Cũng như Linh dị ký, Kim tích được viết dưới ảnh hưởng của Phật giáo và văn họcTrung Quốc. Ngoài các tác phẩm của Trung Quốc như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục, Minh báo ký, Sưu thần ký... Kim tích còn chịu ảnh hưởng của các thuyết thoại viết bằng chữ Hán như Nhật Bản linh dị ký, Pháp Hoa nghiệm ký, hay các tác phẩm nổi tiếng viết bằng chữ Hán xen lẫn với Kana như Bách nhân duyên tập, Vũ trị thập di vật ngữ, Cổ bản thuyết thoại tập...
Kim tích còn sử dụng nhiều motip được định hình trong truyện kể của khu vực và thế giới như motip cây thiêng, gò đống, đồi núi, mây mù, sông nước, đến các motip sinh nở kỳ lạ, thai sinh, thác sinh...
Tác phẩm không chỉ là tư liệu quý cho việc nghiên cứu văn học cổ điển Nhật Bản, mà còn là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử văn học so sánh ở Đông Á. Nhiều truyện của Kim tích đã được dịch ra tiếng Anh, gần đây là tiếng Trung Quốc, và một số rất ít truyện được dịch ra tiếng Việt... Việc nghiên cứu tác phẩm ở nước ngoài, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Nhật Bản tuy có muộn, song thực sự nó đã góp phần giới thiệu những tinh hoa của văn học cổ điển Nhật Bản ra thế giới, là nhịp cầu giao lưu nối các nền văn hóa mang bản sắc riêng xích lại gần nhau hơn.
Giáo sư Nhật Bản Komine Kazuaki 小 峰 和 明, khi nghiên cứu về motip "thủ thuật lấy cắp dưa" trong thuyết thoại Nhật Bản (18) có dẫn câu chuyện tương đồng trong Bão Phác tử 抱 朴 子 , sách Nghệ văn loại tụ 藝 文 類 聚 của Trung Quốc. GS. Komene cho rằng, việc ông già dùng thủ thuật để lấy trộm dưa trong Kim tích vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian Trung quốc. Tuy nhiên, việc ông già xuất hiện khi mọi người dừng chân nghỉ dưới gốc cây to, sau đó dùng phép lạ để lấy dưa lại liên quan đến motip "cây thiêng" là motip mang tính thế giới. Theo tín ngưỡng cổ đại, thần linh thường trú ngụ trên các cây lớn, cây cổ thụ. Cây là tụ điểm trung tâm của cộng đồng, đồng thời là nơi giao tiếp giữa trời và người, giữa thần và người. Nếu trên cây xuất hiện thần linh nắm giữ và bảo hộ sinh mệnh thì cũng có lực lượng ma quỷ, trấn áp và làm hại sinh mệnh. Trường hợp ông già xuất hiện ở dưới gốc cây làm cho tính thiêng của không gian cây đã cụ thể hóa bằng nhân vật của truyền thuyết.
Trong Kim tích có khá nhiều chuyện đề cập đến motip trên cây có vật lạ, cây thiêng. Truyện thứ 3, Quái vật biến thành ông Phật ngồi trên cây, quyển 20 kể rằng:
Xưa nay, vào thời Thiên hoàng Engi, ở ngôi đền thời Saennokami ở Gojo có cây hồng không ra quả. Một hôm, trên cây bỗng xuất hiện đức Phật, tỏa những tia vàng rực rỡ. Đức Phật ngự trên cây thả xuống những bông hoa muôn màu, cảnh tượng thật đáng kính. Nghe tin, người trong Kinh thành nô nức rủ nhau tới xem, xe ngựa nườm nượp, không còn chỗ chen chân. Bấy giờ có vị đại thần Hikaru. Ông là con của Thiên hoàng Fukku sa, hiền tài thông minh bậc nhất. Ông không tin đức Phật lại có thể hiện ra ở nơi cây cao như vậy, bèn dùng thuật thôi miên khiến vị Phật đó phải biến thành con diều hâu gẫy cánh, từ trên cây rơi xuống. Ông được mọi người khen ngợi hết lời và câu chuyện được truyền đi như vậy.
Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản, trên cây có vật lạ là motip thường thấy ở thuyết thoại Nhật Bản và truyện kể dân gian Trung Quốc. Trong phần truyện kể Trung Quốc ở Kim tích, có truyện trên cây Hán Cao tổ ẩn nấp, xuất hiện rồng ngũ sắc (truyện 2, quyển 10).
Liên quan đến không gian thiêng trên cây, truyện 25, quyển 15, Kim tích còn có motip, trên cây có tiếng đàn sáo, đó là âm thanh của đoàn rước đưa người có duyên về cõi Cực lạc. Trong nhóm truyện có motip "cây" ở Kim tích, còn xuất hiện motip độc đáo "thế giới khác trên ngọn cây". Truyện tóm tắt như sau:
Xưa nay, cũng không biết từ bao giờ, có nhà sư sống ở chùa Ni shinoto, chiều chiều trong ánh nắng tà, ông đứng ngoảnh mặt về chùa Higa shi sanmude để tụng kinh. Bỗng có chàng trai khôi ngô tuấn tú không biết từ đâu đi tới, muốn mời nhà sư về nhà để cảm ơn. Nhà sư lấy làm ngạc nhiên, nhưng cũng không có cách nào từ chối bèn đi theo, tới chỗ gốc cây lớn ở chùa Higa shi sanmude, chàng trai bảo nhà sư trèo lên cây. Nhà sư lo lắng, sợ ngã, nhưng chẳng có cách nào từ chối bèn nghe lời chàng trai, trèo lên chỗ cây cao nhất. Khi đến nơi, nhà sư thấy có một cung điện. Nhìn ra phía đông là cảnh ngày Tết, hoa đào nở khắp nơi, chim ca ríu rít. Phía bên kia, dựng bình phong, bày toàn món ăn ngon. Nhìn về phía Đông nam, nhà sư thấy có rất nhiều người mặc trang phục đi săn. Ở núi Futaoka bọn trẻ du chơi, nam nữ cùng nhau múa hát. Những cô gái mặc váy áo màu tía, phía dưới rủ xuống những vạt vải màu hoa hồng, trông thật nhã nhặn. Phía Nam là các xe chở lễ vật tới lễ hội Moka đang trên đường trở về đi qua giữa cánh đồng hoa tím, phong cảnh thật diễm lệ. Lại thấy nhà nhà đặt cây xương bồ, túi hoa cỏ thơm tránh tà khí vào lễ hội mồng Năm tháng Năm... (Truyện 33 quyển 19).
Điểm qua sơ lược như thế cho thấy motip "cây" là biểu tượng không gian thiêng của rất nhiều cộng đồng cư dân trên thế giới. Việc xuất hiện với tần số cao các truyện có liên quan đến motip "cây" ở các tác phẩm giai đoạn đầu của văn học các nước trong khu vực văn hóa Hán, chứng tỏ sự sự gần gụi về ý nghĩa của các biểu tượng văn hóa thế giới và sự tương đồng trong nấc thang tư duy của nhân loại.

Từ Linh dị ký và Kim tích có thể nhận ra những nét riêng và nét chung với truyện kể dân gian Trung Quốc và thuyết thoại Hán văn của Việt Nam. Những nét chung thường dễ nhận ra bởi như nhiều nhà nghiên cứu folklore nhận xét, trong văn học dân gian, đặc biệt trong truyện cổ thần kỳ, tính chung nhân loại làm cho người đọc, nhà nghiên cứu dễ nhận ra và tìm thấy hơn tính riêng - tính dân tộc (20). Văn hóa Nhật Bản xét về cơ tầng chiều sâu và bề rộng cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á. Nếu xét ở quá trình tiếp biến thì văn hóa Nhật Bản cũng không tách rời quan hệ giao lưu quốc tế và không nằm ngoài những quy luật nội tại của sự sáng tạo dân gian nói chung.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, cái làm nên nét riêng độc đáo của mỗi nước, mỗi dân tộc, lại phụ thuộc vào một thứ "gen di truyền" của cộng đồng, cộng thêm vào đó là đặc điểm địa lý, tâm lý văn hóa, đời sống xã hội, ngôn ngữ dân tộc, truyền thống dân cư... những cái đó đã tạo ra bản sắc riêng của mỗi dân tộc, làm nên những tiêu chí quan trọng để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác (21). Nó góp phần giải thích vì sao có những tác phẩm bị thờ ơ ở nước mẹ đẻ lại được nồng nhiệt đón nhận ở nước ngoài (21). Vì lẽ đó nghiên cứu văn học so sánh sẽ giúp tìm ra những mảng màu khác biệt, làm cho bức tranh chung trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nihon muka shibana shi jiden (Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản). Yanada Ko ji 稻 田 浩 二 , Ooshima Tatehiko 大 島 建 彥 , Kawabata Toyohiko 川 端 豊 彥 , Fukuda Akira 福 田 晃 , Mihara Yukihisa 三 原 幸 久 biên soạn. Nhà xuất bản Kobunto. 1984.

2. Kawamoto Kunie 川 本 邦 衛 : Denkimanroku sanpanko (Khảo về các bản in của Truyền kỳ mạn lục ). Đại học Keio, 1988.

3.Kono Kimiko 河 野 貴 美 子 : Nihon reiki to Chugoku no den sho (Nhật Bản linh dị ký và truyện kể dân gian Trung Quốc). Nxb. Benjyosha, 1987.

4. Komine Kazuaki 小 峰 和 明 : Inseiki bungakuron (Bàn luận về văn học thời kỳ In sei)

5. Komine Kazuaki 小 峰 和 明 : Konjakumonogatarishu wo manabu hito no tameni (Dành cho người mới học tác phẩm Kon jakumonogata ri shu). Nxb. Sekai shiso. 2003.

google.com