CHƯƠNG VI
Nàng Ghiô


Khi vị Tể tướng – Hòa thượng Kiyômôri đã nắm trong tay cả trời và đất, ông càng ngày càng trở nên cực đoan và lập dị. Tệ hơn nữa, ông bỏ ngoài tai mọi lời can gián, phê phán hoặc cười chê của mọi người.

Vào thời đó, có hai chị em tên là Ghiô và Ghinyô, con gái một bạch y vũ nữ tên là Tôgi – tài nghệ múa của họ nổi tiếng khắp kinh thành. Cô chị Ghiô, là người mà quan Tể tướng – Hòa thượng đem lòng yêu mến. Vì thế, cô em Ghinyô được hết thảy mọi người mến chuộng. Ngài Tể tướng còn xây cho bà Tôgi, mẹ của hai cô, một căn nhà vững chãi và cấp cho bà mỗi tháng một trăm hộc (1) gạo và một trăm quan (2) đồng. Thế là cả nhà Tôgi ngày càng giàu có và chỉ biết có những ngày hạnh phúc mà thôi.
Trên đất nước của chúng ta, cần phải nhớ rằng nguồn gốc của Bạch y vũ có từ thời Hoàng đế Tôba. Vào thời đó, hai vũ nữ Xênzai của họ Sima và Mai của họ Waka đã sáng tác ra điệu nhảy này để minh họa cho lời bài ca imayô. Ban đầu thì người ta gọi nó là “nam vũ”, bởi vì mỗi cô vũ nữ đều mặc một bộ quần áo lụa trắng, may theo kiểu quần áo quý tộc của giới mày râu, trên đầu đội một chiếc mũ cao sơn mài và cạnh sườn đeo một thanh đoản kiếm vỏ gỗ mạ bạc. Khi điệu vũ kết thúc thì chỉ còn có bộ áo lụa, chứ mũ và kiếm thì bị vỡ và gãy tơi tả. Bởi vậy điệu múa này được gọi là “Bạch y vũ”.

Khi các vũ nữ ở kinh đô nghe tin nàng Ghiô được sự sủng ái của quan tể tướng, thì một số người, mặc dù có đôi chút ganh tỵ, vẫn tỏ ra khâm phục nàng, còn một số khác thì ghen ghét khinh miệt nàng ra mặt. Những người ngưỡng mộ nàng nói rằng: “Ôi! Nàng Ghiô thực sung sướng biết bao! Ôi! Giá mình cũng được may mắn như vậy. Chắc là nàng gặp may vì nàng đã ghép thêm chữ Hán ghi (3) vào tên mình. Thế thì mình phải đặt tên mình như vậy”. Thế là họ đều ghép thêm chữ Ghi để tự đặt tên cho mình, nào là Ghi-ichi, hay Ghi-ni (4), nào là Ghi-fukư hoặc Ghi-tôkư (5).

Trong khi đó, những người khinh bỉ nàng lại nói: “Mình không thể chấp nhận được cái kiểu ghép các chữ Tàu ấy vào tên mình. Hạnh phúc chẳng qua là do kiếp trước ăn ở có đức mà thôi”. Số này dứt khoát không chịu gắn chữ Ghi vào tên của mình.

Cứ thế, ba năm trôi qua. Bỗng nhiên kinh đô xuất hiện một vũ nữ khác, múa hát rất tài. Nàng mới từ tỉnh Kaga đến, tên là Hôtôkê, hay còn gọi là bà Phật. Đồn rằng xuân xanh nàng mới độ trăng tròn. Khắp kinh đô, từ giới thượng lưu tới đám hạ dân, khi nhìn thấy nàng múa hát đều không khỏi trầm trồ khen ngợi: “Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, chưa bao giờ ta được xem một người múa giỏi đến thế”.

Lời đồn quả không ngoa. Rồi một ngày kia, chính bà Phật cũng tự nhủ: “Cả nước này ngưỡng mộ tài năng của ta, thế mà đáng tiếc quan Tể tướng, một người lừng lẫy như thế ở trên đời này, mà không đoái hoài gì tới ta cả. Mình chỉ là một con hát, mình cứ đến thẳng nhà ông ta mà thăm thì có gì mà xấu hổ”.

Miệng nói, chân bước, nàng liền đến thẳng lâu đài của Kiyômôri ở Tây Hachigiô. Một tên lính hầu hỏi tên nàng rồi vào bẩm với quan Tể tướng rằng: “Bẩm quan lớn, có một cô vũ nữ nổi tiếng kinh đô tên là Bà Phật tới đây xin được gặp Ngài.”

Nghe thấy thế, quan Tể tướng nổi cơn lôi đình mà rằng: “Thật rõ vớ vẩn! Cái đồ gái nhảy rơm rác ấy không biết thân biết phận, không có lệnh ta sao dám vác mặt đến đây. Con này to gan thực! Tao không thèm biết đến nó, dù nó có cái tên là Phật, hay là Thánh nào cũng vậy, nó không được phép gặp ta, một khi mà nàng Ghiô của ta còn ở đây. Tống cổ nó đi ngay”.

Bị xua đuổi tàn nhẫn, Bà Phật sắp sửa ra về, thì nàng Ghiô cố gắng làm nguôi cơn giận của ngài Tể tướng, sẽ sàng thủ thỉ: “Một người kỹ nữ đến thăm ngài khi chưa có lệnh ngài thì cũng chẳng có gì lạ lắm. Hơn nữa, cô ta còn quá trẻ nên mới nông nổi mà đến đây như thế. Xua đuổi cô ấy như thế kể ra cũng khí tàn nhẫn. Làm thế cô ấy sẽ hổ thẹn và thực là mất danh giá biết chừng nào! Cô ấy cũng cùng nghề như thiếp, và chính cái nghề ấy đã đưa thiếp lọt vào mắt tướng công. Cho nên thiếp không được phép coi khinh nàng. Thậm chí dù tướng công không muốn xem nàng múa hát, thì tướng công chỉ cần tỏ lòng ưu ái một chút với nàng và xem nàng biểu diễn một chút là cũng để nàng hàm ơn tướng công suốt đời rồi. Thiếp xin tướng công hãy bớt giận mà vui vẻ gọi nàng lại”.

Quan Tể tướng thở dài mà rằng: “Thôi được, vì nàng tha thiết khẩn nài, ta cho phép cô ta được ra mắt ta một lúc, rồi phải đi ngay”.

Thế là một tên lính hầu được lệnh gọi Bà Phật lại. Lúc Bà Phật vừa mới trèo lên xe, tai vẫn còn ù vì những lời xua đuổi tàn nhẫn của Kiyômôri thì được lệnh trở lại gặp ông. Quan Tể tướng bước ra đón nàng và nói: “Theo lệ, việc ngươi đến thăm ta hôm nay là không được phép, có được là vì ta nể lời khẩn nài của nàng Ghiô – mà có trời mới biết trong đầu nàng nghĩ gì. Bây giờ ngươi đã ở đây, ta cũng có thể thử nghe giọng ngươi. Trước hết hãy hát ta nghe một bài imâyô”.

“Thưa quan lớn, xin vâng”. Bà Phật đáp rồi hát:

“Buổi gặp gỡ lần đầu khiến em xiết bao vui sướng
Như cây thông non sẽ thọ ngàn năm
Em lặn ngụp trong chàng như sếu kia múa vui, ca hát
Trên tiên đảo linh quy, trên thánh địa của hiền nhân."

Bà Phật hát bài này ba lần, giọng hay đến nỗi những người nghe đều ngơ ngẩn như bị bùa mê. Quan Tể tướng cũng thán phục và nói: “Nàng hát hay như thế chắc là múa cũng giỏi. Hãy múa cho ta xem. Hãy gọi người đánh trống”.

Bà Phật là một cô gái đẹp lạ thường, đẹp từ khuôn trăng đầy đặn, suối tóc dày óng ả, đẹp cả giọng nói, điệu cười. Nàng đã cất giọng hát, tiếng nàng ngân vang như không bao giờ dứt. Người xem đã bị điệu múa của nàng chinh phục. Và mọi người lại càng bị chinh phục khi quan Tể tướng cất tiếng khen ngợi nàng và tỏ ra yêu thích nàng hơn Ghiô.

“Bẩm tướng công, thế này là thế nào ạ?” Bà Phật thắc mắc: “Em chẳng qua chỉ là kẻ qua đường, có ưu ái lắm cũng chỉ là một người khách không mời mà tới. Lúc đầu ngài cho đuổi em đi, sau nhờ có phu nhân Ghiô xin hộ mà quan lớn cho gọi em lại. Nếu em mà ở lại đây thì phu nhân Ghiô làm sao chịu đựng được cảnh này. Em cũng không thể chịu được cảnh ấy. Em kính xin quan lớn lượng cả mà cho em đi”.

Bà Phật tha thiết van nài nhưng quan Tể tướng vẫn khăng khăng một mực: “Lệnh của ta là nàng không bao giờ được rời khỏi nơi đây. Nếu vì Ghiô mà ngươi không muốn ở đây thì Ghiô sẽ phải đi”.

Bà Phật kêu thốt lên: “Trời ơi, bẩm quan lớn, sao Người lại làm như vậy. Thậm chí cả hai chúng em cùng ở đây theo lệnh ngài thì Phu nhân Ghiô cũng đã tan nát lòng rồi, huống hồ ngài lại đuổi phu nhân đi để cho em thay chỗ thì phu nhân làm sao còn chịu nổi. Nếu sau này quan lớn có lòng đoái thương tới em thì quan lớn cứ gọi cho em, em sẽ vâng lời, còn hôm nay xin quan lớn đèn giời soi xét cho em được xin đi.”

“Nàng sẽ không bao giờ được đi đâu cả. Đuổi Ghiô đi!”

Quan Tể tướng nói vậy, rồi ba lần sai người đến phòng Ghiô đuổi nàng ra khỏi lâu đài.
Nàng Ghiô lâu nay cũng đã lường trước sẽ có ngày có chuyện, nhưng nàng không ngờ số phận mình lại biến đổi đột ngột như sớm nắng, chiều mưa như thế. Cho nên khi nghe được cái lệnh phũ phàng nằng nặc ấy của Kiyômôri, nàng quyết định cứ tuân theo, sau khi dọn dẹp phòng mình cho thật tinh tươm gọn gàng.

Hai người giữa đường giữa chợ vô tình gặp nhau đôi khi còn có tình cảm gắn bó. Hai kẻ không quen biết cùng trú cơn mưa rào dưới một tán cây, hoặc cùng uống chung một dòng suối nhỏ, khi chia tay nhau còn có một chút tình. Đằng này nàng Ghiô dù sao thì cũng đã từng chung sống với Kiyômôri ba năm tròn thì tình cảm còn sâu đậm hơn biết bao nhiêu. Lệ nàng cứ tuôn trào.

Khi không còn được sủng ái nữa thì quyến luyến cũng chẳng ích gì, nàng dành những phút giây cuối cùng để lại một kỷ niệm. Vừa khóc, nàng vừa đề một bài thơ vào tờ giấy trên khung cửa lùa:

Cỏ kia trên đồng nội
Mọc lên rồi tàn lụi
Cỏ nào cũng vậy thôi
Muôn loài đều phải đợi
Mùa thu, trả kiếp đời.

Viết xong, nàng trèo lên chiếc xe của mình và được đưa trở về nhà mẹ. Đến nhà, nàng ngã sóng xoài ra trước cửa, chỉ còn biết khóc nức nở. Thấy thế, cả mẹ và em gái cùng kêu lên: “Sao? Có chuyện gì thế?”

Nhưng nàng Ghiô chẳng buồn đáp lại. Mẹ và em đành phải hỏi các cô hầu gái mới biết chuyện gì đã xảy ra.

Từ đó, chẳng còn cái khoản trợ cấp hằng tháng 100 hộc gạo và 100 quan đồng của Kiyômôri gửi cho mẹ nàng Ghiô. Thay vào đó, những ai bà con với Bà Phật lại bắt đầu trở nên giàu có. Giới mày râu khắp kinh thành thượng lưu cũng như hạ tiện lại cười thầm rằng: “Nàng Ghiô bị quan Tể tướng gạt bỏ, thì cánh ta lại đến thăm nàng xin nàng ban phát tình yêu”. Thế là bọn họ liên tiếp gửi thư từ và cho người đến bắn tin cho nàng. Nhưng nàng Ghiô chẳng còn muốn nhìn một ai, chẳng thiết vui thú với ai và cũng chẳng trả lời một ai. Nghĩ mà càng đau, càng buồn, nàng càng xót xa cho thân phận mình.

Cái năm ấy trôi qua. Vào một ngày đầu xuân năm sau, một người hầu của Kiyômôri mang đến cho nàng Ghiô một mẩu thư cộc lốc như sau: “Từ đó đến nay ngươi ra sao? Bà Phật chẳng biết làm gì để giết thời giờ nhàn rỗi, ngươi hãy đến lâu đài của ta hát múa giải sầu cho nàng.”

Nàng Ghiô chẳng đáp lại cái lệnh này. Thế là nàng lại tiếp ngay được lệnh triệu lần thứ hai: “Tại sao ngươi không trả lời ta? Như thế có nghĩa là người không định đến lâu đài của ta có phải không? Nếu quả đúng như thế, ngươi phải trình rõ cho ta hay vì sao ngươi không đến. Nếu không, ta sẽ có cách trị ngươi”.

Khi nghe được chuyện này, mẹ nàng Ghiô vô cùng khiếp sợ, không biết cách nào cho thoát. Nước mắt lưng tròng, bà van lạy con: “Con ơi, con phải trả lời quan Tể tướng chứ. Mẹ xin con, con viết cái gì cũng được. Thà con từ chối còn hơn là con không viết gì cả, lại bị Người trừng phạt”.

“Nếu con có phải đi đến nơi ấy, con có thể nói thật lòng mình. Nhưng vì con không muốn đi nên con chẳng biết trả lời thế nào với ông ta. Nếu con không vâng lệnh ông ấy lần này, chắc chắn con sẽ bị trừng phạt vì ông ấy đã nói là có cách trị con. Điều đó có nghĩa là con sẽ bị đuổi khỏi kinh đô tới một nơi xa xôi hẻo lánh, hoặc con sẽ bị chết. Nhưng con chẳng thiết sống nữa. Bị đuổi đi, con cũng chẳng sợ. Con chỉ còn sợ mỗi một điều là phải giáp mặt với ông ta, cái con người đã ruồng bỏ con”.

Nàng Ghiô trả lời mẹ như thế và vẫn cố tình trì hoãn việc trả lời Kiyômôri. Nhưng mẹ nàng, bà Tôgi lại khuyên nàng: “Chừng nào mà mẹ con ta còn sống dưới gầm trời này dưới quyền của Tể tướng, thì sẽ chẳng ai dám chống lệnh ngài, dù là lệnh gì chăng nữa. Chuyện của con chẳng phải là tấn thảm kịch đầu tiên của đàn ông và đàn bà, giữa “chồng và vợ” khi dứt tình với nhau. Có những cặp thề thốt chung thủy với nhau đến hàng ngàn vạn năm, ấy thế mà trong nháy mắt đã bỏ nhau. Lại có những người, tuy chỉ giữa đường gặp nhau mà lại sống với nhau hạnh phúc đến lúc đầu bạc răng long. Con đã được quan Tể tướng yêu thương chiều chuộng suốt ba năm trời, như thế cũng là điều hiếm hoi và đặc biệt trong cuộc đời hoa nguyệt của Ngài. Mẹ chẳng nghĩ, chúng ta sẽ chết nếu bất tuân lệnh ngài. Nhưng chắc chắn là sẽ bị đuổi khỏi kinh đô. Mà nếu quả như thế thì có thể con cũng chẳng ngại gì khi sống với đất đá và cây rừng, vì con còn trẻ. Nhưng còn mẹ, nay đã già rồi, cứ nghĩ đến cái nỗi khổ cực nơi rừng thiêng nước độc là mẹ cũng đủ tan nát cõi lòng vì tuyệt vọng. Con ơi, con hãy cho mẹ sống nốt quãng đời tàn ở chốn kinh thành này. Mẹ nghĩ, đây là chữ hiếu mà con phải nghĩ đến mà báo đáp cho mẹ, dù con có còn sống hay con có từ bỏ cõi trần này cũng vậy”.

Mặc dù thật là khó xử khi nàng Ghiô phải bước chân đến lâu đài của Kiyômôri trong tình cảnh éo le như vậy, nhưng nàng chẳng thể chối từ lời cầu xin của mẹ. Thế là bước chân ra đi, lệ cứ tuôn trào. Nỗi ô nhục này thật quá sức chịu đựng. Đi một mình thì thật là bẽ bàng, cho nên em gái Ghinyô và hai cô bạn vũ nữ khác đã phải đi cùng. Bốn cô gái trèo lên xe và thẳng hướng tới Tây Hachigiô.

Ở lâu đài của quan Tể tướng, người ta đã sắp sẵn một chỗ ngồi cho nàng Ghiô thấp và cách xa căn phòng chính mà xưa kia nàng vẫn thường ngồi. Nàng Ghiô thở dài và than rằng: “Đối xử như vậy sao? Bị quan Tể tướng đuổi đi không thương xót, nay lại cho ngồi một chỗ thấp hèn như thế này thì tôi làm sao chịu nổi”.

Lòng tràn đầy cay đắng, nàng Ghiô lấy ống tay áo kimônô che mặt để người xem khỏi nhìn thấy đôi mắt đẫm lệ của mình. Nhưng vẫn có thể nhìn thấy nước mắt nàng tuôn rơi qua kẽ hở của hai ống tay. Bà Phật nhìn thấy thế lòng những cảm thông với nàng Ghiô, liền thưa với quan Tể tướng: “Sao Tướng công lại để nàng ngồi như thế? Chỗ thiếp đang ngồi trước đây là của nàng Ghiô. Em chắc Tướng công phải cho phép nàng ngồi chỗ này. Nếu không được thế, Tướng công cho em được đổi chỗ vì em muốn đến thăm nàng”.

“Đây chẳng phải lỗi của em”. Tể tướng – Hòa thượng trả lời và lệnh của ông nghiêm tới nỗi Bà Phật không dám đả động tới nữa.

Chẳng hề bận tâm, quan Tể tướng – Hòa thượng liền hét vào mặt nàng Ghiô: “Nào, cô lâu nay ra sao? Phu nhân Bà Phật chẳng biết làm gì để giải sầu, cô hãy hát cho phu nhân nghe một bài imayô”.

Bởi vì đã quyết định đến đây, nên Ghiô chẳng nề hà làm bất cứ chuyện gì mà Tể tướng ra lệnh. Cố nén những giọt nước mắt khỏi trào ra, nàng hát:

Đức phật trước kia cũng đã làm người
Nên mỗi chúng ta đều có phần của Phật.
Nay con tạo xoay vần tuy kẻ sang người mọn
Đều cháu con Người, buồn bã có làm chi

Nàng Ghiô hát lại hai lần. Các ông hoàng, lãnh chúa, thị thần và các võ sỹ của dòng họ Hâykê tất thảy đều xúc động vì lời hát và động lòng trắc ẩn mà khóc. Quan Tể tướng cũng bị xúc động mà nói rằng: “Cô hát hay lắm, đáp được lòng mong đợi của ta hôm nay. Ta cũng muốn xem cô múa, nhưng không thể được vì hôm nay ta có quá nhiều việc phải làm. Từ nay, cô có thể đến đây lúc nào cũng được, dù ta có lệnh hay không, để múa hát mua vui cho Bà Phật”.

Nàng Ghiô không đáp lời nào vì nàng đang nghẹn ngào nước mắt. Thế rồi nàng bỏ đi.
“Ta đã vâng lời mẹ ta mà tới đó, nhưng trời ơi! Chọc lại vết thương lòng sao mà cay đắng thế! Chừng nào ta còn sống trên cõi đời này ta còn phải nghe những lời khinh miệt tàn nhẫn của y. Chỉ còn cách đâm đầu xuống sông mà chết”.

Nàng Ghiô khóc than số phận éo le của mình và cô em gái Ghinyô cũng chia sẻ với nàng: “Nếu chị tự vẫn thì em cũng theo chị”.

Những câu nói này làm đau lòng bà mẹ vô cùng, vì bà chẳng biết cách nào thoát khỏi tình cảnh này. Bà vừa khóc vừa khuyên nhủ nàng Ghiô: “Con ơi, chính mẹ mới đáng trách vì đã bắt con phải tới chốn ấy mà không lường hết được sự tình. Nhưng con chỉ khóc than thì còn được, chứ nếu con mà tự vẫn thì em con nó lại theo con. Mẹ mà mất cả hai con thì đời mẹ còn có gì khi mà mẹ chẳng còn sống được bao lâu nữa. Mẹ cũng sẽ phải tự vẫn. Thế là chính con sẽ phạm tội giết mẹ và sẽ bị người đời lên án là đã phạm một trong Năm trọng tội (6) của đạo Phật. Sau tất cả những chuyện này, cõi đời bây giờ chỉ còn là chỗ trú chân tạm bợ. Sống cực nhục hay sung sướng cũng chẳng khác nhau gì, vì cũng chỉ là tạm bợ thôi. Mẹ chỉ lo rằng, sau khi chết, mẹ sẽ phải lang thang trong bóng đêm của thế giới bên kia. Cho nên, dù ở cõi đời này ta có sống cực nhục như thế nào chăng nữa, thì mẹ sẽ còn cực nhục hơn nếu bắt buộc phải bước trên con đường dẫn tới địa ngục”.

Lời cầu xin diễm lệ này của mẹ làm nàng Ghiô xúc động, nàng nói: “Mẹ ơi, mẹ nói phải lắm. Đúng, con sẽ mắc phải một trọng tội. Thế thì trong tình cảnh này con phải từ bỏ ý định tự sát thôi. Nhưng nếu giây phút nào con còn sống ở kinh đô, thì con không thể tránh được những nỗi đau khổ khác. Con xin mẹ hãy để cho con đi”.

Thế là mới hai mươi mốt tuổi, nàng Ghiô đã cắt tóc đi tu, về ở ẩn trong một túp lều tồi tàn sâu trong dãy núi Xaga. Ở đó, nàng đã đâng mình cho cửa Phật. Em gái nàng cũng đi theo chị: “Nếu chị tôi tự vẫn tôi cũng còn theo nữa là. Vả lại còn có ai chán cái cuộc sống trần tục này hơn tôi?”

Thế là mưới mười chín tuổi, Ghinyô cũng cắt tóc đi tu, cũng ở ẩn với chị, ngày đêm chỉ nghĩ đến chốn cực lạc. Ôi thật đáng thương làm sao số phận trớ trêu của cô gái trẻ!

Bà Tôgi, mẹ của hai cô gái thấy hai con đi cả cũng tự nhủ mình: “Khi cô gái út cũng đã thành ni cô thì cái thân già này còn luyến tiếc mớ tọc hạc này làm gì?” Nói vậy, rồi bà cũng cạo đầu và cùng ở ẩn với hai cô con gái vào lúc ở tuổi năm mươi lăm, ngày ngày tụng kinh niệm Phật, cầu nguyện cho kiếp sau được nhiều may mắn.

Mùa xuân đã trôi qua, những câu lá vốn xanh tươi nay đang úa tàn, những ngọn gió đầu tiên của mùa thu đang thổi tới, đôi sao Chức nữ và Ngưu lang (7) đang bơi qua dải Ngân hà đến gặp nhau trên trời, mùa cầu nguyện cho những ước vọng của con người, mùa mà ba ni cô ngắm vầng thái dương đang khuất dần sau rặng núi và nhận ra những điều mà họ đã nghe thấy: Phần đất nằm ở phía tây nơi mặt trời lặn chính là Thiên đường (8). Ở chốn ấy, rồi một ngày nào đó họ sẽ được tái sinh và sẽ sống một cuộc đời không phải lo lắng và không vướng phải chút bụi trần nào. Trong lòng họ lại trào lên những kỷ niệm đau buồn cũ, họ lại khóc, nước mắt tuôn mãi không dừng.
Trời đã tối dần, khi ba mẹ con kéo kín tấm liếp che cửa, đốt một ngọn lửa nhỏ trong nhà chuẩn bị tụng kinh buổi tối, thì bỗng có tiếng gõ cửa. Họ hoảng hốt và nói với nhau: “Lại một điều bất hạnh nào nữa đây? Đức tin của ta còn mỏng nên ma quỷ còn tới để ngăn trở ta đạt thành chính quả. Còn ai vào đây nữa tới thăm túp lều hẻo lánh này trong đêm, vì lâu nay cả ban ngày cũng có ai tới thăm đâu? Cái liếp tre mỏng manh này thì ngăn được ai, dù ta có khóa thì nó vẫn phá dễ như bỡn. Tốt hơn hết là cứ mở cửa ra cho nó vào còn hơn là đóng chặt. Nếu ta đón tiếp tử tế mà nó vẫn chẳng động tâm mà đòi mạng sống của cả ba mẹ con ta, thì chỉ còn mỗi cách là luôn mồm cầu nguyện “Nam mô A di đà Phật” (9) đặt tất cả lòng tin của chúng ta vào cánh tay của Đức Phật, Người mà chúng ta lâu nay vẫn cầu nguyện. May ra lời cầu của chúng ta thấu đến tai Người, Người sẽ dẫn chúng ta cùng lên chốn cực lạc. Nào, hãy đừng sao nhãng việc cầu nguyện dù chỉ là phút giây”.

Nói vậy, để người nọ trấn an người kia, họ liền mở cánh liếp tre, trước mặt họ không phải ma quỷ nào mà chính là Bà Phật. Cả ba cùng thốt lên:

“Bà Phật, trời ơi, đây là giấc mơ hay là ma quỷ?”


Người khách trả lời: “Dù rằng đến xin lỗi bây giờ là quá muộn, nhưng cũng còn hơn không. Tôi phải đến xin lỗi nàng nếu không tôi sẽ bị cho rằng thiếu chữ tình và thiếu hiểu biết. Đứng trước chị đây là một kẻ trước đây đã từng là khách không mời, bị quan Tể tướng đuổi đi, rồi cho gọi lại, chỉ vì chị đã tha thiết cầu xin cho. Tôi lấy làm hổ thẹn khi nói ra điều này, vì thân phận một người đàn bà nhu nhược, dù muốn, nhưng lực bất tòng tâm. Tôi đã không thể chọi lại được với quan Tể tướng. Sống ở lâu đài của ông ấy mà tôi có được ngày nào sung sướng, chỉ làm bung xung cho ông ấy mà thôi. Khi tôi nhìn thấy chị bị buộc phải rời bỏ lâu đài, tôi đã hiểu rằng tôi không thể bao giờ sung sướng, thậm chí có sống trong ngọc ngà nhung lụa, bởi lẽ tôi biết rằng, một ngày kia số phận của tôi cũng như thế. Thế rồi tôi nhìn thấy bài thơ của chị trên cánh cửa, đọc lên tôi hiểu rằng đó là chân lý, không thể chối cãi được:

Cỏ kia trên đồng nội
Mọc lên rồi tàn lụi
Cỏ nào cũng vậy thôi
Muôn loài đều phải đợi
Mùa thu, trả kiếp đời.


Thế rồi, lần cuối, khi chị bị triệu đến lâu đài, bài ca mà chị hát ứng tác như lưỡi dao đâm vào trái tim tôi, cảnh tỉnh tôi rằng tôi đã làm điều xằng bậy. Tôi đã cố tìm nơi ở của chị và khi được biết là cả ba mẹ con chị đã quy y và về sống ẩn dật ở một nơi hẻo lánh, thì quả là tôi có ghen tỵ. Nhưng khi tôi xin quan Tể tướng để đi thăm chị, ông ấy chẳng thèm nói nửa lời. Từ trong tâm khảm lúc này tôi nhận ra rằng tất cả những cái vinh quang, hào nhoáng trên cõi đời trôi nổi và phù do này chỉ là những giấc mơ hão huyền mà thôi. Thực thế, chúng ta giàu sang phú quý mà làm gì? Làm một người trần thế đã là khó, từ chốn bụi trần mà thức tỉnh và lắng nghe lời phán truyền của đức Phật lại càng khó hơn nhiều. Nếu tôi đã một lần sa xuống địa ngục thì tôi khó có thể đứng lên mà vươn tới thiên đường, dù cho có sống ngàn vạn năm trong bóng đêm của địa ngục đi chăng nữa. Do đó mà tôi phải từ bỏ tuổi xuân. Chết già hay chết trẻ chẳng qua cũng chỉ do tạo hóa quyết định, chẳng có chút ý nghĩa gì. Chỉ có điều này là quan trọng, đó chính là lúc ta sắp trút hơi thở cuối cùng, cái chết đến mà thôi. Cuộc đời chúng ta thực ra cũng chỉ như kiếp con ruồi, cũng chỉ ngắn như tia chớp đêm giông. Tôi đã cảm nhận được điều đáng buồn này rằng sự sướng vui ngắn ngủi chẳng giúp gì được cho ta ở thế giới bên kia, cho nên tôi đã trốn khỏi lâi đài quan Tể tướng sáng hôm nay. Chuyện tất cả là như thế. Cho nên tôi đã đến đây để tìm chị”.

Nói đến đây, Bà Phật kéo chiếc khăn phủ đầu, để lộ ra chiếc đầu ni cô đã được gọt nhẵn.

Bà Phật nói tiếp: “Tôi đến đây sau khi đã gọt đi mái tóc dày của mình, tôi xin chị hãy quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Nếu chị cho phép, tôi mong được chia sẻ với chị cuộc sống tu hành để rồi nay mai tôi có thể cùng với chị tái sinh dưới cành lá sen nơi đất Phật. Nếu chị vẫn còn thù hận tôi mà từ chối, tôi sẽ để cho đôi chân tôi muốn đưa tôi đi đâu thì đi, tôi chỉ còn biết niệm “Nam mô A di đà Phật”, lấy thảm rêu làm chiếu, rễ thông làm gối mà ngủ qua đêm, cho tới khi nhắm mắt xuôi tay. Cứ kiên trì thành tâm kêu tới đức Phật, tôi hy vọng rằng cuối cùng sẽ được chết một cách thanh thản và thiêng liêng”.

Nghẹn ngào nước mắt, Bà Phật van xin nàng Ghiô tha thứ. Đến lượt mình, nàng Ghiô cũng phải cố kìm những giọt lệ mà nói: “Ngay cả trong mơ ta cũng chẳng bao giờ nghĩ rằng ngươi lại suy ngẫm sâu sắc số phận của ta như vậy. Mặc dù ta đã nhận thấy cuộc sống trần thế chỉ là thứ rác trôi sông và đã chấp nhận số phận đau thương của mình, nhưng ta vẫn căm ghét và thỉnh thoảng vẫn nguyền rủa ngươi. Bởi vì ta không thể chết một cái chết thiêng liêng được trong khi trong lòng ta vẫn còn thù giận một ai, ta sợ rằng sau khi ngươi đã phá hoại cuộc đời của ta rồi, thì ngươi cũng sẽ có thể bóp nát mọi hy vọng của ta vào kiếp sau. Nhưng lúc này nhìn thấy đầu ngươi đã gọt thì trong lòng ta chẳng còn đọng lại một chút nào thù hận hoặc tị hiềm. Bây giờ ta có thể hướng tới một cái chết thanh thản, đó chính là cái cảm giác làm cho ta sung sướng. Khi ba mẹ con ta lánh khỏi chốn bụi trần, người đời cho rằng đó là điều lạ và chưa từng có. Chúng ta cũng nghĩ như vậy. Nhưng bây giờ thì không, bởi vì ít nhất chúng ta cũng có lý do để ghê tởm cả cõi đời này lẫn bản thân chúng ta. Nhưng so với việc cô quy y, thì việc làm của chúng ta chẳng thấm vào đâu. Cô không oán giận ai, không thắc mắc gì ai. Trẻ như cô, năm nay mới mười bảy tuổi đầu mà cái tâm của cô đã chín như thế, dám từ bỏ những khoái lạc ngắn ngủi mà chọn con đường dẫn tới cõi Tịnh độ. Ta tin rằng quyết định sâu sắc của cô là đúng với lời dạy tối thượng của Phật Tổ. Mô Phật, sự hiện diện đức độ và tấm gương của cô thực đáng ngợi ca. Thôi, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho buổi trùng phùng này”.

Thế là từ đó bốn ni cô cùng sống một cuộc đời ẩn dật, sớm tối dâng hương hoa trước bàn thờ Phật. Họ đã một lòng tâm niệm hướng về nơi Tịnh độ, kiên định đến nỗi sau này cả bốn người dần dần đã đạt được tâm nguyện của mình là tới được cõi Niết bàn. Bởi thế trong cuốn sổ tử ở chùa Chôgôđô (do đức Tọa quan Hoàng đế Gô-Shirakawa xây dựng), tên của cả bốn người Ghiô, Ghinyô, Bà Phật và Tôghi đều được viết riêng để đặc biệt hương khói. Thực ra, cuộc đời của bốn người đều đượm nét sầu khổ siêu phàm và đạo Phật vẫn thường gọi là awarê (10).

---

Chú thích:
1. 1 bộc = 126 lít
2. 1 quan = 3,75kg
3. Ghiô có nghĩa là “cô gái nghệ sỹ”. Một số bản khác dùng chữ Ghi bằng chữ Hán “nghi” (lễ). Nhưng ở đây vì cô Ghiô được các kỹ nữ tôn thờ như bà tổ trong nghề, cho nên chữ Ghi ở đây được dùng bằng chữ “kỹ” (nghệ thuật).
4. Nghĩa là “Kỹ Nhất” hoặc “Kỹ Nhị”.
5. Nghĩa là “Kỹ Phúc” hoặc “Kỹ Đức”.
6. Năm trọng tội là: giết cha, giết mẹ, giết La-hán, làm tổn thương tượng Phật, và tội gây chia rẽ trong tăng giới. Theo đạo Phật, thì “pháp” (đnarma) (tức là luật của đạo Phật) là cái duy trì bản tính của mình và trở thành chuẩn mực cho mọi thứ.
7. Trẻ em Nhật đón ngày gặp nhau giữa hai ngôi sao Ngưu lang và Chức nữ vào ngày 7 tháng 7 âm lịch. Lễ này gọi là Thất tịch.
8. Cõi Tịnh độ của Phật Di đà là cõi Tây thiên.
9. Luôn luôn tâm niệm như vậy, thì người tín đồ sẽ được Phật phù hộ và được về cõi Tịnh độ của Phật Di đà.
10. Thật khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh từ này trong một cuốn sách. Nói ngắn gọn thì Awarê bắt nguồn từ hai chữ “A! Warê”, đây là câu cảm thán được sử dụng từ trước thời kỳ Hâyan. Đầu thời kỳ Hâyan (thế kỷ thứ 9) câu này biến thành một danh từ dể chỉ một kiểu cảm xúc nào đó. Xúc cảm này bao giờ cũng có những yếu tố cơ bản như nhau, tuy có thể được thể hiện trong những hoàn cảnh khác nhau. Có thể hiểu Awarê như sau: xúc cảm sâu sắc của một cá nhân trước một cái đẹp thoáng qua, có thể đó là một con người, một sự kiện, một vật tự nhiên hoặc một tác phẩm nghệ thuật. Awarê còn có thể gọi là một cảm xúc khác thường, bởi vì nó không chỉ gồm cái buồn, cái vui mà cả cái cảm xúc sâu sắc nữa.

_Nguồn: vnthuquan_