý do để ở đấy nữa. Ngọn lửa kia là dấu hiệu bọn ấy trốn chạy, không chừa tên nào cả".
Chẳng bao lâu sau, tin chiến thắng được báo về. Omura ra lệnh phân phát tờ Nhật chí thành Edo trong thành và trong các phố. Rồi bảo người giúp việc ban Tham mưu là Shionoya Ryokan chuẩn bị áo xống cho mình, và đi ra khỏi thành. Có Shionoya Ryokan, Oya Onojiro và hai người phiên sĩ Choshu đi theo. Omura vẫn đội nón cói nông dân che cả mặt như thường lệ, ngồi lắc lư vụng về trên lưng ngựa.
Omura đi thị sát dấu vết chiến trận. Thấy phía trước tiệm Matsuzakaya ở Ueno Hirokoji tán loạn những chiếu cói quân triều đình đã dùng để chắn đạn địch; bên hông Matsuzakaya ngổn ngang những thùng đựng rượu, những gói lá đựng cơm nắm; ở cửa vào xóm Sanmaibashi Nakacho có 5, 6 xác quân triều đình; gần cửa Kuromon còn 7 xác quân Shogitai. Xuống qua chùa Kiyomizudo thì thấy tháp chuông nhô lên giữa đám than tro, Omura ghé vào xem phòng trong, đến khi mặt trời lặn mới quay về thành, miệng lẩm bẩm: -"Thành phố không bị cháy".
Có lẽ Omura muốn chính mắt mình kiểm nhận thành công của cuộc thí nghiệm.
Trong thành phố, đám thị dân nán lại không chạy loạn, bây giờ tụ tập ở các ngả ba ngả tư. Chẳng ai chú ý gì đến người đàn ông đội nón che cả mặt, quần cộc, áo choàng tay ống ấy cả. Có lẽ cho dù có bảo họ đấy là người quân sư đã lập kế hoạch, bố trí và thực hiện trận tấn công Ueno này, hẳn là họ cũng không tin.
Ngay sau đó, cuộc chiến bình định vùng Đông Bắc (Nhật Bản) rồi tiến đánh Hakodate đã bắt đầu, nhưng Phủ Tổng đốc của quan quân triều đình vẫn đóng ở thành Edo, và Omura cũng không rời thành này một bước nào. Trước trận tấn công Shogitai này, đối với đám quân sĩ còn lại của Mạc Phủ cũ còn cố thủ trong thành Utsunomiya dưới sự chỉ huy của Otori Keisuke, Matsudaira Taro, Hijikata Toshizo, thì bộ đội của Tổng đốc đạo Tosando mà chủ lực là quân phiên trấn Tosa lãnh phần thảo phạt, nhưng quân triều đình đã thua trận ở Oyama và chiến đấu khó khăn ở các mặt trận khác, tình hình chiến sự ở hướng ấy không khả quan mấy. Thư yêu cầu tiếp viện tới tấp truyền về Phủ Tổng đốc. Nhưng Omura đều xé bỏ cả. Quan quân ở tiền tuyến tức giận, có người đòi chém chết Omura. Chịu không thấu, hai đội trưởng Kawada Sakuma của phiên trấn Onshu và Tarasaki Gozan của phiên trấn Choshu từ tiền tuyến thay ngựa nhiều lần mới chạy về được đến Edo, khẩn cấp báo cáo tình trạng nguy khốn ở các mặt trận. Tarasaki nói nếu Omura không phái binh cứu viện thì dù là đồng hương Choshu, sẽ liều tự tay mình chém Omura rồi ra sao thì ra! Tarasaki Gozan xuất thân là phiên sĩ cao cấp của phiên trấn Choshu, lại được Thế tử sủng ái, do tài ba về kiếm thuật mà được làm cận vệ thân thích với Thế tử, thời Mạc Phủ chinh phạt Choshu, đã chiến đấu dũng mãnh ở mặt trận cửa Geishu. Thường chỉ xem Omura là thứ y sĩ nông dân mà khinh thị.
Tarasaki sùi bọt mép kể lể tình hình chiến đấu khổ nhọc, nhưng Đạt Ma phun lửa Omura vẫn điềm nhiên ngồi nghe.
-"Ở tiền tuyến, hiện nay súng trường đang phải bắn suốt từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều mỗi ngày đấy!". Tarasaki phải trưng dẫn đến mức cực đoan như thế.
Tính Omura lại không ưa chuyện khoác lác, nên lạnh lùng bảo:
-"Này cậu, khoác lác thì không nên!"
Tarasaki đứng vùng dậy:
-"Khoác lác chuyện gì?"
Omura điềm tĩnh đáp:
-"Chuyện khoác lác thì phải nói là khoác lác thôi. Súng trường mà bắn suốt 3, 4 giờ thì nóng đến nỗi chạm tay vào là phỏng ngay. Nếu không lấy nước làm nguội lại thì không thể nào bắn tiếp được. Vậy mà lại bảo là súng trường đang phải bắn suốt từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì khoác lác quá! Nếu cậu bảo không khoác lác thì ngay tại đây, cậu bắn suốt 4, 5 giờ xem nào! Vả lại, nghe cậu nói thế thì hiểu là binh sĩ vẫn còn mỗi người khoảng hai trăm phát đạn đấy chứ gì. Với quân lực như thế thì làm sao có thể cấp thêm đạn dược, chứ đừng nói gì đến viện binh".
Omura đã phản luận bằng lý do vững chắc không có khe hở. Nhưng cách nói không khéo. Tất nhiên, Tarasaki và Kawada đã phải rút lui, chịu thua chuyện tranh luận, nhưng đã chất chứa thêm oán thù. Oán thù ấy không chỉ ở hai người này, mà còn lan ra khắp đám quân sĩ ở tiền tuyến nữa. Nhất là đối với người Satsuma, và cả bọn đội trưởng trong phiên trấn Choshu mà không phải là học trò của Omura, thì oán hận ấy đã bám rễ sâu trong lòng họ.
Trong chiến dịch tiến đánh Hakodate về sau này cũng thế. Tham mưu của quân triều đình là Kuroda Ryosuke lo ngại không đủ binh lực tấn công, mới bảo một sĩ quan người Satsuma lên quân hạm về Edo xin Omura cấp tốc phái viện binh thêm. Omura thản nhiên bảo:
-"Chừng đó đủ rồi! Trước khi anh quay trở lại Hakodate thì đã xong rồi đấy!".
Quả đúng như lời Omura thật. Nhưng dự tưởng của Omura đúng quá lại làm cho người ta mất mặt. Omura không hiểu được những điều tế nhị như thế trong tâm tình người khác.
Sau cuộc chiến Oshu, lại có câu chuyện truyền tụng như thế này. Quan Tham mưu trưởng là Saigo Takamori (thuộc phiên trấn Satsuma) từ tiền tuyến trở về, lâu ngày lại cùng làm việc với Omura trong sảnh đường ở Edo. Mọi người trong sảnh đường hy vọng là hai vị đầu não của quân triều đình gặp nhau thì hẳn là có chuyện luận bàn hấp dẫn lắm đây. Thế nhưng, Saigo vẫn ngồi yên, mặc nguyên áo choàng, mà Omura cũng chỉ nhìn quanh, chẳng nói gì cả. Đến giờ về, hai người mới nhìn nhau mỉm cười ngượng nghịu rồi ai về nhà nấy ngay. Có lẽ cuộc chiến là hành động chung đã chấm dứt, giữa hai người chẳng còn có gì chung để tán chuyện cả. Nhưng người trong sảnh đường thì thấy hai đầu não cùng im lìm như thế là chuyện quái dị, khiến họ đồn đại, bàn tán một thời gian. Mà chuyện đồn đại này lại càng làm cho người phiên trấn Satsuma bất bình thêm đối với Omura. Họ cho rằng đó là thái độ vô lễ đối với người lãnh đạo lão luyện của họ.
Tháng 6 năm Minh Trị thứ hai (1869), Omura nhậm chức Phó Bộ Trưởng bộ Binh trong chính phủ mới. Vào thời kỳ này, Omura đều đặn gửi tiền xài dư về quê cho vợ là Kotoko, và chỉ dẫn sử dụng theo kiểu Omura:
"Ta gửi một ngàn năm trăm lạng bạc là tiền còn lại trong lương tháng, trong đó một ngàn là để gửi nhờ Ueda Shozo giữ hộ, khi nào cần thì nhờ đưa cho. Còn năm trăm lạng kia thì giữ lấy, có ai tin cẩn được thì cho họ vay, hoặc để mua ruộng đất".
Trong các thư gửi cho vợ, lại có thư như thế này:
"Bảo người nhà đặt gấp mười bốn tấm chiếu ở tiệm chiếu Mukoyama. Chiếu loại trung là được".
Thư gửi về quê thì như thế, nhưng một mặt, trong thời kỳ này Omura đã tiến hành việc xây dựng quân đội (Nhật Bản) thật là to lớn và tinh vi đến mức kinh dị. Có thể nói là thiên tài làm phép lạ!
Là người hễ đi tàu thuyền thì say sóng, nên chưa từng ra nước ngoài bao giờ, thế mà Omura áp dụng được hoàn hảo những binh chế và sở trường của quân đội kiểu Tây phương để thiết lập các chế độ và cơ sở binh bị tân tiến cho Nhật Bản. Có lẽ trong tất cả các nhân tài còn sống sót để đóng góp cho công cuộc Duy Tân, Omura Masujiro là người không thể thiếu được.
Có điều, Omura đã cảnh giới quá đáng đối với phiên trấn Satsuma. Khoảng đầu cuộc Duy Tân, Omura đã âm thầm tưởng định rằng kẻ địch của chính phủ mới sẽ là phiên trấn Satsuma, và đã không ngừng giáo dục như thế cho Saionji Kinmochi lúc bấy giờ còn trẻ lắm. Lý do thì như còn ghi lại trong tư liệu của Saionji về sau này, là Omura đã nói: "Nếu đất Kyushu mà có nhân vật giống như Ashikaga Takauji (1305-1358, sáng lập Mạc Phủ Ashikaga năm 1333, chấm dứt Mạc Phủ Kamakura) nổi lên thì đại thế trong thiên hạ sẽ ra sao, không ai tưởng tượng được. Lúc đó, hẳn là phải chọn từ đám công khanh của triều đình ra một nhân vật nghiêm túc và có tiếng tăm mới tiếp tục trị nước được. Do vậy, từ bây giờ phải tìm kiếm ngay. Ngài Saionji đúng là nhân vật như thế".
Tháng tiếp theo ngày Omura gửi thư về quê dặn vợ đặt mua chiếu, ngày 4 tháng 9 năm Minh Trị thứ hai (1869), khoảng sau 6 giờ chiều, trong căn phòng cuối lầu trên của lữ quán trong xóm Kiyamachi khu Sanjo ở Kyoto, một bọn thích khách đã đột nhập chém Omura trọng thương.
Tin cấp báo đến Katsura Kogoro lúc ấy đang dưỡng bệnh lao phổi trong vùng núi Hakone. Nhật ký của Katsura ngày 10 tháng 9 ghi rằng:
"Sáng mưa nhỏ, đến chập tối lại mưa lớn. Sáng sớm có sứ giả khẩn cấp là Kawamura Kenzo đến, (.........). Tối ngày 4 vừa qua, một bọn thích khách 7, 8 người đã xông vào phòng trọ của Omura Masujiro trong lữ quán ở lô đất số 3 xóm Kiyamachi, Kyoto, chém chết Shizuma Hikojiro và Adachi người phiên trấn Kashu. Người nhà của Omura Masujiro thì một người bị nhiều vết thương, chết vào hôm sau là ngày 5, còn một người bị thương nặng. Nhờ ơn Trời, Omura Masujiro tuy bị thương nặng mấy chỗ, nhưng tin cho biết không hại đến tính mạng. Tôi đã vô cùng kinh ngạc. Rồi thấy tính mạng Omura không đến nỗi nào, nên cũng an lòng".
Qua ngày 2 tháng sau đó, Omura được đưa vào bệnh viện Osaka ở xóm Suzuki, để y sĩ ngoại khoa Hà Lan là H.F. Bauduin giải phẫu cho. Nhưng do chứng bại huyết, Omura chết ngày 5 tháng 11. 46 tuổi.
Lúc sắp chết, Omura đã cho gọi quan Tham sự bộ Binh là Funakoshi Mamoru đến bên gối mà dặn dò lời cuối rằng:
-"Hãy chế tạo loại bích kích pháo cỡ 4 pound, càng nhiều càng tốt".
Omura đã dự đoán cuộc chiến vùng Tây Nam năm Minh Trị thứ 10 (1877, từ cuối tháng Giêng, mười ba ngàn quân võ sĩ Satsuma nổi dậy chống triều đình truất bỏ đặc quyền của giai cấp võ sĩ; cuộc khởi nghĩa thất bại và Saigo Takamori tử trận cuối tháng 9 cùng năm ), bảo đó sẽ là cuộc nội chiến cuối cùng.
Thật ra, bọn thích khách gồm mười hai người, đều là những kẻ cuồng tín theo chủ nghĩa "Nhương Di quốc túy" (tuyệt đối không chấp nhận bọn man di Tây phương), đã công bố thư "trảm gian" hài tội Omura là đã "cắm đầu mô phỏng Tây Dương, làm ô uế quốc thể, làm nhục triều đình, nuôi dưỡng thói quen man di càng ngày càng sâu đậm".
Có điều bất hạnh cho Omura Masujiro là trong số mười hai tên ấy có đến ba tên là phiên sĩ đồng hương Choshu. Ngoài ra, có năm tên là phiên sĩ Tosa, và bốn tên thuộc các phiên trấn khác. Cả bọn đều bị bắt. Nội các chính phủ mới xử tử hình, án trình lên Thiên hoàng phê chuẩn, qua quan đại diện đưa đến Kyoto để quan Tổng trấn phủ Kyoto là Nagatani chỉ huy việc xử hình ở pháp trường Awataguchi vào ngày 20 tháng 12. Vậy mà đúng lúc sắp xử tử bọn phạm nhân, đột nhiên lại có mệnh lệnh quái kỳ: "Ngưng xử hình!" từ bộ Hình ở Edo truyền đến. Phủ Kyoto chẳng rõ hư thực ra sao nhưng cũng đành cho bọn phạm nhân vào ngục trở lại. Hình bộ Đại thần (Bộ trưởng Tư pháp) lúc bấy giờ lại là Kaieda Nobuyoshi, ngày trước đã là Tham mưu của quân triều đình, xuất thân từ phiên trấn Satsuma. Về sau, rõ ra đó chỉ là lệnh riêng từ Kaieda Nobuyoshi, nên Phủ Kyoto lại đem bọn phạm nhân ấy ra xử hình.
Đương thời, người ta gần như công nhiên mà tin vào thuyết: chính Kaieda Nobuyoshi đã xúi giục bọn hung thủ ấy ám sát Omura Masujiro. Ít nhất thì Katsura Kogoro là người đã phát hiện nhân tài Omura Masujiro, tiến cử làm người chỉ đạo cuộc chiến tranh tiêu diệt Mạc Phủ, đã tin như thế. Katsura Kogoro đã gửi một bức thư đề ngày 26 tháng 7, đúng ngày trước hôm Omura lên đường từ Tokyo (tên mới của Edo) đi Kyoto, thư gửi cho quan Tham sự Kyoto là Masamura Hanjiro, có lời cảnh báo như sau:
"Hôm trước, tôi cũng đã nghĩ đúng như ý ngài rằng những lời tuyên bố mập mờ hai mặt của Kaieda càng làm phát sinh nghi hoặc trong lòng người, giúp cho bọn phiến động sắp sửa nắm lấy cơ hội mà ra tay".
Rồi sau khi vụ ám sát Omura xảy ra, Katsura lại gửi cho đồng hương Choshu là quan Tham nghị Hirosawa Saneomi bức thư như sau:
"Về vụ Omura thì có thuyết lưu hành kín đáo rằng đó rõ ràng là do Kaieda xúi giục".
Vụ này cũng có ghi trong Nhật ký do Okubo Toshimichi để lại, trong số tư liệu của phiên trấn Satsuma. Đại ý là:
"Ngày 25 tháng 12, Kaieda đến, bảo là bộ Hình thì muốn đình chỉ việc hành hình các phạm nhân, nhưng tôi đã thuyết phục đừng làm thế. (.........). Buổi tối, Kaieda lại đến, khẩn thiết bàn luận về vụ ám sát Omura".
Hai hôm sau, Kaieda Nobuyoshi lại đến chỗ Okubo Toshimichi.
"Kaieda bước vào, bàn về chuyện xử trí các phạm nhân trong vụ ám sát Omura, bảo là khó mà đồng ý với cách xử trí của Nội các".
Rồi ngày sau đó, 28 tháng 12, nhật ký ấy lại cũng ghi việc tương tự như thế nữa.
Có đúng là Kaieda Nobuyoshi đã chỉ thị cho bọn thích khách ấy ám sát Omura Masujiro hay không, đến nay vẫn chưa rõ ràng. Chỉ biết rằng, Omura Masujiro đã đột ngột xuất hiện khi lịch sử cần đến, rồi lúc sứ mệnh xong xuôi, đã biến đi thật vội vã. Đến mức thần bí nữa.
Phạm Vũ Thịnh dịch
Nguồn: erct.com
--------------------------------------------
Chú thích:
[1] Katsura Kogoro : (Kido Takayoshi, 1833-1877), phiên sĩ Choshu, kiếm hào, chính trị gia, một trong Duy Tân tam kiệt (hai người kia là Saigo Takamori và Okubo Toshimichi) lãnh đạo phe Cần Vương đánh đổ Mạc Phủ Tokugawa mở đường cho công cuộc Duy Tân thời Minh Trị. Thực chất là Tể tướng/Thủ tướng đầu tiên trong chính quyền Minh Trị.
[2] Edo : trung tâm cai trị của Phủ Chúa Tokugawa, bây giờ là Tokyo. Phủ Chúa đặt ra lệ bắt các Lãnh Chúa (Daimyo) mỗi năm phải đổi chỗ trú ngụ, năm này ở Edo, năm sau ở lãnh địa của mình, do đó các phiên trấn có dinh cơ của phiên trấn ở Edo để các gia thần và thuộc hạ của Lãnh Chúa trú đóng ở Edo trú ngụ và làm việc.
[3] Yoshida Shoin (1830-1859) : một trong những nhà trí thức nổi danh nhất cuối thời Mạc Phủ, đã mở trường dạy binh học và chính trị, đào tạo nhiều chí sĩ sau này đã góp sức hữu hiệu vào việc đánh đổ Mạc Phủ và đổi mới nước Nhật.
[4] Hộc : Koku, đơn vị đo lường, khi dùng để tính bổng lộc của võ sĩ, hay lực kinh tế của phiên trấn thì khoảng 150 kí gạo, khi dùng để tính dung tích thuyền bè thì khoảng 180 lít.
[5] Thời Chiến quốc : 1467-1568, các sứ quân cát cứ các nơi đánh nhau hỗn loạn, cho đến khi Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu tiếp nhau hoàn thành cuộc thống nhất, mở ra thời Phủ Chúa Tokugawa.
[6] Ito Hirobumi (Hirofumi/Hakubun/Shunsuke, Y Đằng Bác Văn, 1841-1909) : đồ đệ của Yoshida Shoin, một trong 5 người du học Anh quốc, 4 lần nhậm chức Thủ tướng Nhật Bản năm 1885, 1892, 1898, 1900.
[7] Nhị thập nhất hồi : họ Yoshida viết chữ Yoshi (cát) chiết tự thành ba chữ Thập nhất khẩu, và chữ Da (điền) chiết tự thành chữ Thập và chữ khẩu; chữ Yoshida chiết tự và tổng cộng lại thành Nhị thập nhất (21) thêm hai chữ khẩu nhập vào nhau thành chữ hồi. Yoshida Shoin thời thơ ấu mang họ là Sugi (sam) chiết tự thành ba chữ: thập, bát và tam, cộng lại thành 21, nên có thêm tên hiệu là Nhị thập nhất.
[8] Takano Nagahide (1804-1850) : nhà tư tưởng Lan học, bạn của y sĩ Hà Lan Siebold (là người có ảnh hưởng lớn đến trào lưu Lan học của Nhật Bản), đã viết sách cổ xướng việc mở cửa giao thiệp với ngoại quốc, vì vậy mà bị tống giam năm 1842. Ba năm sau, nhân hoả hoạn trong tù, ông trốn thoát, cho đến năm 1850, tự sát vì sự lùng bắt ráo riết của cảnh sát.
[9] Chiếu: tấm cói dày lót sàn phòng, cũng là đơn vị diện tích phòng và nhà ở, khoảng 180 cm x 90 cm.
[10] Ako Roshi (lãng sĩ xứ Ako): chuyện 47 lãng sĩ trung thần báo thù cho chủ là Asano Naganori tước Takumi-no-kami, Lãnh Chúa của phiên trấn Ako, khoảng năm 1701, thời Chúa Tokugawa Tsunayoshi; đề tài của loại tuồng hát Chushingura.
[11] Saigo Takamori : (Kichinosuke, 1827-1877), phiên sĩ Satsuma, chính trị gia, một trong Duy Tân tam kiệt lãnh đạo phe Cần Vương đánh đổ Mạc Phủ Tokugawa mở đường cho công cuộc Duy Tân. Về sau, lãnh đạo cuộc nổi loạn của giới võ sĩ ở quê nhà Kagoshima chống chính quyền Minh Trị muốn phế bỏ mọi đặc quyền của giai cấp võ sĩ, thất trận, tự sát năm 1877. Được xem là The Last Samurai, người võ sĩ cuối cùng của Nhật Bản.
[12] Okubo Toshimichi (1830-1878), phiên sĩ Satsuma, chính trị gia, một trong Duy Tân tam kiệt lãnh đạo phe Cần Vương đánh đổ Mạc Phủ Tokugawa mở đường cho công cuộc Duy Tân. Bộ trưởng Tài chính trong chính quyền Minh Trị. Bị ám sát năm 1878. Được xem là một trong những người xây dựng nên nước Nhật Bản hiện đại.








Trả Lời Với Trích Dẫn
Bookmarks