6
Đêm hôm ấy, tôi bị bọn chiếm đóng cưỡng ép đóng đinh phong kín cái nắp đậy phía khu nhà xí và khơi một cái lỗ trên trần chỗ chứa đồ trong căn phòng làm cửa ra vào cho mình. Kết quả là muốn đi từ cửa ra vào nằm dưới mái nhà cũng phải thông qua căn phòng mới ra ngoài được. Tôi hoàn toàn trở thành con vật bị chúng canh chừng chặt chẽ.
Những ngày sống trong tủi nhục cứ thế mà kế tiếp. Tôi là tên nô lệ của bọn chiếm đóng. Ngày nào đi làm, tôi cũng bị cậu em và cô em gái, hai nhãi ranh được cử theo, kèm sát.Dọc đường, hai đứa thay phiên nhau lúc đi chỗ này lúc đi chỗ nọ, phỗng của người ta hết kẹo cao su đến kẹo ca-ra-men, nhiều khi cả đồng hồ lẫn xâu chuỗi đeo cổ, tệ hại hơn nữa, chúng còn đánh cắp cả mấy thứ như tuốc-nơ-vít hoặc thuốc ngừa thai là những thức mà chúng còn chưa biết dùng để làm gì. Tối về nhà, có lắm lúc bọn chiếm đóng thảy cho tôi mấy thức ăn bỏ mứa nhưng vì đói quá, tôi vẫn phải sục vào.
Gặp S ở sở, cô không thèm cả cúi đầu chào tôi. Có muốn gợi chuyện, cô cũng khéo léo tránh né và như muốn bảo thầm với tôi: “Anh làm sao có thế sống kiểu đó mãi!”. Được hai tuần, bỗng cô thôi việc. Thế nhưng tôi nghĩ đúng là mình vẫn còn yêu S.
Thường thường khi trở về căn phòng, vẫn luôn luôn có một người được phân công canh chừng tôi. Ít nhất cũng có bà vợ tính khí bất thường ít khi ra khỏi nhà. Trong một khoảng thời gian đầu xem ra bà cũng có ý tống tình với tôi một cách lạ lùng (chính ra thì bà không phân biệt ai tất, bà ta còn làm điệu làm bộ ngay cả với những vật gì mắt nhìn không thấy được nữa kìa). Khi thấy tôi không thèm đếm xỉa gì tới, bà đột ngột đổi hẳn thái độ và bắt đầu tỏ ra căm ghét. Cô con gái họ thì vẫn tiếp tục cho thấy cô cảm mến tôi nhưng vì không bao giờ có dịp gặp riêng nên tình cảm đó không thấy tiến xa thêm chút nào. Giả sử có tiến thêm đi nữa, thì qua lần gặp gỡ bí mật giữa hai người, tôi đã biết lòng cảm mến của cô ta cũng có đặt một số điều kiện khó vượt qua.
Vì cớ gì tôi lại không bỏ trốn? Không phải sự đi trốn được xem như một trạng thái trong tâm hồn theo kiểu Kikuko đề nghị nhưng là một cuộc tẩu thoát như một hành động thực sự. Thực ra tôi chưa hề vứt bỏ ý chí đấu tranh và tôi vẫn còn nuôi một niềm hy vọng nào đó. Tôi vẫn ngấm ngầm chờ đợi một cơ hội.
Hôm đó, dịp may đã đến với tôi. Trên con đường từ sở về, tôi thấy có một rạp xiếc được dựng lên ở góc đường. Tôi vẫn biết hai nhãi ranh được gửi theo canh chừng tôi ngứa ngáy muốn vào xem lắm rồi. Tôi bèn khôn khéo xúi giục chúng, bảo cứ vào xem, tôi sẽ đợi bên ngoài. Thế là đẩy được hai đứa bé vào bên trong. Một xuất kéo dài tiếng rưỡi, trong khoảng giờ trống đó, tôi vội chạy đến cái văn phòng luật sư mình đã ngắm sẵn. Đó là một gia đình đông đúc đến sợ luôn. Không biết bao nhiêu là người lớn trẻ con, chạy ra chạy vào như đèn cù, lúc biến lúc hiện. Cuối cùng mới thấy một người đàn ông thấp bé, ốm yếu và mệt mỏi nhất bước ra. Đó là ông chủ nhà. Khi tôi mách ông ta rằng có mạng nhện vướng trên đầu thì ông ta tỏ vẻ hết sức bối rối và đưa tay lên gãi một cách máy móc. Cảnh đó khiến cho một người như tôi mà còn phải thấy có cái gì không tin tưởng được.
Khi tôi bắt đầu trình bày lý do đến gặp ông và luật sư có vẻ thoáng hiểu được nội dung thì ông bất thần đưa ngón tay lên môi ra hiệu:
- Suỵt, nói khẽ thôi!
Trong khi tôi tiếp tục phát biểu thì thấy ông cứ dáo dác nhìn chung quanh như có gì lo lắng. Đến khi tôi nói xong thì mặt ông đã xanh như chàm đổ.
- Chỉ có thế thôi à?
Ông nói mà giọng khàn khàn. Sau đó, đứng dậy nắm lấy cánh tay tôi như muốn đẩy ra ngoài:
- Nếu chuyện như thế thì quả đáng thương thật nhưng tôi rất tiếc không giúp gì ông được. Chúng tôi không đủ sức bảo vệ ông. Hiện thời....
Ông bỗng hạ thấp giọng:
- ...ngay trong nhà tôi bây giờ bọn chiếm đóng cũng đã đột nhập. Ông thấy tận mắt đó! Gia đình chúng có đến 13 người. Ông độc thân nên chưa đến nổi, chứ tôi vợ con đùm đề, bi thảm lắm ông ơi. Bà xã tôi đã dắt lũ con bỏ nhà ra đi, không, chính ra phải nói họ bị bọn chiếm đóng tống khứ thì mới chính xác. Ngoài việc mấy người giúp việc cho tôi bị đuổi cổ, chúng thanh toán gọn văn phòng tôi chừa một người từ thư ký đến thừa phái. Chỉ trong vòng một tháng, tôi sụt đến ba chục kí-lô. Chỉ thêm một tháng nữa thì chắc là tôi không còn kí nào nữa.
Lúc chào từ giã, tôi nắm chặt tay ông và nói:
- Mình làm bạn với nhau đi!
Nhưng ông chỉ buồn bã lắc đầu:
- Không, không. Ông đừng tìm đến tôi làm gì nữa.
7
Đây là cố gắng cuối cùng của tôi.
Mỗi lần quay về nhà, tôi đều bị lục soát thân thể một cách tỉ mỉ, thật vô cùng khốn khổ. Tuy vậy cố tìm những kẻ hở của họ, tôi cũng tạo cơ hội lượm lặt đó đây vào mẫu giấy vụn và kiếm được thời giờ để chép ra ba mươi tấm truyền đơn bươm bướm với nội dung như sau:
“Hỡi các bạn trong chung cư,
Cùng những công dân hãy còn lương tâm và lý trí trong thành phố.
Đây là một tiếng kêu uất ức của một người bạn của quí vị hiên đang gánh chịu sự xâm nhập gia tư của một bọn kỳ quái.
Một gia đình tôi vốn không quen biết đã đột nhập vào căn hộ của tôi và chiếm đoạt nó, cai quản toàn bộ sinh hoạt của tôi. Tôi không còn một chút tự do nào và sắp chết đói đến nơi. Thế nhưng tôi vẫn phải lao động để nuôi chúng. Những điều phi lý như thế này đều đã được bọn chúng cho thực hiện dưới mỹ từ là những quyết định do đa số, dựa trên số người của gia đình chúng để hợp pháp hóa. Hỡi các bạn, nếu chúng ta làm ngơ trước những hành động phi lý này, xã hội sẽ bị băng hoại chứ không có một đường nào khác. Đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi mà thôi. Nó cũng là số phận mà nay mai các bạn cũng sẽ gặp phải. Chúng ta phải đoàn kết lại để chống lại cái đa số không thỏa đáng đó. Đặc biệt mong những bạn trong chung cư từng đứng lên chống đối vụ tăng tiền nhà, xin hãy vì sự tự do đích thực, đoàn kết lại thêm một lần nữa. Sự đoàn kết của các bạn sẽ bảo vệ được bản thân tôi. Đồng thời nó sẽ bảo vệ chính các bạn.
Đả đảo bọn đa số ngu ngốc và vô nghĩa!
Hoan hô những người đa số chân chính!”
Vấn đề là ai “đem chuông đi buộc cổ mèo” đây! Tôi chưa tìm ra cơ hội để đem mấy tấm truyền đơn đó đi dán. Tuy nhiên, tôi nghĩ ngày lãnh lương kế tiếp lại sắp đến nơi, nếu không quyết định cấp tốc, mình sẽ phải nếm thêm một lần nữa sự thống khổ, viễn ảnh của một tháng rỗng túi. Một hôm, tức quá đâm liều, mượn cớ đi nhà xí, tôi đem mấy tấm truyền đơn vào dán bê bết lên mấy bức tường trong đó.
Chưa dán xong ba tấm, đã nghe giọng mũi của ai “Hừm” mình đằng sau. Quay người lại đã thấy ông bố và cậu trưởng nam.
- Thằng này giỏi!
Cha con chúng đưa mắt nhìn nhau, môi chỉ thoáng nụ cười nhạt, không thèm tháo gỡ mấy tấm truyền đơn đã dán xong mà còn làm như muốn để cho tôi cứ việc tiếp tục dán. Tôi không biết xử trí như thế nào, dán xong độ mươi tấm thì chợt ngừng tay lại.
- Tưởng biết thân biết phận, té ra lại có âm mưu. Bản chất phát xít của tên này đáng sợ thật!
Anh con trai nói với cha như thế và ông bố cũng gật gù biểu đồng tình. Ông ta nắm lấy tay tôi lôi đi:
- Này, mời anh này tới đây!
- Con gỡ hết xuống nghe ba?
- Không, cứ để nguyên đó mà đi kiện chứ! Như thế nó mới biết tay bọn mình!
Tôi bị họ lôi kéo mạnh bạo trên cả mức cần thiết về đến tận nhà. Ông bố hằn học chìa mấy tấm truyền đơn bươm bướm còn sót lại cho cả bọn xem, thuật lại mọi chuyện với giọng bực bội. Anh con thứ hai lúc đó đang sửa soạn đi đâu cũng dừng tay chăm chút sắc đẹp, ưỡn ngực lên gân trừng mắt dọa tôi nhưng rồi không hiểu nghĩ gì lại thay đổi điệu bộ, miệng cười có vẻ đắc chí. Kikuko làm như đau xót, nhìn thẳng vào tôi với dáng buồn bã và trong ánh mắt của cô, tôi thấy có gì như trách móc. Còn tất cả những người khác thì dĩ nhiên chẳng có một chút quan tâm.
Ông bố lúc ấy mới từ tốn bảo tôi:
- Anh K này! Đương nhiên là anh phải chịu mọi trách nhiệm về mấy tấm truyền đơn. Điều thứ nhất: Trong khu chung cư này có qui định là ai muốn dán gì lên tường đều phải đóng món tiền một trăm yên cho mỗi tấm. Đó là chi phí sử dụng tường và bồi thường thiệt hại vì đã làm bẩn tường. Anh đã dán mười tấm, vị chi phí tổn là một nghìn yên. Dĩ nhiên bọn tôi không có trách nhiệm gì trong vụ này cả. Ngoài ra, khi dán truyền đơn, anh đã được sự đồng ý của người quản lý chung cư chưa? Chắc chắn là chưa chứ gì? Phạm luật như thế, anh phải nộp phạt năm trăm yên nữa. Không nói anh cũng rõ là chúng tôi ủng hộ lập trường của người quản lý. Cũng vì lý do đó, người quản lý ngược lại đã hoàn toàn ủng hộ lập trường của chúng tôi. Nhân vì số người cư trú trong chung cư chưa thanh toán tiền nhà có đến hơn phân nửa, anh đừng hòng bọn họ dám theo anh để chống lại cánh quản lý! Lũ còn lại toàn là dân có vợ, hai thằng con nhà tôi đã lập được những mối liên hệ tốt với các bà trên mức độ tình bạn cả rồi. Thế thì anh còn ...
- Đồ dê, đồ mắc dịch!
Đột nhiên bà vợ vừa khóc tấm tức, vừa nói liên tu như để cắt lời ông bố. Bà cụ đưa tay vuốt lưng bà ta, ra chiều an ủi. Bên cạnh mẹ, Kikuko mặt tái mét, cúi gầm mặt. Còn tôi, chỉ biết lẳng lặng bước ra ngoài, đi tìm mấy tấm truyền đơn mình đã cất công dán lên để gỡ hết xuống.
Lời Kết:
Rồi mỗi đêm, gặp hôm trời nổi gió, từ kẻ hở trên nóc nhà của anh K trong khu chung cư, lúc nào cũng có những tấm truyền đơn bươm bướm bay ra. Vài mươi bức, vài trăm bức, rồi con số lên đến vài nghìn bức. Chúng nương theo làn gió, bay tán loạn khắp thành phố. Không ai biết những tấm truyền đơn ấy từ đâu bay đến. Thế nhưng hàng chục, hàng trăm rồi hàng nghìn nạn nhân đã đọc những tấm truyền đơn ấy.
Bọn người chiếm đóng một hôm đã làm việc lạ lùng: đâm đơn kiện những tấm truyền đơn ấy. Cái cớ của họ là những tấm truyền đơn ấy đều nhiễm vi trùng. Cục vệ sinh trong thành phố sau khi tiến hành kiểm tra, đã xác nhận quả là trong những tấm truyền đơn ấy có một loại vi trùng nguy hiểm thật. Cho dù ông luật sư có lương tâm của chúng ta đã lên tiếng rằng bất cứ đồ vật nào không được trang bị khử trùng cũng đều có khả năng bị nhiễm thứ vi trùng này thôi nhưng người ta đã làm ngơ trước lập luận của ông. Thế rồi đạo luật cấm lưu hành loại truyền đơn ấy đã được phê chuẩn. Nhưng dù sao, trước khi đạo luật được chính thức bố cáo thì từ cái mái căn hộ trong khu chung cư, không ai còn thấy những tấm truyền đơn đó bay ra nữa. Kiệt quệ vì bị hiếp đáp và đói khát, rốt cuộc anh K đã “yên nghỉ” . Cổ treo lên cái rường quá thấp, chân anh phải gập lên ngang tầm đầu gối.
ABE KOBO
Nguyên tác đăng trên tạp chí Shinchô, số tháng 11 năm Shôwa 26 (1951)
Dịch xong tại Tôkyô ngày 5 tháng 3 năm 2008.
Nguyễn Nam Trân
[1] Frederic Wilhelm Nietsche (1844-1900) đả phá quan điểm Thiên chúa giáo, tìm về đạo đức chủ ý chí của kẻ mạnh (siêu nhân) và cho rằng thần thánh đã cáo chung. Tác phẩm có Bên kia bờ thiện ác, Khai sinh của bi kịch, Zarathustra (một cái tên khác của nhà tiên tri Ba Tư Zoroaster) đã nói thế. Niestsche còn ảnh hưởng tới chủ nghĩa hiện sinh và hậu cấu trúc.
[2] Triết gia Nga lưu vong ở Pháp. Lev Shestov (1866-1938) cho rằng chân lý là cái vượt lên trên lý trí và muốn đi tìm cái nguồn cội phi hợp lý của sự tồn tại. Được biết đến sau thế chiến thứ nhất như một triết thuyết nói về sự lo âu của con người. Có viết các tác phẩm như Dostoievski và Niestsche, triết học của bi kịch, Chân lý là gì?
[3] Haniya Yutaka (Thực Cốc, Hùng Cao, 1909-1997), nhà văn và tư tưởng Nhật gốc Đài Loan, nghiên cứu chủ đề bản chất con người.








Trả Lời Với Trích Dẫn
Bookmarks