>
Trang 10/11 đầuđầu ... 6 7 8 9 10 11 cuốicuối
kết quả từ 91 tới 100 trên 105

Ðề tài: [Truyện Dài] MẬT MÃ DA VINCI (Dan Brown)

  1. #91
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 91


    Silas ngồi ở ghế hành khách trong chiếc xe limousine Jaguar đang đỗ gần Nhà thờ Temple. Tay hắn cảm thấy nhâm nhấp trên viên đá đỉnh vòm khi hắn đợi Rémy trói và bịt miệng Teabing ở đằng sau bằng chiếc dây thừng tìm thấy trong thùng xe.
    Cuối cùng, Rémy ra khỏi khoang sau xe, đi vòng quanh rồi vào ghế ngồi lái bên cạnh Silas.
    "Chắc rồi chứ?", Silas hỏi.
    Rémy cười tủm tỉm, giũ sạch nước mưa, ngoái mắt qua tấm ngăn để ngỏ nhìn cái thân hình dúm đó của Leigh Teabing ở phía sau: "Lão ta không thể đi đâu cả".
    Silas nghe thấy tiếng ú ở của Teabing và hiểu rằng Rémy đã dùng băng keo cũ để bịt miệng ông ta.
    "Fame ta gueule"(1), Rémy quát với Teabing. Với tay sang bảng điều khiển, Rémy ấn một nút nhỏ. Một tấm ngăn mờ đục dựng lên bịt kín phía sau. Teabing biến mất và tiếng ông ta câm bặt. Rémy liếc nhìn Silas: "Tôi đã nghe tiếng rền rĩ khốn khổ của lão ta quá đủ rồi".
    Vài phút sau khi chiếc limousine Jaguar lao nhanh trên đường phố thì điện thoại của Silas reo. Thầy Giáo. Hắn phấn khởi trả lời: "Xin chào Thầy?".
    "Silas", giọng Pháp quen thuộc của Thầy Giáo nói, "nghe thấy tiếng con, ta nhẹ cả người. Điều đó có nghĩa là con vẫn an toàn".
    Silas cũng yên tâm hẳn khi nghe thấy giọng nói của Thầy Giáo. Suốt nhiều giờ qua, kế hoạch hành động đã bị đối hướng xoay chiều xoành xoạch. Cuốì cùng, giờ đây dường như đâu lại vào đấy: "Con đã có được viên đá đỉnh vòm".
    "Đây là tin tuyệt vời", Thầy Giáo nói với hắn, "Rémy ở cùng con chứ?".
    Silas rất ngạc nhiên khi nghe thấy Thầy Giáo gọi tên Rémy: "Vâng, Rémy đã giải thoát cho con".
    "Vì ta đã ra lệnh cho hắn làm thế, ta chỉ ân hận là con đã phải chịu đựng sự giam giữ quá lâu".
    "Gò bó thân xác không có nghĩa ý gì cả. Điều quan trọng là chúng ta đã có được viên đá đỉnh vòm".
    "Đúng vậy, ta cần con trao nó cho ta ngay lập tức, thời gian rất quan trọng".
    Silas rất háo hức vì cuối cùng cũng được gặp Thầy Giáo mặt đối mặt: "Vâng, thưa Thầy, con rất vinh dự".
    "Silas, ta muốn Rémy sẽ mang nó đến cho ta".
    Rémy? Silas tiu nghỉu. Sau mọi việc Silas đã làm cho Thầy Giáo, hắn đã tin rằng chính hắn sẽ là người được tự tay trao vật báu. Thầy Giáo biệt đãi Rémy sao?
    "Ta cảm thấy được sự thất vọng của con", Thầy Giáo nói. "Điều đó nói lên rằng con không hiểu ý ta". Thầy Giáo hạ giọng xuống thành một tiếng thì thầm: "Con phải tin rằng ta muốn nhận được viên đá đỉnh vòm từ con - Người của Chúa - hơn là từ tay của một tên tội phạm. Nhưng Rémy phải bị xử lý.
    Hắn đã không tuân lệnh của ta và phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khiến cho sứ mệnh của chúng ta lâm nguy".
    Silas cảm thấy ớn lạnh và liếc qua Rémy. Việc bắt cóc Teabing không nằm trong kế hoạch và quyết định làm gì với ông ta đặt ra một vấn đề mới.
    "Con và ta là người của Chúa". Thầy Giáo thì thầm, "chúng ta không thể bị ngăn chặn khỏi mục đích của chúng ta". Một thoáng dừng dễ sợ trên đường dây. "Duy chỉ vì lý do đó, ta sẽ yêu cầu Rémy mang viên đá đỉnh vòm cho ta. Con hiểu chứ?".
    Silas cảm nhận được sự tức giận trong giọng nói của Thầy Giáo và rất ngạc nhiên là Thầy Giáo đã không thông cảm hơn.
    Việc Rémy lộ diện là không thế tránh khỏi, Silas nghĩ. Rémy đã làm điều hắn phải làm. Hắn đã cứu viên đá đỉnh vòm."Con hiểư" Silas gượng đáp.
    "Tốt. Vì chính sự an toàn của con, con cần phải rời khỏi đường phố ngay lập tức. Cảnh sát sẽ sớm tìm kiếm chiếc limousine và ta không muốn con bị bắt. Opus Dei có một dinh thự ở London, con biết chứ?".
    "Tất nhiên rồi".
    "Con được chào đón ở đó chứ?".
    "Với tư cách là một đạo hữu".
    "Thế thì hãy đi đến đó và ra khỏi tầm ngắm. Ta sẽ gọi con ngay khi ta có được viên đá đỉnh vòm và giải quyết được vấn đề hiện nay của ta".
    "Thầy đang ở London chứ?".
    "Hãy làm như ta dặn và mọi việc sẽ tốt đẹp".
    "Vâng, thưa Thầy".
    Thầy Giáo trút một tiếng thở dài, như thể điều mà Thầy phải làm bây giờ là rất đáng tiếc: "Đã đến lúc ta nói chuyện với Rémy".
    Silas đưa máy cho Rémy, hắn cảm thấy đây có thể là cuộc điện đàm cuối cùng của Rémy Legaludec.
    Khi Rémy cầm lấy điện thoại, y biết tên thầy tu tội nghiệp dị hợm này không hề biết số phận nào đang đợi hắn sau khi hắn đã hết phận sự.
    Thầy Giáo đã lợi dụng ngươi, Silas.
    Và giám mục của ngươi chỉ là một con tốt.
    Rémy vẫn còn ngạc nhiên trước sức thuyết phục của Thầy Giáo. Giám mục Aringarosa đã tin tưởng mọi thứ. Ông đã mù quáng bởi chính sự liều lĩnh tuyệt vọng của mình. Aringarosa quá ham hố đâu còn bụng dạ nào mà tin. Mặc dù Rémy không thích Thầy Giáo lắm, y vẫn tự hào là đã chiếm được lòng tin của Thầy Giáo và giúp đỡ Thầy đáng kể. Mình xứng với số tiền được trả.
    "Nghe kỹ nhé", Thầy Giáo nói. "Hãy đưa Silas tới dinh thự của Opus Dei và thả nó xuống cách đó mấy con phố. Sau đó lái xe tới Công viên Saint James. Nó ở cạnh Nhà Quốc hội và tháp Big Bell. Anh có thể đỗ chiếc limousine ở Horse Cuards Parade. Chúng ta sẽ nói chuyện ở đó".
    Nói đoạn, ông ta tắt máy.


    Chú thích:
    (1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Câm cái mõm của người lại!


    Hết chương 91.

  2. #92
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 92


    Đại học Hoàng gia do vua George IV lập vào năm 1829, đặt Khoa Thần học và Nghiên cứu Tôn giáo ở cạnh Nhà Quốc hội trên đất do Vương quốc cấp. Khoa tôn giáo Đại học Hoàng gia tự hào không chỉ về một trăm năm mươi năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, mà còn về Viện Nghiên cứu Thần học Hệ thơng thành lập năm 1982. Viện này sở hữu một trong những thư viện nghiên cứu tôn giáo đầy đủ nhất, với thiết bị điện tử tiên tiến nhất trên thế giới.
    Langdon vẫn cảm thấy run rẩy khi ông và Sophie từ ngoài trời mưa bước vào thư viện. Phòng nghiên cứu chính đúng như Teabing đã mô tả - một căn phòng hình bát giác đầy ấn tượng với một chiếc bàn tròn đồ sộ ở ngôi vị thống ngự; quanh chiếc bàn đó, hẳn vua Arthur cùng các hiệp sĩ của người có thể cảm thấy thoải mái nếu không có sự hiện diện của mười hai dàn vận hành máy vi tính màn hình phẳng. Ở đầu đằng kia căn phòng, một nữ thủ thư giữ sách tham khảo đang rót một bình trà và bắt đầu ngày làm việc.
    "Chúc một buổi sáng thú vị", cô nói với giọng Anh vui vẻ, để bình trà lại và đi tới. "Tôi có thể giúp được gì cho ông?".
    "Vâng, cảm ơn", Langdon đáp lại. "Tên tôi là…".
    "Robert Langdon!" Cô nở một nụ cười khả ái. "Tôi biết ông là ai".
    Trong phút chốc, Langdon bỗng sợ là Fache đã đưa hình ông lên kênh truyền hình Anh, nhưng nụ cười của cô thủ thư gợi lên một điều khác hẳn. Langdon vẫn chưa quen với những lúc bất ngờ phải vào vai người nổi tiếng như vậy. Lại nữa, trên đời có người nhận ra khuôn mặt ông, thì lại là một cô thủ thư ở bộ phận sách tham khảo về nghiên cứu tôn giáo!
    "Pamela Gettum", cô thủ thư nói và chìa tay ra. Cô có một khuôn mặt thông minh và giọng lưu loát rất dễ thương. Cặp kính gọng sừng lủng lẳng nơi cổ cô thật là dầy.
    "Rất vui được biết cô", Langdon nói, "đây là bạn của tôi, Sophie Neveu!".
    Hai người phụ nữ chào nhau và Gettum ngay lập tức chuyển sang Langdon. "Tôi không biết là ông đến".
    "Cả chúng tôi cũng không biết. Nếu không quá phiền hà, cô có thể tìm giúp chúng tôi một vài thông tin được không?".
    Gettum có vẻ phân vân: "Bình thường sự phục vụ của chúng tôi phải có phiếu yêu cầu và có hẹn trước, tất nhiên trừ phi ông là khách của ai đó trong trường này".
    Langdon lắc đầu: "Tôi e rằng chúng tôi đến không báo trước.
    Một người bạn của tôi rất ca ngợi cô. Ngài Leigh Teabing, cô biết chứ?". Langdon cảm thấy day dứt khi nhắc đến cái tên đó.
    Nhà sử học Hoàng Gia Anh".
    Bây giờ thì Gettum tươi tỉnh và cười: "Ôi trời, vâng. Thật là một tính cách đặc biệt. Cuồng tín! Đến lần nào cũng chỉ tìm độc một mục. Chén Thánh. Chén Thánh. Chén Thánh. Tôi thề là con người này sẽ chết trước khi từ bỏ công cuộc tìm kiếm đó". Cô nháy mắt. "Có nhiều thời gian và tiền bạc mởi đủ điều kiện chơi những thứ xa xỉ thú vị như thế, phải không? Một Don Kihote chính cống".
    "Liệu cô có thể giúp chúng tôi được không?" Sophie hỏi. "Thực sự quan trọng đấy".
    Gettum liếc quanh thư viện vắng vẻ và sau đó nháy mắt ra hiệu cho cả hai: "Ồ, tôi không thể viện cớ là đang quá bận, đúng không? Nếu hai vị kí nhận, tôi nghĩ sẽ không có ai quá phiền lòng. Hai vị quan tâm đến điều gì nào?".
    "Chúng tôi đang tìm một ngôi mộ ở London".
    Gettum có vẻ nghi ngờ: "Chúng tôi có khoảng hai mươi nghìn ngôi mộ. Hai vị có thể nói cụ thể hơn một chút không?".
    "Đó là ngôi mộ của một hiệp sĩ. Chúng tôi không có tên".
    "Một hiệp sĩ. Điều đó sẽ khoanh hẹp phạm vi một cách đáng kể. Bớt chung chung đi nhiều".
    "Chúng tôi không có nhiều thông tin về hiệp sĩ mà chúng tôi đang tìm kiếm", Sophie nói,. "Nhưng đây là điều chúng tôi biết". Cô đưa ra một mảnh giấy, trên đó cô chỉ chép hai câu đầu của bài thơ.
    Không muốn đưa toàn bộ bài thơ cho một người ngoài cuộc, Langdon và Sophie quyết định chỉ dưa ra hai câu đầu, những câu xác định nhân thân chàng. "Mật mã phân khoảnh", Sophie gọi nó như thế. Khi một cơ quan tình báo bắt được một mã số chứa những dữ liệu nhạy cảm, mỗi nhân viên mật mã sẽ làm việc trên một phân đoạn riêng rẽ. Theo cách này, không một người giải mật mã nào có thể độc chiếm được trọn thông điệp đã giải mã.
    Trong trường hợp này, sự phòng xa có lẽ là thái quá; ngay cả nếu người thủ thư này xem được toàn bộ bài thơ, xác định được ngôi mộ của người hiệp sĩ và biết được quả cầu bị mất tích là cái gì, thì thông tin cũng sẽ vô dụng vì không có hộp mật mã.
    Gettum cảm nhận thấy một vẻ rốt ráo trong mắt vị học giả Mỹ nổi tiếng này, như thể việc nhanh chóng tìm ra ngôi mộ là một vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối với ông. Người phụ nữ mắt xanh đi cùng ông cũng có vẻ lo âu.
    Bối rối, Gettum đeo kính lên và xem kỹ mảnh giấy họ vừa đưa cho cô.
    Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.
    Kết quả công sức chàng chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh.
    Cô liếc nhìn những vị khách của mình: "Đây là cái gì? Một kiểu bởi rác tìm vàng của Harvard?".
    Tiếng cười của Langdon nghe gượng gạo: "Ờ, đại loại như thế".
    Gettum ngừng lời, cảm thấy cô chưa hiểu được toàn bộ câu chuyện. Mặc dù thế, trí tò mò của Gettum bị kích thích và cô thấy mình suy nghĩ rất lung về bài thơ: "Theo như bài thơ, một hiệp sĩ đã làm điều gì đó khiến Chúa phật ý, tuy nhiên một Giáo hoàng đã có hảo tâm chôn cất chàng ở London".
    Langdon gật đầu: "Nó có gợi ý gì cho cô không?".
    Gettum tiến về một trong những dàn máy vi tính: "Tức thời thì chưa, nhưng ta hãy xem những gì có thể có được trong cơ sở dữ liệu".
    Trong hai thập kỉ qua, Viện nghiên cứu về Thần học Hệ thống của Đại học Hoàng gia đã sử dụng phần mềm nhận mặt chữ bằng quang học với các thiết bị dịch ngôn ngữ để số hoá và lập danh mục một bộ sưu tập văn bản khổng lồ - từ điển bách khoa về tôn giáo, tiểu sử tôn giáo, thánh thư bằng hàng tá ngôn ngữ, lịch sử, thư tín của Toà Thánh Vatican, nhật kí của các giáo sĩ, bất cứ những gì được coi là viết về tâm linh con người. Vì bộ sưu tập đồ sộ này giờ đây ờ dưới dạng bit và bye thay vì trên các trang giấy, nên các dữ liệu có thể truy nhập dễ hơn trước nhiều.
    Ngồi vào một dàn vận hành máy vi tính, Gettum nhìn mẩu giấy và bắt đầu đánh chữ: "Để bắt đầu, ta sẽ đi thẳng đến tổng mục lục với một vài từ khoá hiển nhiên và xem điều gì xảy ra".
    "Cảm ơn".
    Gettum đánh mấy từ.
    LONDON, HIỆP SĨ, GIÁO HOÀNG
    Khi ấn vào nút SEARCH (tìm), cô có thể cảm thấy tiếng ro ro của máy vi tính lớn ở tầng dưới đang quét hình dữ liệu với tốc độ 500MB/giây. "Tôi đang yêu cầu hệ thống này chỉ ra cho chúng ta bất kì văn bản nào chứa đựng tất cả ba từ khoá vừa rồi. Sẽ ra nhiều văn bản hơn ta muốn, nhưng đó là một căn cứ tốt để bắt đầu".
    Màn hình đã hiển thị những truy cập đầu tiên.
    Tranh vẽ Giáo hoàng. Bộ sưu tập chân dung của Ngài Joshua Reynols, nhà xuất bản trường Đại học London.
    Gettum lúc lắc đầu: "Rõ ràng không phải cái ông đang tìm kiếm". Cô chuyển sang cái thu được tiếp theo.
    Những bài viết về Alexander Pope (1) ở London của Hiệp sĩ G. Wilson.
    Một lần nữa cô lại lắc đầu.
    Hệ thống tiếp tục vận hành và những truy cập được hiển thị nhanh hơn bình thường. Hàng tá văn bản xuất hiện, nhiều trong số đó đề cập đến nhà văn Anh thế kỉ mười tám Alexander Pope. tác giả của những tập thơ chống tôn giáo, nhái chất tráng ca, trong đó nói rất nhiều đến các hiệp sĩ và London.
    Gettum lướt nhanh qua các con số dưới đáy màn hình. Máy tính này, bằng cách tính toán số lượng những truy cập hiện có và đem nhân lên với số phần trăm của cơ sở dữ liệu còn chưa được tìm kiếm, sẽ cung cấp một ước đoán sơ bộ về số lượng thông tin có thể tìm thấy. Sự thăm dò đặc biệt này có vẻ như sẽ cho một lượng dữ liệu lớn kinh khủng.
    Ước tính tổng số những truy cập: 2,692
    "Chúng ta cần lọc bớt các thông số đi nữa". Gettum nói, ngừng việc thăm dò. "Đây là toàn bộ thông tin các vị có về ngôi mộ? Không có gì khác nữa sao?".
    Langdon liếc sang Sophie Neveu, vẻ phân vân.
    Đây không phải là cuộc bớ rác tìm vàng, Gettum cảm thấy thế. Cô đã nghe người ta xì xào về trải nghiệm của Robert Langdon ở Roma năm ngoái. Người Mỹ này được phép tiếp cận thư viện kín cổng cao tường nhất trên trái đất - Phòng lưu trữ bí mật Vatican. Cô tự hỏi không biết Langdon đã lượm được loại bí mật nào trong đó và liệu cuộc săn tìm vô vọng hiện nay của ông về một ngôi mộ bí mật ở London có thể liên quan tới thông tin ông lượm được trong Toà thánh Vatican hay không. Gettum là một thủ thư có đủ thâm niên để biết rành lý do chung nhất khiến mọi người đến London để tìm các hiệp sĩ. Đó là Chén Thánh.
    Gettum mỉm cười và chỉnh lại kính: "Ông là bạn của Leigh Teabing, ông đang ở nước Anh và đang tìm kiếm một hiệp sĩ?". Cô chắp tay lại. "Tôi chỉ có thể giả định là ông đang tìm kiếm Chén Thánh".
    Langdon và Sophie giật mình nhìn nhau.
    Gettum cười: "Các bạn của tôi ơi, thư viện này là một cơ sở cho những người tìm kiếm Chén Thánh. Leigh Teabing cũng nằm trong số đó. Tôi ước sao mình được một silinh cho mỗi lần giúp dò tìm về Rose, Mary Magdalne, Sangreal, Merovingien, Tu viện Sion, vân vân và vân vân. Ai nấy đều thích chuyện âm mưưu" Cô tháo kính và nhìn họ. "Tôi cần thêm thông tin".
    Trong yên lặng, Gettum cảm thấy ý muốn giữ bí mật của hai vị khách đang nhanh chóng bị lấn át bởi nỗi háo hức sớm có được kết quả.
    "Đây", Sophie Neveu bật ra, "đây là những thứ mà chúng tôi biết". Mượn một cây bút của Langaon, cô viết hai dòng trên mẩu giấy và đưa nó cho Gettum.
    Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.
    Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.
    Gettum mỉm cười. Chén Thánh thực vậy, cô nghĩ, nhận thấy đoạn nhắc đến Hồng và tử cung mang hạt giống. "Tôi có thể giúp được các vị", cô nói, ngước lên khỏi mảnh giấy. "Tôi có thể hỏi bài thơ này có nguồn gốc từ đâu không? Và tại sao các vị lại tìm kiếm quả cầu?".
    "Cô có thể hỏi", Langdon nói, với một nụ cười thân thiện. "Nhưng đó là một câu chuyện dài mà chúng tôi có rất ít thời gian".
    Nghe có vẻ như là cách nói lịch sự của câu "Đừng chõ vào việc của người khác!".
    "Chúng tôi sẽ mang ơn cô mãi mãi, Pamela", Langdon nói, "nếu cô tìm ra được hiệp sĩ này là ai và được chôn cất ở đâu".
    "Tốt lắm!", Gettum nói, lại quay ra đánh chữ trên máy tính.
    "Tôi sẽ tiếp tục hợp tác. Nếu đây là một vấn đề liên quan đến Chén Thánh, chúng ta nên tham khảo chéo đối chiếu với những từ khoá về Chén Thánh. Tôi sẽ thêm một tham số cận kề và bỏ đi phần tiêu đề rườm rà. Như vậy sẽ hạn chế những truy cập của chúng ta xuống mức chỉ còn những trường hợp từ khoá văn bản ở gần một từ liên quan đến Chén Thánh".
    Tìm;
    HIỆP SĨ, LONDON, GIÁO HOÀNG, NGÔI MỘ.
    Trong vòng 100 từ gần với:
    CHÉN THÁNH, HOA HỒNG, SANGREAL, CHIẾC LI.
    "Việc này sẽ mất bao lâu?". Sophie hỏi.
    "Một vài trăm terabye với nhiều trường tham chiếu chéo".
    Mắt Gettum long lanh khi cô nhấn nút SEARCH. "Chỉ mười lăm phút thôi.
    Langdon và Sophie không nói gì nhưng Gettum cảm nhận thấy khoảng thời gian này có vẻ như dài vô tận đối với họ.
    "Trà nhé?" Gettum hỏi, đứng lên và đi về phía bình trà mà cô đã pha trước đó. "Leigh Teabing bao giờ cũng khoái trà của tôi".


    Chú thích:
    (1) Pope tên của nhà thơ cũng có nghĩa là Giáo hoàng


    Hết chương 92.

  3. #93
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 93


    Trung tân Opus Dei ở London là một nhà gạch khiêm tốn ở số 5 phố Orme Court, trông xuống đường North Walk ở vườn Kensington. Silas chưa bao giờ đến đây, nhưng hắn cảm thấy đây là nơi an toàn để ẩn náu khi hắn bước lại gần ngôi nhà.
    Mặc dù trời mưa, Rémy vẫn thả hắn xuống cách đó một đoạn ngắn để giữ cho chiếc limousine tránh khỏi những phố chính.
    Silas đâu có ngại phải đi bộ. Mưa có tác dụng gột rửa mà.
    Theo gợi ý của Rémy, Silas đã chùi sạch dấu tay trên khẩu súng của mình và vứt nó qua một cửa cống. Hắn rất vui vì tống khứ được nó. Hắn cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Lúc này, chân hắn vẫn còn đau vì vết trói, nhưng Silas đã từng chịu đựng những nỗi đau lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, hắn tự hỏi về Teabing, người mà Rémy đã trói go vứt ở phía sau chiếc xe. Giờ đây, chắc chắc lão già người Anh hắn đang phải cảm thấy đau đớn lắm.
    "Anh sẽ làm gì với lão ta?", trên đường tới đây, Silas đã hỏi Rémy.
    Rémy nhún vai: "Đó là một quyết định dành cho Thầy Giáo". Có một sự dứt khoát kì lạ trong giọng y.
    Lúc này, khi Silas gần đến tòa nhà Opus Dei, mưa bắt đầu nặng hạt hơn, thấm đẫm chiếc áo choàng to của hắn, làm nhói đau vết thương của ngày hôm trước. Hắn sẵn sàng bỏ lại phía sau những tội lỗi của hai mươi tư giờ trước và thanh lọc tâm hồn mình. Công việc của hắn đã hoàn thành. ".
    Đi qua một cái sân nhỏ tới cửa trước, Silas không ngạc nhiên khi thấy cánh cửa không khóa. Hắn mở cửa và bước vào căn phòng chờ nhỏ. Một hồi chuông điện tử khe khẽ vang lên trên gác khi Silas bước lên tấm thảm. Chuông báo là một nét chung của những sảnh kiểu này, nơi những người cư ngụ hầu như suốt ngày cầu nguyện ở trong phòng. Silas có thể nghe thấy tiếng đi lại trên các sàn gô kêu cót két.
    Một người đàn ông mặc áo chùng bước xuống gác: "Tôi có thể giúp gì được anh?". Ông ta có đôi mắt dường như thậm chí không hề ghi nhận vẻ bề ngoài kì dị của Silas.
    "Cảm ơn. Tên tôi là Silas. Tôi là một thành viên Opus Dei".
    "Người Mỹ à?".
    Silas gật đầu: "Tôi chỉ ở trong thành phố ngày hôm nay. Tôi có thể nghỉ ở đây không?".
    "Thậm chí anh không cần phải hỏi. Có hai phòng trống ở trên tầng ba. Tôi có phải mang trà và bánh mì cho anh không?".
    "Cảm ơn ông", Silas đang đói ngấu.
    Silas lên gác, vào căn phòng khiêm nhường có một cửa sổ, hắn cởi bỏ chiếc áo chùng ướt sũng và quỳ gối cầu nguyện trong bộ đồ lót. Hắn nghe thấy chủ nhân đi lên và đặt một cái khay bên ngoài cửa phòng. Silas thôi cầu nguyện, dùng bữa, đặt mình xuống và chìm vào giấc ngủ.
    Dưới đó ba tầng, điện thoại vang lên. Thành viên Opus Dei đã đón tiếp Silas trả lời điện thoại.
    "Đây là cảnh sát London", người gọi nói. "Chúng tôi đang tìm một thầy tu bạch tạng. Chúng tôi được tin báo rằng hắn ta có thể đang ở đó. Ông có trông thấy hắn không?".
    Thành viên Opus Dei giật mình: "Vâng, anh ta đang ở đây. Có gì không ổn?".
    "Hắn hiện sống ở đó sao?".
    "Vâng, đang cầu nguyện trên gác. Chuyện gì xáy ra vậy?".
    "Hãy để anh ta ở nguyên đó", sĩ quan cảnh sát yêu cầu. "Đừng nói một lời nào với bất kỳ ai. Tôi sẽ phái người đến ngay".


    Hết chương 93.

  4. #94
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 94


    Công viên Thánh Jeam là một biển cây xanh giữa London, một công viên công cộng giáp ranh các cung điện Westminster, Buckingham và nhà thờ Thánh James. Trước kia, vua Henry VIII cho rào kín công viên này, thả nai rừng để săn bắn. Đến nay, công viên Thánh James mở cửa thường xuyên cho công chúng. Vào những buổi chiều đầy ánh nắng, những người dân London pích-ních dưới những gốc liễu và cho đàn bồ nông cư ngụ trong hồ ăn, tổ tiên của chúng là món quà do đại sứ Nga tặng vua Charles II.
    Thầy Giáo không thấy một con bồ nông nào hôm nay. Thế chỗ chúng, thời tiết giông bão đã xua những con hải âu từ biển cả về đậu kín các bãi cỏ - hàng trăm cơ thể nhỏ trắng toát cùng quay về một hướng, kiên nhẫn vượt ra ngoài cưn gió ẩm ướt.
    Bất chấp màn sương sớm, công viên vẫn bày ra trước mắt quang cảnh tráng lệ của Nhà Nghị viện và Tháp Big Bell. Phóng mắt qua những bãi cỏ thoai thoải, qua hồ thả vịt và những bóng liễu rủ thướt tha, Thầy Giáo có thể thấy những chóp nhọn của toà nhà có chứa phần mộ của những chàng hiệp sĩ - lý do hoàn hảo khiến ông ta thuyết phục được Rémy đến nơi này.
    Khi Thầy Giáo lại gần cửa trước bên phía ghế hành khách của chiếc limousine đang đỗ, Rémy nhoài người sang mở cửa.
    Thầy Giáo dừng lại bên ngoài, tợp một ngụm từ chai cô nhắc mang theo. Rồi lau miệng, ông ta ngồi xuống bên cạnh Rémy và đóng cửa lại.
    Rémy giơ viên đá đỉnh vòm lên như một chiến lợi phẩm:
    "Suýt nữa thì mất tiêu".
    "Anh đã làm tốt đấy", Thầy Giáo nói.
    "Chúng tôi i đã làm tốt", Rémy đáp, đặt viên đá đỉnh vòm vào đôi bàn tay háo hức của Thầy Giáo.
    Thầy Giáo ngắm nhìn nó hồi lâu, mỉm cười: "Còn khẩu súng? Anh đã chùi sạch dấu tay rồi chứ?".
    "Để lại vào hộp đựng găng, nơi tôi đã thấy nó".
    "Thật tuyệt!" Thầy Giáo tu một ngụm cô-nhắc nữa và đưa chai cho Rémy. "Nào cùng uống chúc mừng cho sự thành công của chúng ta. Kết thúc đã gần kề rồi".
    Rémy đầy lòng biết ơn nhận lấy chai rượu. Rượu cô-nhắc hơi mặn, nhưng Rémy bất cần. Giờ đây, y và Thầy Giáo là những đối tác thực sự. Y có thể cảm thấy mình đã vươn lên được một vị trí cao hơn trong cuộc sống. Ta vẽ không bao giờ lại làm một tên đầy tớ nữa! Khi Rémy nhìn bờ đắp cao của hồ vịt phía dưới, Château Villitte dường như ở xa lắc tận đâu đâu.
    Uống thêm một hớp rượu nữa, Rémy có thể cảm thấy rượu cô nhắc làm máu mình ấm lên. Tuy nhiên, hơi ấm trong cổ họng Rémy nhanh chóng chuyển thành một hơi nóng không thoải mái chút nào. Nới lỏng chiếc nơ, Rémy nếm phải một cái gì sàn sạn thật khó chịu và trả chai rượu lại cho Thầy Giáo: "Có lẽ tôi đủ rồi", y gượng nói một cách yếu ớt.
    Cầm lấy chai rượu, Thầy Giáo nói: "Rémy, như anh biết đấy, anh là người duy nhất biết mặt tôi. Tôi đặt niềm tin rất lớn ở anh".
    "Vâng", y đáp, cảm thấy như lên cơn sốt khi y nới cái nơ lỏng thêm ra, "và nhân dạng của ngài sẽ theo tôi xuống mồ".
    Thầy Giáo im lặng hồi lâu: "Tôi tin anh". Bỏ chai rượu và viên đá đỉnh vòm vào túi, Thầy Giáo với tay vào hộp đựng găng, lấy ra khẩu súng lục Medusa nhỏ xíu. Trong khoảnh khắc, Rémy cảm thấy nỗi sợ dâng trào, nhưng Thầy Giáo chỉ đơn giản bỏ tọt nó vào túi quần mình.
    Ông ta đã làm gì vậy? Đột nhiên Rémy thấy toát mồ hôi.
    "Tôi biết mình đã hứa cho anh tự do". Thầy Giáo nói, giọng nghe đầy hối tiếc. "Nhưng xét hoàn cảnh của anh, đây là điều tốt nhất tôi có thể làm".
    Chỗ sưng phồng trong cổ họng Rémy bùng lên như động đất. Y gục xuống cần tay lái, ôm cuống họng và thấy vị nôn ở trong khí quản đang thít lại. Y thốt ra một tiếng kêu nghẹt lại, thậm chí không đủ to để nghe được từ bên ngoài xe. Vị mặn chát trong rượu cô nhắc giờ đây phát tác.
    Ta đang bị mưu sát.
    Bán tín bán nghi, Rémy quay sang Thầy Giáo đang thản nhiên ngồi bên cạnh mình, mắt nhìn thẳng về phía trước bên ngoài kính che gió. Mắt Rémy nhòa đi, y thở hổn hển. Ta đã làm mọi thứ có thể cho hắn. Làm sao hắn nỡ thế được! Có phải Thầy Giáo đã chủ định giết Rémy từ lâu hay đó là do những hành động của Rémy ở Nhà thờ Temple đã khiến cho Thầy Giáo mất lòng tin, Rémy sẽ không bao giờ biết. Lúc này đây, kinh hoàng và cuồng nộ đang ***g lên trong y. Rémy cố lao vào Thầy Giáo, nhưng cơ thể cứng đờ của y hầu như không cử động được. Ta đã tin mi mọi điều!
    Rémy cố giơ nắm tay xiết chặt để ấn còi xe, nhưng thay vì, y trượt sang một bên, lăn trên ghế ngồi, nằm vật bên cạnh Thầy Giáo, tay vẫn nắm lấy cổ họng. Bây giờ mưa đã rơi nặng hạt hơn. Rémy không nhìn thấy gì nữa, nhưng y có thể cảm thấy bộ óc cạn kiệt ôxy của mình đang ráng hết sức níu lấy chút sáng suốt thoi thóp cuối cùng. Khi thế giới của y từ từ tối đen lại, Rémy Legeludes có thể thề rằng hắn đã nghe thấy tiếng sóng Riviera êm dịu vỗ bờ.
    Thầy Giáo bước ra khỏi chiếc limousine, hài lòng thấy không có ai nhìn về phía mình. Ta không có sự lựa chọn nào hết, ông ta tự nhủ, ngạc nhiên thấy mình chẳng thấy hối hận gì mấy về điều vừa làm. Rémy đã tự định đoạt số phận của hắn đấy chứ! Suốt bao nhiêu lâu, Thầy Giáo đã sợ rằng Rémy có thể cần bị thủ tiêu khi nhiệm vụ đã hoàn thành, nhưng bằng cách trâng tráo chường mặt ra ở Nhà thờ Temple, Rémy đã đẩy nhanh quá trình tất yếu ấy một cách đầy kịch tính. Việc Robert Langdon bất ngờ đến Château Villette đã cùng một lúc mang đến cho Thầy Giáo cả một món bở ngẫu nhiên từ trên trời rơi xuống lẫn một tình thế khó xử phức tạp. Langdon đã trao viên đá đỉnh vòm ngay giữa cuộc, một bất ngờ thú vị, nhưng đồng thời lại tạo cho cảnh sát truy sát mình. Dấu tay của Rémy ở khắp nơi trong Château Villette cũng như ở nơi đặt máy nghe trộm trong nhà để xe, nơi Rémy đã tiến hành những hoạt động do thám. Thầy Giáo hài lòng vì đã hết sức cấn thận ngăn chặn mọi liên hệ giữa các hoạt động của Rémy và của chính ông ta. Không ai có thể với tới được Thầy Giáo trừ phi Rémy nói ra và đó không còn là mối lo phiền của ông ta nữa.
    Vãn còn một đầu dây lỏng lẻo cần thắt chặt lại ở đây, Thầy Giáo nghĩ, đi về phía sau của chiếc ô tô. Cảnh sát sẽ không biết gì về chuyện đã xảy ra và không còn một nhân chứng sống nào để khai với họ. Liếc nhìn xung quanh để bảo đảm không có ai đang theo dõi, ông ta mở cửa và trèo vào khoang sau rộng rãi.

    Vài phút sau đó, Thầy Giáo băng qua công viên Thánh James. Giờ chỉ có hai người còn lại, Langdo và Neveu. Họ phức tạp hơn. Nhưng có thể xử trí được. Tuy nhiên, lúc này, Thầy Giáo còn phải lo toan đến chiếc hộp mật mã đã.
    Đắc ý nhìn qua công viên, ông ta có thể thấy đích đến của mình. Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng. Ngay sau khi Thầy Giáo nghe được bài thơ, ông ta đã biết câu trả lời. Dù vậy, không lấy gì làm lạ là những người kia không đoán ra. Ta có một lợi thế không công bằng. Đã từng nghe những cuộc trò chuyện của Saunière trong nhiều tháng, đôi khi Thầy Giáo thấy vị Đại Sư nhắc đến chàng hiệp sĩ nổi tiếng, thể hiện sự tôn kính với chàng hầu như ngang bằng với chính Da Vinci. Sự ám chỉ của bài thơ đến chàng hiệp sĩ thật đơn giản đến mức thô thiển một khi ta đã trông thấy nó - nhờ trí tuệ của Saunière - và tuy nhiên, bằng cách nào ngôi mộ này có thể tiết lộ mật khẩu cuối cùng thì vẫn là một điều bí ẩn.
    Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.
    Thầy Giáo mơ hồ nhớ lại những tấm ảnh chụp ngôi mộ nổi tiếng và đặc biệt là những nét nổi bật của nó. Một quả cầu đẹp. Hình cầu lớn gắn trên mộ to gần bằng chính ngôi mộ. Sự hiện diện của quả cầu dường như làm Thầy Giáo vừa phấn khởi lại vừa bối rối. Một mặt, nó như một cây cột mốc chỉ đường nhưng theo bài thơ, cái miếng thiếu trong trò chắp hình lại là một quả cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng… chứ không phải là cái đã có sẵn ở đó. Thầy Giáo tính xem xét ngôi mộ kỹ hơn để tìm ra câu trả lời.
    Mưa trở nên nặng hạt hơn, Thầy Giáo đút viên đá đỉnh vòm sâu vào trong túi áo bên phải của mình dể tránh cho nó khỏi bị ướt. Ông ta để khẩu súng lục Medusa nhỏ xíu trong túi bên trái, không thể trông thấy được. Vài phút, ông ta bước vào nơi tôn nghiêm yên tĩnh của tòa nhà chín trăm năm tuổi nguy nga nhất London.

    Đúng lúc Thầy Giáo bước ra khỏi cơn mưa thì Giám mục Arigarosa bước vào trong mưa. Trên đường băng ướt mưa ở phi trường Biggin Hill Excutive, Arigarosa chui ra từ chiếc máy bay chật hẹp, khép chặt chiếc áo thầy tu để tránh ướt lạnh. Ông đã hi vọng được Đại uý Fache ra đón. Thay vào đó là một sĩ quan cảnh sát người Anh trẻ tuổi với một cái ô.
    "Giám mục Arigarosa phải không ạ? Đại uý Fache phải đi nên ông ấy yêu cầu tôi chăm sóc ông. Ông ta gợi ý tôi nên đưa ông đến Scotland Yard(1). Ông ấy nghĩ đó sẽ là nơi an toàn nhất".
    An toàn nhất. Arigarosa nhìn xuống cái cặp nặng đầy trái phiếu của Vatican ghì chặt trong tay. Ông hầu như đã quên: "Vâng, cảm ơn anh".
    Arigarosa trèo vào chiếc xe cảnh sát, tự hỏi Silas có thể ở đâu. Vài phút sau đó, máy quét hình của cảnh sát lạo xạo cho câu trả lời.
    Số 5 Orme Court.
    Arigarosa nhận ra địa chỉ này ngay lập tức.
    Trung tâm Opus Dei ở London.
    Ông quay sang phía người lái xe: "Cho tôi đến ngay chỗ đó".


    Chú thích:
    (1) Sở chỉ huy cảnh sát London.


    Hết chương 94.

  5. #95
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 95


    Langdon không rời mắt khỏi màn hình máy vi tính kể từ khi cuộc tìm kiếm bắt đầu.
    Năm phút. Cả hai truy cập. Cả hai đều không phù hợp.
    Ông bắt đầu lo lắng.
    Pamela Gettum ở phòng bên cạnh, đang chuẩn bị đồ uống nóng. Langdon và Sophie hỏi xin cà phê đi kèm với thứ trà mà Gettum mời, và từ tiếng bíp của lò vi sóng trong phòng bên, Langdon ngờ rằng yêu cầu của họ sẽ được đáp ứng bằng cà phê tan Nescafé.
    Cuối cùng, máy tính reo lên hân hoan.
    "Nghe như ông đã có được một truy cập nữa", Gettum gọi với sang từ phòng kế bên. "Tiêu đề là gì?".
    Langdon nhìn màn hình.
    Ngụ ngôn về Chén Thánh trong văn học thời trung cổ:
    Một khái luận về ngài Gawain của Hiệp Sĩ Xanh.
    "Ngụ ngôn về Hiệp Sĩ Xanh", ông đáp.
    Không phù hợp", Gettum nói, "chẳng có mấy người khổng lồ huyền thoại mặc đồ xanh được chôn ở London đâu".
    Langdon và Sophie kiên nhẫn ngồi trước màn hình và đợi qua hai kết quả khác còn đáng ngờ hơn. Tuy nhiên, khi máy vi tính lại reng lên, món quà thật bất ngờ.
    DIE OPERA VON RICHARD WAGNER
    "Opera của Wagner?", Sophie hỏi.
    Gettum ngó lại từ khung cửa, tay cầm một gọi cà phê tan. "Có vẻ là một sự kết hợp lạ kỳ. Wagner là một hiệp sĩ phải không?".
    "Không", Langdon đáp, cảm thấy một tình tiết dột ngột. "Nhưng ông là thành viên Hội Tam Điểm nổi tiếng. Cùng với Mozart, Beethoven, Shakespeare, Gershwin, Houdini va Disney. Có nhiều tập sách viết về mối quan hệ giữa những thành viên Hội Tam điểm và các Hiệp sĩ Templar, Tu viện Sion, và Chén Thánh. "Tôi muốn xem cái đó. Làm thế nào để xem được toàn văn?".
    "Ông không cần cả bài đâu", Gettum nói với ra. "Ấn vào tiêu đề siêu văn bản(1). Máy vi tính sẽ hiện ra các truy cập từ khóa của ông cùng với những mono prelog và triple postlog (2) làm văn cảnh".
    Langdon không hiểu cô nói gì, nhưng vẫn nhấn chuột.
    Một cửa sổ mới đột hiện.
    … Hiệp sĩ huyền thoại tên là Parsifal, người… cuộc đi tìm Chén Thánh ẩn du, điều còn chưa ngã ngũ…
    … dàn nhạc giao hưởng London năm 1855…
    Rbecca tuyển tập ca kịch của Pope - DIVA…
    … mộ của Wagner ở Breyth, Đức …
    "Không phải Pope (3) này", Langdon nói, thất vọng. Mặc dù vậy ông vẫn ngạc nhiên vì thấy hệ thống rất dễ sử dụng. Những từ khóa có văn cảnh đủ để nhắc ông rằng vở opera Parsifal của Wagner là để tôn vinh Mary Magdelene và dòng máu của Jesus Christ qua câu chuyện một chàng hiệp sĩ trẻ đi tìm chân lý.
    "Hãy kiên nhẫn", Gtum động viên. "Đây là một trò chơi số. Cứ để cho máy chạy".
    Trong vài phút tiếp theo, máy vi tính cho thêm mấy tư liệu tham khảo về Chén Thánh, trong đó có một bài về trolbadour - những người hát rong nổi tiếng của Pháp. Langdon biết việc hai từ minstrel (người hát rong) và minister (linh mục, mục sư) có chung một gốc từ nguyên không phải là một sự trùng hợp.
    Những người hát rong là những đầy tớ lưu động, hay "mục sư" Nhà thờ, của Mary Magdalene, họ dùng âm nhạc để truyền bá câu chuyện về tính nữ thiêng liêng trong quần chúng. Đến tận ngày nay, những người hát rong vẫn ca ngợi phẩm hạnh của "Công Nương của chúng ta", một giai nhân bí ẩn mà họ nguyện mãi mãi phụng thờ.
    Hăm hở, Langdon kiểm tra… nhưng không thấy gì.
    Máy tính lại reng.
    Hiệp sĩ, lưu manh, Giáo hoàng và hình sao năm cánh.
    Lịch sử của Chén Thánh qua bộ bài Tây.
    "Chẳng có gì là lạ", Langdon nói với Sophie. "Một số từ khóa của chúng ta trùng tên với những quân bài lẻ". Ông với lấy con chuột để kích vào một đường siêu kết nối liên văn bản. "Tôi không chắc liệu ông cô có đề cập tới nó khi cô chơi bài Tarot với cụ không, Sophie, nhưng trò chơi này là một thứ sách giáo lý vấn đáp bằng thẻ chữ to kể câu chuyện về "Cô dâu thất lạc" và bị chinh phục bởi Giáo hội ác độc".
    Sophie nhìn ông, vẻ không tin: "Tôi không biết".
    "Đó là vấn đề. Bằng cách dạy thông qua một trò chơi ẩn dụ, những tín đồ của Chén Thánh nguỵ trang thông điệp của mình khỏi con mắt cú vọ của Giáo hội". Langdon thường tự hỏi bằng cách nào mà nhiều người chơi bài hiện đại lại suy ra được rằng những bộ bốn hoa của họ - pích, cơ, tép, rô - là những biểu tượng có liên quan đến Chén Thánh, bắt nguồn trực tiếp từ bộ bốn trong bài Tarot - gươm, ly, vương trượng và hình sao năm cánh.
    Pích là Gươm - lưỡi dao. Nam.
    Cơ là Ly - Chén Thánh. Nữ.
    Tép là Vương Trượng - Dòng Hoàng tộc. Cậy quyền uy.
    Rô là hình sao năm cánh - Nữ thần Tính nữ thiêng liêng.
    Bốn phút sau, khi Langdon bắt đầu cảm thấy sợ rằng họ sẽ không tìm thấy cái mà họ đến để tìm, thì máy tính lại đưa ra kết quả khác Trọng lực của thiên tài:
    Tiểu sử của một hiệp sĩ hiện đại.
    "Trọng lực của thiên tài?". Langdon nói vọng sang với Gettum.
    "Tiểu sử của một hiệp sĩ hiện đại?".
    Gettum thò đầu vào: "Hiện đại đến mức nào? Xin đừng nói với tôi đó là Ngài Rudy Giuliani của ông. Cá nhân tôi thấy ông ta hơi có chút kỳ quặc".
    Langdon cũng có những thắc mắc riêng về việc Ngài Mick Jagger mới được phong tước hiệp sĩ, nhưng bây giờ dường như không phải lúc để tranh cãi về chính sách về danh hiệu hiệp sĩ của nước Anh thời hiện đại. "Hãy nhìn xem", Langdon gọi các từ khóa siêu văn bản.
    … hiệp sĩ tôn kính, ngài Isaac Newton… London năm 1727, và mộ Ngài Westminster Abbey… Alexander Pope, bạn và đồng nghiệp…
    "Tôi đoán hiện đại là một khái niệm tương đối thôi", Sophie nói với Gettum. "Đây là một cuốn sách cổ. Nói về Ngài Isaac Newton".
    Gettum lắc đầu ở khung cửa: "Không phù hợp. Newton đã được mai táng ở Tu viện Westminster/ trụ sở của Đạo Tin Lành nước Anh. Không có cách nào để một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo hiện diện được. Dùng kem và đường chứ?".
    Sophie gật đầu.
    Gettum đợi: "Còn ông, Robert?".
    Tim của Langdon dập thình thình. Ông rời mắt khỏi màn hình và đứng lên. "Ngài Isaac Newton chính là chàng hiệp sĩ của chúng ta".
    Sophie vẫn ngồi: "Ông đang nói về cái gì?".
    "Newton đã được chôn cất ở London"! Langdon nói. "Công sức lao động của ông tạo ra những ngành khoa học mới chuốc lấy cơn thịnh nộ của Giáo hội. Và ông đã từng là một Đại Sư của Tu viện Sion. Chúng ta có thể muốn điều gì hơn thế nữa?".
    "Điều gì nữa ư?". Sophie chỉ vào bài thơ. "Còn đoạn được Giáo hoàng mai táng thì sao? Cô nghe đấy chứ, Gettum? Newton không hề được mai táng bởi một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo".
    Langdon với lấy con chuột: "Có ai nói là một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo đâu?", ông kích vào chữ "Pope"qua đường siêu kết nối, và thông tin đầy đủ hiện ra.
    Đám tang của Ngài Isaac Newton với sự tham gia của các vị vua và quý tộc dưới sự chủ trì bởi Alxandrer Pope và đồng nghiệp, người đã cất lời ca tụng xúc động trước khi rắc đất lên mộ.
    Langdon nhìn sang Sophie: "Lượt truy cập thứ hai đã cho chúng ta chữ Pope chính xác". Ông dừng lại. A. Pope(4).
    Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được A. Pope mai táng.
    Sophie đứng lặng sững sờ.
    Jacques Saunière, bậc thày về chữ nghĩa nước đôi đã lại chứng tỏ một lần nữa rằng ông là một người thông minh dễ sợ.


    Chú thích:
    (1) Hypertext: những đơn vị thông tin riêng rẽ được nối kết với nhau để truy cập dưới dạng không kế tiếp.
    (2) Đoạn này nhiều thuật ngữ chuyên môn về tin học, một số từ như prelog hay postlog chúng tôi để nguyên vì không có điều kiện tra cứu chính xác, không dám đoán mò. Vả chăng, như ta thấy ở câu sau, chính học giả Langdon cũng không hiểu Gettum nói gì nữa là.
    (3) Langdon và Sophie tìm Pope nghĩa là Giáo hoàng mà họ nghĩ là liên quan đến câu thơ "Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng" chứ không tìm Alexander Pope nhà thơ.
    (4) Pope là họ của Alexander và cũng có nghĩa là Giáo hoàng, chính sự đồng âm khác nghĩa này đã gây bối rối lầm lẫn trong việc diễn giải câu thơ đầu tiên từ đầu đến giờ.


    Hết chương 95.

  6. #96
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 96


    Silas choàng tỉnh giấc.
    Hắn không rõ cái gì đã đánh thức hắn hoặc hắn đã ngủ bao lâu rồi. Phải chăng mình đang mơ. Ngồi dậy trên chiếc chiếu rơm, hắn lắng nghe tiếng thở nhẹ nhàng của sảnh chính ngôi nhà Opus Dei, sự im lặng chỉ bị quấy động bởi tiếng lầm rầm khe khẽ của ai đó đang cầu nguyện trong một phòng bên dưới. Đó là những âm thanh thân thuộc và có thể an ủi hắn.
    Tuy nhiên, hắn cảm thấy một sự cảnh giác đột ngột và bất ngờ.
    Đứng dậy, chỉ mặc nguyên đồ lót, Silas bước tới cửa sổ. Ban nãy mình có bị bám theo không nhỉ? Cái sân phía dưới vắng teo, hệt như hắn đã thấy nó khi vào đây. Hắn lắng nghe. Tịch lặng. Vậy tạt sao mình lại lo lắng? Đã từ lâu, Silas đã học cách tin vào trực giác của mình. Trực giác đã giữ mạng sống cho hắn khi còn là một đứa trẻ trên đường phố Marseilles trước khi bị bỏ tù… Trước khi hắn được sinh ra một lần nữa nhờ bàn tay của Giám mục Arigarosa. Ngó ra cửa sổ, giờ hắn nhìn thấy lờ mờ dáng nét của một chiếc xe hơi qua hàng rào. Trên nóc xe là một cái còi cảnh sát. Một tấm ván gỗ kêu cót két ở hành lang. Chốt cửa chuyển động.
    Silas phản ứng theo bản năng, di chuyển qua căn phòng và dừng lại ngay sau cánh cửa khi nó bị xô mạnh và mở ra. Viên sĩ quan cảnh sát đầu tiên xông vào, lia khẩu súng từ trái sang phải vào chỗ có vẻ như một căn phòng trống không. Trước khi anh ta nhận ra Silas đang đứng đâu, Silas đã dùng vai xô cánh cửa rập mạnh vào viên cảnh sát thứ hai đang lao vào. Khi viên sĩ quan thứ nhất quay lại để bắn, Silas nhào người túm lấy chân anh ta. Súng nổ, viên đạn vèo qua trên đầu Silas, đúng lúc hắn vớ được ống chân viên sĩ quan, kéo mạnh và quật anh ta đập đầu xuống sàn nhà. Sĩ quan cảnh sát thứ hai loạng choạng đứng dậy trong khung cửa và Silas huých đầu gối vào háng anh ta, rồi bước qua cái thân hình đang quằn quại đó để lao ra sảnh lớn.
    Gần như trần truồng, Silas lao cái thân hình trắng trợt xuống cầu thang. Hắn biết mình đã bị phản, nhưng bởi ai? Khi hắn tới phòng chờ, nhiều sĩ quan cảnh sát khác đã ập vào qua cửa trước. Silas quay sang hướng khác và lao sâu hơn vào đại sảnh. Lối vào dành cho phụ nữ. Mọi ngôi nhà của Opus Dei đều có một cửa như thế này. Ngoằn ngoèo theo những hành lang hẹp, Silas chạy xuyên một nhà bếp, vượt qua những người làm công hoảng hốt né tránh tên bạch tạng trần như nhộng trong khi hắn va phải bát đĩa và những đồ bạc, lao vào một hành lang tối gần phòng đun nước. Giờ thì hắn đã nhìn thấy cái cửa hắn tìm, một ngọn đèn chỉ lối ra lờ mờ sáng ở cuối đường.
    Chạy hết tốc độ qua cửa ra ngoài trời mưa, Silas nhảy khỏi thềm nghỉ thấp, không nhìn thấy người cảnh sát từ đằng kia chạy tới, khi nhận ra thì đã quá muộn. Hai người va vào nhau, bả vai trần to rộng của Silas xô vào xương ức của người kia với sức mạnh nghiền nát. Hắn xô viên cảnh sát ngã ngửa trên vỉa hè, đè mạnh cả người lên anh ta. Khẩu súng của viên sĩ quan lách cách văng ra xa. Silas có thể nghe thấy nhiều người vừa chạy xuôi hành lang vừa kêu to. Lăn mình, hắn chộp lấy khẩu súng bị rơi, đúng lúc đám cảnh sát xuất hiện. Một tiếng súng vang lên tử phía cầu thang, và Silas cảm thấy đau rát phía dưới xương sườn. Tức điên lên, hắn nổ súng vào cả ba cảnh sát, máu của họ bắn tung toé.
    Một bóng đen lờ mờ phía sau, không biết tử đâu tới. Đôi bàn tay giận dữ túm lấy đôi vai trần của hắn như thể được truyền sức mạnh của chính quỷ Satan. Người đó hét vào tai hắn.
    SILAS, KHÔNG!
    Silas quay lại và bóp cò. Mắt của họ gặp nhau. Silas kêu lên kinh hãi khi Giám mục Arigarosa ngã xuống.


    Hết chương 96.

  7. #97
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 97


    Hơn ba nghìn người được chôn cất hoặc lập miếu thờ trong Tu viện Westminster. Phần bên trong bằng đá rộng mênh mông đầy những di hài của các hoàng đế, chính khách, các nhà khoa học, nhà thơ và nhạc sĩ. Những ngôi mộ của họ, lèn vào từng hốc từng khoang còn lại, đủ các tầm cỡ từ những lăng tẩm vương giả nhất - Lăng của Nữ hoàng Elizabeth với chiếc quan tài đá có trướng rủ ngự trong miếu thờ riêng hình cung có mái vòm - đến những phiến đá lát khiêm nhường nhất mà những chữ khắc trên đó đã bị dấu chân làm mờ hẳn đi qua nhiều thế kỉ, để khách tham quan phải ráng tưởng tượng ra di hài của ai nằm dưới những viên đá lát trong nhà mồ này.
    Thiết kế theo kiểu các nhà thờ lớn của vùng Amiens, Chartres, và Canterbury, Tu viện Westminster không được coi là nhà thờ lớn, cũng chẳng phải nhà thờ xứ. Nó được xếp vào loại Hoàng gia đặc biệt, chỉ trực thuộc Nữ hoàng. Từ khi lễ phong vương của William Người Chinh Phục được tổ chức tại đây vào dịp Giáng sinh năm 1066, thánh đường rực rỡ này đã chứng kiến một loạt bất tận các nghi lễ hoàng gia và các sự kiện quốc gia - từ việc phong thánh cho Edward Cha Rửa Tội, đến hôn lễ của Hoàng tử Andrew và nàng Sarah Ferguson, tới những đám tang của vua Henry V, Nữ hoàng Elizabeth I và Diana, Công chúa xứ Wales.
    Mặc dù vậy, lúc này Robert Langdon cảm thấy không quan tâm gì tới lịch sử cổ xưa nào của tu viện - ngoại trừ một sự kiện - đám tang của hiệp sĩ người Anh Ngài Isaac Newton.
    Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được A. Pope mai táng.
    Hối hả đi qua cổng lớn cánh phía bắc của tu viện, Langdon và Sophie được những người gác lịch sự dẫn qua thiết bị mới nhất của tu viện - một máy dò kim loại rất lớn người đi qua được loại máy hiện có mặt trong hầu hết các toà nhà lịch sử ở London. Cả hai người đi qua máy mà không gây ra một tiếng báo động nào và tiếp tục đi tới lối vào tu viện.
    Bước qua ngưỡng cửa Tu viện Westminster, Langdon cảm thấy thế giới bên ngoài tan biến trong một im lặng đột ngột. Không còn tiếng ầm ầm của xe cộ. Không còn tiếng rào rào của mưa. Chỉ một im lặng inh tai, tựa hồ dộl qua dội lạl, như thể toà nhà đang thì thầm với chính mình.
    Giống như các khách tham quan khác, Langdon và Sophie lập tức ngước mắt nhìn lên trời: ở đó cái vực thẩm tu viện dường như bùng nổ trên đầu. Những cột đá xám vút lên như những cây căm xe, lẫn vào bóng tối, uyển chuyển vồng qua những khoảng không rộng lớn đến chóng mặt, rồi lại đâm thắng xuống nền đá. Phía trước chúng, cánh phía Bắc như một con hẻm rộng trải ra tựa một hẽm núi sâu thầm với những vách đá thẳng đứng hai bên là những tấm kính màu. Trong những ngày trời nắng, nền nhà tu viện giống như một tấm khăn kết nối những mảng ánh sáng đủ các màu sắc cầu vồng. Hôm nay, mưa và bóng tối trùm lên khoảng trũng lớn này một quầng sáng ma quái… ma quái hơn cả cái hầm mộ mà nó thật sự là thế.
    "Gần như trống rỗng", Sophie thì thầm.
    Langdon cảm thấy thất vọng. Ông đã hy vọng là sẽ có đông người hơn nhiều. Một nơi công cộng hơn. Trải nghiệm trước đó trong Nhà Thờ Temple hoang vắng không phải là điều mà Langdon muốn lặp lại. Ông đã dự tiên một cảm giác an toàn ở điểm du lịch nổi tiếng này, nhưng những hồi ức của Langdon về đám đông nhộn nhịp trong một tu viện sáng trưng đã được hình thành trong mùa du lịch cao điểm. Hôm nay là một buổi sáng tháng tư có mưa. Thay vì những đám đông và ánh lung linh của kính màu, Langdon chỉ thấy hàng mẫu sàn đá hoang vu cùng những hốc tối trống rỗng.
    "Chúng ta đã qua những cái máy dò kim loại", Sophie nhắc, rõ ràng cảm nhận thấy nỗi lo âu của Langdon. "Nếu có ai đó ở trong này thì cũng không thể có vũ khí".
    Langdon gật đầu nhưng vẫn cảm thấy phải thận trọng. Ông đã muốn có cảnh sát London đi cùng, nhưng Sophie sợ có người can dự vào nên tránh mọi tiếp xúc với nhà chức trách. Chúng ta cần lấy lại hộp mật mã, Sophie đã nhấn mạnh, đó là chìa khoá cho tất cả mọi thứ.
    Tâ nhiên cô ấy đúng.
    Chìa khoá để cứu sống Leigh Cha khoá để tìm ra Chén Thánh.
    Chìa khoá để khám phá ra ai đứng đằng sau vụ này.
    Khốn thay, cơ may duy nhất của họ để lấy lại viên đá đỉnh vòm dường như chỉ là ở đây và ngay bây giờ… tại ngôi mộ của Isaac Newton.
    Bất cứ ai giữ hộp mật mã sẽ phải tới ngôi mộ để giải mã đầu mối cuối cùng, và nếu như họ vẫn chưa đến và đi khỏi thì Sophie và Langdon chủ định sẽ ngăn chặn họ.
    Sải bước về phía bức tường bên trái để ra khỏi quãng trống, họ đi vào một lối đi bên cạnh mờ tối sau một hàng cột vuông xây nửa chìm nửa nổi vào tường. Langdon không sao xua nổi hình ảnh Leigh Teabing có lẽ đang bị trói chặt ở khoang sau chiếc limousie của chính mình. Dù kẻ ra lệnh giết những người đứng đầu Tu viện Sion là ai, thì họ cũng sẽ không ngần ngại loại trừ những người khác chắn đường họ. Việc Teabing - một hiệp sĩ người Anh thời hiện đại - bị bắt làm con tin trong việc tìm kiếm người đồng hương của ông, Ngài Isaac Newton, có vẻ như một điều mỉa mai tàn nhẫn.
    "Đi lối nào đây?". Sophie nhìn quanh và hỏi.
    Ngôi mộ. Langdon không biết: "Chúng ta nên tìm một người canh mộ để hỏi xem".
    Langdon biết là không nên đi lang thang vô mục đích ở nơi này. Tu viện Westminster là một khu bàn cờ nhằng nhịt những lăng mộ, những phòng vành ngoài và những hốc đặt mộ đủ lớn để bước vào được. Giống như Hành Lang Lớn của Louvre, nó chỉ có một lối vào - cái cửa họ vừa đi qua - vào dễ, khó ra. Một cái bẫy xập theo nghĩa đen đối với du khách, một trong những đồng nghiệp của Langdon, có lần lạc lối, đã gọi nó như vậy. Giữ nguyên kiến trúc truyền thống, tu viện được quy hoạch theo hình một cây thánh giá khổng lồ. Tuy nhiên, khác với hầu hết Các nhà thờ, nó có cửa vào ở bên sườn chứ không theo quy chuẩn mở lối vào ở phần sau nhà thờ qua lối đi rào kín ở cuối gian giữa giáo đường. Ngoài ra, tu viện còn có một loạt hàng hiên trải dài. Chỉ lỡ bước qua nhầm cổng tò vò là khách tham quan sẽ lạc vào một mê cung những đường hẻm bên ngoàỉ với tường cao vây quanh.
    "Các hướng dẫn viên thường mặc áo dài đỏ", Langdon nói và tiến lại gần trung tâm nhà thờ. Nhìn xéo qua ban thờ mạ vàng cao ngất, đến đầu đằng kia cánh phía nam, Langdon thấy mấy người đang bò lổm ngổm. Cái kiểu hành hương trong tư thế phủ phục này thường xảy ra trong Góc Thi nhân, mặc dù nó kém linh thiêng hơn nhiều so với vẻ bề ngoài. Du khách chà xát mộ.
    "Tôi không nhìn thấy người hướng dẫn nào", Sophie nói, có lẽ chúng ta phải tự tìm lấy ngôi mộ".
    Không nói lời nào, Landor dẫn cô thêm vài bước tới trung tâm tu viện và chỉ về phía bên phải.
    Sophie hít một hơi dài sửng sốt khi nhìn suốt chiều dài của gian giữa giáo đường toàn bộ sự hoành tráng của toà nhà bây giờ đã lộ rõ. "A", cô thốt lên, "ta hãy đi tìm một hướng dẫn viên thôi".

    Cùng lúc, cách đó khoảng một trăm mét xuôi gian giữa, khuất sau màn chắn của đội thánh ca, ngôi mộ uy nghi của Ngài Isaac Newton có một du khách lẻ loi. Thầy Giáo đã xem xét kĩ đài tưởng niệm này được mười phút.
    Mộ Newton bao gồm một quan tài đồ sộ bằng đá cẩm thạch đen mặt trên có hình chạm khắc của Ngài Isaac Newton trong trang phục cổ điển, hãnh diện dựa vào chồng sách do chính mình viết ra - Tính thần thánh, Bên niên ký, Quang học, và Triết luận về những nguyên lý tự nhiên của toán học. Dưới chân Isaac Newton có hai thiên thần có cánh đang cầm một cuốn thư.
    Đằng sau thân hình nằm nghiêng của Isaac Newton nhô lên một kim tự tháp nghiêm cẩn. Tuy kim tự tháp đã có vẻ kì dị, nhưng chính cái hình khối to đùng từ kim tự tháp đâm lên nửa chừng mới là điều gợi trí tò mò của Thầy Giáo.
    Một hình cầu.
    Thầy Giáo đã ngẫm nghĩ về câu đố hấp dẫn của Saunière.
    Người kiên tìm trái cầu lẽ ta phải ở trêl nộ chàng. Hình cầu lớn nhô ra từ bề mặt của kim tự tháp được khắc theo kiểu chạm nổi và mô tả tất cả các thiên thể - những chòm sao, những cung Hoàng Đạo, sao chổi, những vì sao và hành tinh. Bên trên là hình ảnh Nữ thần Thiên văn dưới một trời sao.
    Vô số là những hình cầu.
    Trước đó, Thầy Giáo đã tin chắc rằng một khi tìm thấy ngôi mộ, sẽ dễ dàng nhận ra hình cầu nào thiếu vắng. Bây giờ thì ông ta không chắc chắn lắm. Ông ta nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ vũ trụ phức tạp. Có thiếu hành tinh nào không nhỉ? Phải chăng một chòm sao nào đó đã bị khuyết mất một tinh cầu? Ông ta chịu không biết. Cho dù thế, Thầy Giáo vẫn không khỏi ngờ rằng đáp án sẽ gọn ghẽ và đơn giản một cách tài tình - "một hiệp sĩ được một giáo hoàng mai táng". Mình đang tìm kiếm hình cầu nào đây? Chắc chắn một tri thức tiên tiến về vật lý thiên văn chưa phải là điều tiên quyết để tìm ra Chén Thánh.
    Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.
    Sự tập trung của Thầy Giáo bị ngắt quãng bởi một số du khách đang lại gần. Ông ta đút hộp mật mã vào túi quần và nhìn với con mắt cảnh giác khi các du khách đến một cái bàn gần đó, đặt tiền quyên góp vào trong chiếc cốc và lấy thêm đồ chà mộ do tu viện bày ra biếu không. Được trang bị những chiếc bút chì than mới và những tờ giấy dày khổ lớn, họ đi về phía trước của tu viện, có lẽ tới Góc Thi nhân nổi tiếng để tỏ lòng kính trọng đối với Chaucer, Tenryson và Dickens bằng việc cọ thật lực lên mộ của các nhà thứ đó.
    Còn lại một mình, Thầy Giáo lại gần ngôi mộ hơn, rà lại nó từ chân đến đầu. Ông ta bắt đầu từ hình đôi chân có móng vuốt bên dưới chiếc quan tài đá, tiến lên phía trên qua hình khắc nổi Newton, qua những cuốn sách của ông viết về khoa học, qua hai tiểu thiên thần với cuốn thư về toán học, lên đến bề mặt của kim tự tháp, đến hình cầu khổng lồ với những chòm sao và cuối cùng lên đến chiếc tán đầy sao của hốc mộ.
    Hình cầu nào đó lẽ ra phải ở đây… mà lại thiếu vắng?
    Ông ta chạm vào hộp mật mã trong túi quần cứ như thể bằng cách đó, ông ta có thể đoán ra câu trả lời từ hình trụ cẩm thạch gia công của Saunière. Chỉ còn năm chữ cái ngăn cách mình với Chén Thánh.
    Bước tới gần góc bình phong của đội hát thánh ca, ông ta hít một hơi thở sâu và đưa mắt nhìn suốt gian chính diện dài về phía ban thờ chính đằng xa. Tia nhìn của ông ta lướt từ ban thờ mạ vàng xuống cái áo dài đỏ rực của một hướng dẫn viên được hai người nom rất quen đang vẫy lại.
    Langdon và Neveu.
    Bình tĩnh, Thầy Giáo lùi lại hai bước sau tấm bình phong của đội đồng ca. Nhanh đấy. Ông ta đã đoán trước được Langdon và Sophie cuối cùng sẽ giải mã được ý nghĩa bài thơ và tới ngôi mộ của Newton, nhưng điều này xảy ra sớm hơn ông ta tưởng. Hít một hơi thật sâu! Thầy Giáo cân nhắc những lựa chọn của mình. Ông ta đã quen đối phó với những bất ngờ.
    Mình đang giữ hộp mật mã.
    Ông ta thọc tay vào túi quần, chạm vào vật thứ hai đem đến cho ông ta sự tự tin: Khẩu súng lục Medusa. Như đã đoán trước, chiếc máy dò kim loại của tu viện reng lên khi Thầy Giáo đi qua với khẩu súng được giấu kín. Và cũng như đã đoán trước, mấy tay bảo vệ đã lập tức thôi không hỏi gì thêm khi Thầy Giáo quắc mắt phẫn nộ và chìa chứng chỉ đặc biệt của ông ta ra. Chức tước cao bao giờ cũng phải được tôn trọng đúng mực.
    Mặc dù thoạt đầu, Thầy Giáo đã hy vọng sẽ giải quyết hộp mật mã một mình và tránh được những phiền phức bên lề, nhưng bây giờ ông ta cảm thấy sự xuất hiện của Langdon và Neveu lại là một diễn biến đáng đón chào. Xét vì ông ta bất lực không giải nổi ẩn ý trong câu thơ về "hình cầu". Ông ta có thể lợi dụng kiến thức chuyên môn của họ. Xét cho cùng, nếu Langdon đã giải mã được bài thơ để tìm ra ngôi mộ thì hắn cũng có thể biết điều gì đó về hình cầu. Và nếu Langdon biết mật khẩu thì vấn đề sẽ chỉ còn là gây áp lực thích đáng.
    Tất nhiên là không phải ở dây mà ở một nơi riêng tư nào đó.
    Thầy Giáo nhớ lại một bảng thông báo nhỏ mà ông ta đã nhìn thấy trên lối đi vào tu viện. Ngay lập tức, ông ta đã biết địa điểm hoàn hảo để nhử họ đến.
    Bây giờ câu hỏi duy nhất là… lấy cái gì làm mồi đây!


    Hết chương 97.

  8. #98
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 98


    Langdon và Sophie chậm rãi theo lối đi bên cạnh phía Bắc, cố giữ không ra khỏi bóng tối sau hàng cột lớn bằng cẩm thạch ngăn cách lối đi này với gian chính diện trống trải. Mặc dù đã đi được hơn nửa gian giữa nhưng họ vẫn chưa nhìn thấy thật rõ phần mộ của Newton. Chiếc quan tài đá được đặt thụt vào trong một hốc tường và khuất tầm nhìn từ góc nghiêng này.
    "Chí ít cũng không có ai ở đó", Sophie thì thầm.
    Langdon gật đầu, nhẹ nhõm. Không có ai trong toàn bộ gian chính điện gần phần mộ của Newton. "Tôi sẽ tới đó", ông thì thầm, "cô nên tiếp tục nấp kín đề phòng trường hợp có ai đó đang theo dõi".
    Sophie đã bước ra khỏi bóng tối và đi ngang qua mặt sàn trống.
    Langdon thở dài, vội vàng đi theo cô.
    Đi xéo qua gian chính điện lớn, Langdon và Sophie vẫn im lặng trong khi phần mộ tinh xảo lộ ra mỗi lúc một thêm trêu ngươi… một chiếc quan tài cẩm thạch đen… một bức tượng nằm của Newton… hai thiên thần có cánh… một kim tự tháp to đùng… và… một hình cầu lớn.
    "Anh đã biết về điều này chưa?". Sophie nói, giọng ngỡ ngàng.
    Langdon cũng ngạc nhiên lắc đầu.
    "Những thứ này trông giống như những chòm sao được chạm trồ trên đó", Sophie nói.
    Khi họ lại gần hốc mộ, Langdon có cảm giác như đang chìm dần. Bao phủ ngôi mộ của Newton toàn là những hình cầu - những vì sao, những ngôi sao chổi, những hành tinh.
    Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng? Khác nào bắt tìm một lá cỏ bị mất trên cả một sân gôn.
    "Những thiên thể thiên văn học", Sophie nói, vẻ băn khoăn, "sao mà lắm thế".
    Langdon cau mày. Mối liên hệ duy nhất giữa các hành tinh và Chén Thánh mà Langdon có thể tưởng tượng được là hình năm cánh của Sao Kim, và trên đường tới Nhà thờ Temple, ông đã thử mật khẩu "Sao Kim" rồi.
    Sophie tới thắng chiếc quan tài đá nhưng Langdon lùi lại mấy bước trong khi vẫn để mắt quan sát tu viện xung quanh.
    "Tính thần thánh", Sophie nói, nghiêng đầu đọc đầu đề những quyển sách mà Newton dựa vào, "Biên niên ký, Quang học, và Triết luận về những nguyên lý tự nhiên của toán học?". Cô quay lại phía Langdon: "Anh có nhận ra gợi ý nào không?".
    Langdon bước lại gần hơn và xem xét: "Những nguyên lý toán học, như tôi nhớ thì có cái gì đó liên quan đến lực hấp dẫn của các hành tinh… những hành tinh này được thừa nhận là những hình cầu nhưng dường như có một chút gượng ép".
    "Còn những cung Hoàng đạo này thì sao?", Sophie nói, chỉ vào những chòm sao trên hình cầu. "Lúc nãy anh nói đến cung Song Ngư và cung Bảo Bình, phải không?".
    Ngày tận thế! Langdon nghĩ: "Kết thúc cung Song Ngư và bắt đầu cung Bảo Bình được coi là cái mốc lịch sử đánh dấu thời điểm mà Tu viện Sion định công bố những tài liệu Sangreal ra với thế giới". Nhưng thiên niên kỷ mới đã đến và đi mà chẳng có gì xảy ra cả, khiến các sử gia hoang mang không biết khi nào thì sự thật sẽ đến.
    "Xem ra có thể là kế hoạch tiết lộ sự thật của Tu viện Sion liên quan đến dòng cuối cùng của bài thơ", Sophie nói.
    Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.
    Langdon cảm thấy rùng mình. Trước đó, ông đã không xem xét dòng thơ này theo cách như vậy.
    "Anh đã nói với tôi trước đây", Sophie nói, "rằng thời điểm Tu Viện Sion dự định sẽ tiết lộ sự thật về "Hoa Hồng" và "tử cung mang hạt giống" có mối liên hệ trực tiếp với vị trí của các hành tinh - những trái cầu".
    Langdon gật đầu, cảm thấy những ý sơ khởi lờ mờ đang dần trở nên rõ nét. Mặc dầu thế, trực giác vẫn mách ông rằng thiên văn học không phải là chìa khoá. Những đáp án trước đó của vị Đại Sư đều có ý nghĩa tượng trưng đầy sức thuyết phục - Mona Lisa, Madonna bên núi đá, SOFIA. Sức thuyết phục này dứt khoát không có trong khái niệm về những hành tinh hình cầu và các Cung Hoàng Đạo. Cho tới giờ, Jacques Saunière luôn chứng tỏ mình là một người viết mật mã rất tỉ mỉ, và Langdon buộc phải tin rằng mật khẩu cuối cùng của ông - năm chữ cái sẽ mở ra bí mật tối hậu của Tu viện Sion - sẽ không chỉ phù hợp về mặt biểu tượng mà còn phải rõ ràng như pha lê nữa. Nếu lời giải này có gì giống với những lời giải khác thì nó ắt sẽ rành rành đến độ nhức nhối ngay khi nó mới hé lộ.
    "Nhìn này!" Sophie thở hổn hển, ngắt ngang những suy nghĩ của Langdon khi cô túm lấy cánh tay ông. Bằng vào nỗi sợ mà Langdon cảm thấy qua bàn tay cô túm chặt, ông ngỡ là ai đó đang tiến lại gần nhưng khi ông quay lại phía Sophie, cô đang kinh hãi nhìn trân trân vào mặt quan tài cẩm thạch đen. "Ai đó đã ở đây…", cô thì thầm và chỉ vào một vết trên chiếc quan tài đá gần chân phải của Newton.
    Langdon không hiểu được sự lo lắng của Sophie. Một du khách đã vô ý để lại một cây bút chì than chà mộ trên nắp quan tài đá gần chân của Newton. Có gì đâu. Langdon với tay định nhặt nó lên, nhưng khi ông cúi mình về phía chiếc quan tàì đá thì ánh sáng chuyển dịch trên phiến đá cẩm thạch đen bóng và Langdon như đông cứng lại. Ông chợt nhận ra tại sao Sophie lại sợ hãi.
    Ánh lên lờ mờ rất khó thấy trên nắp quan tài đá, ở chỗ chân Newton, là một lời nhắn viết nguệch ngoạc bằng bút chì than.
    Ta đang có Teabing, Đi qua Nhà Nguyện.
    Theo lối ra phía Nam, tới khu vườn công cộng.
    Langdon đọc hai lần, tim đập thình thình.
    Sophie quay lại và đưa mắt rà khắp gian chính điện.
    Mặc dù cảm thấy toàn thân run lên khi nhìn thấy những dòng chữ đó, Langdon tự nhủ đây chính là tin tốt lành. Leigh vẫn còn sống. Còn có một hàm ý khác nữa ờ đây: "Chúng cũng không biết mật khẩu", ông thì thầm.
    Sophie gật đầu. Nếu không tội gì chúng phải bộc lộ sự hiện diện của mình?
    "Có thể chúng muốn đổi Leigh lấy mật khẩu".
    "Hoặc đó là một cái bẫy".
    Langdon lắc đầu. "Tôi không nghĩ vậy. Khu vườn nằm bên ngoài những bức tường tu viện. Một nơi rất đông đúc".
    Langdon đã từng thăm Khu Vườn nổi tiếng của trường Đại học thuộc tu viện - một vườn cây ăn quả và thảo dược nhỏ - còn lại từ những ngày các thầy tu trồng các phương thuốc dược liệu tự nhiên ở đây. Với những cây ăn quả sống lâu nhất ở nước Anh, Khu Vườn của trường Đại học là một địa điểm nổi tiếng cho du khách tới thăm mà không phải vào trong tu viện. "Tôi nghĩ chúng đề nghị ta ra bên ngoài là cách bày tỏ sự tin cậy. Như vậy để chúng ta cảm thấy an toàn".
    Sophie có vẻ ngờ vực: "Ông muốn nói rằng ở bên ngoài, nơi không có máy dò kim loại?".
    Langdon cau mày. Cô ấy có lý.
    Quay lại nhìn đăm đăm vào ngôi mộ đầy những hình cầu, Langdon ước gì mình biết được chút gì về mật khẩu… một cái gì đó làm vốn để đàm phán. Mình đã làm Leigh dính líu vào chuyện này, và mình sẽ làm bất cứ điều gì nếu có cơ hội giúp đỡ ông ấy.
    "Lời nhắn nói rằng phải đi qua Nhà Nguyện đến lối ra phía Nam", Sophie nói. "Liệu chúng ta có thể nhìn thấy khu vườn từ lối ra này không? Bằng cách đó, chúng ta có thể đánh giá tình hình trước khi bước ra và phơi mình trước nguy hiểm".
    Đây là một ý hay. Langdon nhớ mang máng rằng Nhà Nguyện là một đại sảnh hình bát giác rộng lớn - nơi hội họp của Nghị viện Anh trước khi có Toà nhà Nghị viện hiện đại. Đã nhiều năm rồi kể từ ngày ông tới đó, nhưng ông nhớ nó ở đâu đó bên ngoài khu nhà tu kín. Lùi lại khỏi ngôi mộ vài bước, Langdon nhìn quanh bức bình phong của đội hát thánh ca ở bên phải, ngang qua gian giữa tới phía đối diện - tới chỗ họ đã đi xuống.
    Có một lối đi gần đó, với một bảng chỉ dẫn lớn.
    "ĐƯỜNG NÀY DẪN TỚI:
    CÁC HÀNG HIÊN
    NHÀ Ở CỦA TU VIỆN TRƯỞNG
    ĐẠI SẢNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
    NHÀ BẢO TÀNG
    PHÒNG CHÉN BÁNH THÁNH
    NHÀ NGUYỆN THÁNH FAITH
    NHÀ NGUYỆN"
    Langdon và Sophie chạy qua bên dưới bảng chỉ dẫn, quá nhanh nên không trông thấy lời thông báo nhỏ xin lỗi rằng khoảng đất nhỏ này đang bị đóng cửa để sửa chữa.
    Họ lập tức ra tới một cái sân có tường cao với mái mở qua đó cơn mưa buổi sáng trút xuống. Phía trên họ, gió hú lên từng hồi qua khoảng mở ở mái như ai đó đang thổi qua miệng một cái chai. Đi vào con đường đi bộ hẹp thấp men theo chu vi cáỉ sân, Langdon cảm thấy nỗi bất an quen thuộc luôn luôn xâm chiếm ông trong những không gian bị bao kín. Những lối đi này được gọi là cloister (hàng hiên) và Langdon bồn chồn nhận thấy những cloister đặc biệt này tỏ ra tương xứng với gốc La tinh của chúng: claustrophobic - chứng sợ nơi khép kín.
    Tập trung tâm trí tiến thẳng về phía cuối đường hầm, Langdon theo những biển chỉ dẫn để tới Nhà Nguyện. Lúc này chỉ mưa lất phất và lối đi bộ thì lạnh và ẩm với những cơn gió tạt mưa qua bức tường dài có cột là nguồn ánh sáng duy nhất cho "hàng hiên". Một cặp khác chạy ngược lại qua họ, vội vã trốn khỏi thời tiết mỗi lúc một xấu hơn. Các hàng hiên lúc này trông vắng ngắt, phải thửa nhận đây là khu ít hấp dẫn nhất của tu viện trong mưa gió.
    Xuôi theo hàng hiên phía đông khoảng bốn mươi mét, bên trái họ hiện ra một cổng tò vò, mở lối vào một hành lang khác.
    Mặc dù đây là lối vào mà họ đang tìm, nhưng chỗ này lại bị phong tỏa bởi một dây hoa lá chăng ngang và một bảng chỉ dẫn trông khá chính quy:
    "ĐÓNG CỬA ĐỂ NÂNG CẤP
    PHÒNG CHÉN BÁNH THÁNH
    NHÀ NGUYỆN THÁNH FAITH
    NHÀ NGUYỆN"
    Dãy hành lang dài vắng ngắt bên kia dây chắn ngổn ngang những giàn giáo và những mảnh vải vứt vương vãi. Ngay bên kia dây chắn, Langdon có thể nhìn thấy lối vào phòng Chén Bánh Thánh và Nhà Thờ Thánh Faith ở bên phải và bên trái.
    Tuy nhiên, lối vào Nhà Nguyện lại khá xa, ở tận cuối hành lang dài. Thậm chí từ đây, Langdon vẫn có thể nhìn thấy cái cửa gỗ nặng nề được mở rộng và nội thất hình bát giác thênh thang tắm trong thứ ánh sáng tự nhiên xam xám tràn vào từ những cửa sổ lớn nhìn ra Vườn Đại học. Đi qua Nhà Nguyện. Theo lối ra phía Nam, tới khu vườn công cộng.
    "Chúng ta vừa rời khỏi hàng hiên phía Đông", Langdon nói, "Vậy lối ra phía Nam tớỉ khu vườn hẳn phải qua đó và ở bên phải".
    Sophie đã bước qua đống đồ và đi tiếp về phía trước.
    Khi họ rảo bước đi xuôi theo hành lang tối om, tiếng mưa gió tử hàng hiên trống nhỏ dần sau họ. Nhà Nguyện là một thứ công trình vệ tinh - một nhà phụ không cố định ở cuối hành lang dài để đảm bảo sự bí mật của những cuộc họp Nghị viện ở đó "Trông đồ sộ nhỉ", Sophie thì thầm khi họ đến gần.
    Langdon đã quên căn phòng này rộng như thế nào. Thậm chí từ bên ngoài lối vào, ông có thể nhìn vượt qua khoảng rộng của nền nhà tới những cửa sổ hùng vĩ ở cạnh xa hình bát giác, cao tới năm tầng đến tận trắn hình vòm. Chắc chắn, từ đây họ có thể nhìn rất rõ ra khu vườn.
    Bước qua ngưỡng cửa, cả Langdon và Sophie phải nheo mắt lại. Sau những hàng hiên tăm tối, Nhà Nguyện tựa như một nhà dưỡng bệnh bằng ánh sáng mặt trời. Họ tiến sâu vào trong ba - bốn mét, tìm bức tường phía nam cho đến khi họ nhận ra rằng cái cửa mà họ đã được hứa hẹn không có ở đó.
    Họ đang đứng ở một ngõ cụt khổng lồ.
    Tiếng kẽo kẹt của một cánh cửa nặng phía sau khiến họ quay lại vừa lúc nó đóng đánh thịch và cái chốt sập xuống.
    Người đàn ông đứng một mình sau cánh cửa trông trầm tĩnh khi ông ta chĩa một khẩu súng lục nhỏ vào họ. Ông ta có vẻ oai nghiêm và tựa trên một đôi nạng nhôm.
    Trong giây phút, Langdon nghĩ hẳn là mình đang mơ.
    Đó là Leigh Teabing.


    Hết chương 98.

  9. #99
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 99


    Ngài Leigh Teabing cảm thấy rầu rĩ khi phóng mắt bên trên nòng khẩu Medusa nhìn Robert Langdon và Sophie Neveu. "Các bạn", ông ta nói, "kể từ lúc các bạn bước vào nhà tôi đêm qua, tôi đã làm tất cả trong phạm vi quyền lực của mình để giữ cho các bạn được an toàn. Nhưng sự cố chấp của các bạn giờ đây đã đặt tôi vào một tình thế khó khăn".
    Ông ta có thể thấy trên mặt Sophie và Langdon vẻ choáng váng vì bị phản bội, tuy nhiên ông ta tin rằng cả hai sẽ sớm hiểu ra cái chuỗi sự kiện đã dẫn cả ba người bọn họ đến ngã ba tắc tị này.
    "Có quá nhiều điều tôi phải nói với cả hai người … nhiều điều các bạn chưa hiểu. "Xin hãy tin tôi", Teabing nói, "tôi chưa bao giờ có ý định để các bạn dính líu vào. Các bạn đã đến nhà tôi. Chính các bạn đã đến tìm tôi".
    "Leigh?", Cuối cùng Langdon cũng nói được. "Ngài đang làm cái quỉ gì vậy? Chúng tôi tưởng ngài đang gặp rắc rối. Chúng tôi đến đây để giúp ngài!".
    "Đúng như tôi tin là anh sẽ làm thế…", Teabing nói. "Chúng ta có nhiều điều để bàn".
    Langdon và Sophie dường như không thể rời cái nhìn kinh ngạc của mình khỏi khẩu súng lục đang nhằm vào họ.
    "Chỉ cốt đảm bảo là các người phải chú ý đầy đủ thôi", Teabing nói, "Nếu tôi muốn gây hại thì các người đã chết từ bao giờ rồi. Đêm qua khi các người vào nhà tôi, tôi đã liều tất cả để cứu sinh mạng của các người. Tôi là một người trọng danh dự và tôi nguyền trong sâu thẳm lương tâm mình rằng tôi chỉ hiến sinh những kẻ đã phản bội Sangreal".
    "Ông đang nói về cái gì vậy?". Langdon nói. "Phản bội Sangreal ư?".
    "Tôi đã khám phá ra một sự thật khủng khiếp", Teabing thở dài, nói, "tôi đã biết tại sao những tài liệu Sangreal không bao giờ được phơi bày với thế giới. Tôi biết rằng cuối cùng, Tu viện Sion đã quyết định không công bố sự thật. Đó là lý do tại sao một thiên niên kỉ đã qua đi mà không có bất kì chuyện gì được tiết lộ không có chuyện gì xảy ra khi chúng ta bước vào Ngày Tận Thế".
    Langdon hít một hơi, định phản đối.
    "Tu viện Sion", Teabing tiếp tục, "được giao trách nhiệm thiêng liêng để chia sẻ sự thật, để công bố những tài liệu Sangreal khi Ngày Tận Thế đến. Trong nhiều thế kỉ, những người như Da Vinci, Botticelli và Newton, đã bất chấp tất cả để bảo vệ những tài liệu đó và thực hiện trọng trách đó. Và giờ đây, vào thời điểm tối hậu của sự thật thì Jacques Saunière lại thay đổi ý định. Con người được vinh dự gánh trách nhiệm vĩ đại nhất trong lịch sử Cơ đốc giáo đó đã trốn tránh bổn phận của mình. Ông ta quyết định rằng thời điểm này là không thích hợp". Teabing quay sang Sophie. "Ông ta đã phụ Chén Thánh. Ông ta đã phụ Tu viện Sion và ông ta đã phụ hương hồn của tất cả các thế hệ đã tốn bao công sức để thời điểm này có thể tới".
    "Là ông sao?". Sophie tuyên bố, ngước lên, đôi mắt xanh như khoan vào Teabing, giận điên lên khi vỡ lẽ ra. "Ông là kẻ chủ mưu giết ông tôi?".
    Teabing mỉa mai: "Ông cô và các ssénéchal của ông ta là những kẻ phản bội lại Chén Thánh".
    Sophie cảm thấy một nỗi cuồng giận dâng lên từ đáy lòng.
    Ông ta nói dối!
    Giọng Teabing tàn nhẫn: "Ông cô và các ssénéchal của ông ta đã bán mình cho Giáo hội. Hiển nhiên là họ đã gây áp lực để bắt ông ta giữ bí mật".
    Sophie lắc đầu: "Giáo hội không có chút ảnh hưởng nào đối với ông tôi!".
    Teabing cười lạnh lùng: "Cô bạn thân mến của tôi ơi, Giáo hội có hai nghìn năm kinh nghiệm trong việc gây áp lực với những người đe doạ vạch trần những lời dối trá của họ. Kể từ thời Constantine, Giáo hội đã thành công trong việc bưng bít sự thật về Mary Magdalene và Jesus. Chúng ta không nên ngạc nhiên rằng giờ đây, một lần nữa họ lại tìm ra cách để giữ sao cho thế giới vẫn mù tịt. Giáo hội có thể thôi không dùng thập tự quân để tàn sát những người không theo đạo nữa, nhưng sự ảnh hưởng của họ vẫn không kém thuyết phục. Không kém xảo quyệt".
    Ông ta dừng lại như để nhấn mạnh ý tiếp theo của mình. "Cô Neveu, trong một khoảng thời gian gần đây, ông cô đã muốn nói cho cô biết sự thật về gia đình cô".
    Sophie sửng sốt: "Làm sao ông biết được điều đó?".
    "Phương pháp của tôi là phi vật thể. Điều quan trọng cô cần nắm biết ngay bây giờ là thế này". Ông ta hít sâu. "Cái chết của mẹ cô, cha cô, bà cô và anh trai cô không phải là tai nạn".
    Câu nói làm cảm xúc của Sophie quay cuồng. Cô mở miệng định nói nhưng không thể.
    Langdon lắc đầu: "Ông đang nói gì vậy?".
    "Robert, điều đó giải thích mọi thứ. Tất cả các mảnh chắp vừa khít. Lịch sử lặp lại. Giáo hội có tiền lệ sát nhân khi cần ỉm tài liệu Sangreal đi. Với việc Ngày Tận Thế có thể sắp đến, việc giết những người thân yêu của Đại Sư đã truyền đi một thông điệp rất rõ ràng. Hãy im lặng kẻo ông và Sophie sẽ là người tiếp theo".
    "Đó là một tai nạn xe hơi", Sophie lắp bắp, cảm thấy nỗi đau thời thơ ấu dâng ngập lòng mình. "Một tai nạn!".
    "Những truyện kể lúc đi ngủ để bảo vệ sự ngây thơ của cô", Teabing nói."Hãy lưu ý rằng chỉ hai thành viên trong gia đình là không bị đụng đến - Đại Sư của Tu viện Sion và đứa cháu gái duy nhất của ông ta - một bộ đôi hoàn hảo để Giáo hội nắm lấy nhằm kiểm soát hội kín này. Tôi chỉ có thể tưởng tượng sự khủng bố mà Giáo hội đã treo trên đầu ông cô suốt nhiều năm qua, đe doạ sẽ giết cô nếu ông ta dám công bố bí mật Sangreal, đe doạ kết thúc công việc mà họ đã bắt đầu, trừ phi Saunière dùng ảnh hưởng của mình ép Tu viện Sion xét lại lời nguyền xưa".
    "Leigh", Langdon cãi, rõ ràng lúc này đã bực, "chắc chắn ông không có bằng chứng gì rằng Giáo hội liên quan đến những cái chết này, hoặc Giáo hội gây ảnh hướng để khiến Tu viện Sion họ quyết định giữ im lặng".
    "Bằng chứng ư?", Teabing quặc lại. "Anh muốn bằng chứng rằng Tu viện Sion đã bị ảnh hưởng ư? Thiên niên kỷ mới đã đến nhưng thế giới vẫn chẳng biết gì! Điều đó không đủ là bằng chứng sao?".
    Trong dư âm những lời của Teabing, Sophie nghe thấy một giọng khác đang nói. Sophie, ta phải nói với con sự thật về gia đình con. Cô nhận ra mình đang run rẩy. Liệu đây có phải là sự thật mà ông cô muốn nói với cô? Rằng gia đình cô đã bị sát hại? Cô thực sự đã biết gì về vụ tai nạn đã cướp đi cả gia đình cô? Chỉ là những chi tiết sơ sài. Cả những bài trên báo chí cũng mơ hồ.
    Một vụ tai nạn ư? Những truyện kể lúc đi ngủ ư? Sophie chợt nhớ lại sự quan tâm bảo vệ thái quá của ông cô - hồi cô còn nhỏ ông không bao giờ ưng để cô một mình. Thậm chí ngay cả khi Sophie đã lớn và vào đại học, cô vẫn có cảm giác là ông cô đang để mắt đến cô. Cô tự hỏi liệu có những thành viên của Tu viện Sion suốt đời chăm sóc cô trong bóng tối hay không.
    "Ông ngờ là ông ấy bị điều khiển ư?". Langdon nói, nhìn trừng trừng vào Teabing, đầy hồ nghi. "Nên ông đã giết ông ấy?".
    "Tôi không bóp cò súng", Teabing nói, "Saunière đã chết nhiều năm trước, khi Giáo hội đã cướp mất gia đình ông ấy.
    Ông ta bị buộc phải thoả hiệp. Giờ đây ông ấy được giải phóng khỏi nỗi đau đó, giải thoát khỏi nỗi hổ thẹn do bất lực không thực hiện được bổn phận thiêng liêng của mình. Hãy xem xét khả năng lựa chọn. Một điều gì đó cần phải được thực hiện. Lẽ nào cứ để thế giới mãi mãi không biết gì? Có nên để Giáo hội được phép cố định vĩnh viễn tất cả những lời dối trá đó trong những cuốn sách lịch sử của chúng? Có nên để Giáo hội được phép gây ảnh hưởng vô thời hạn bằng giết người và tống tiền?
    Không, một điều gì đó cần được làm sáng tỏ! Và giờ đây, chúng ta đang ở tư thế sẵn sàng thực hiện di sản của Saunière và chữa lại điều sai trái khủng khiếp". Ông ta dừng lại. "Cả ba chúng ta. Cùng nhau".
    Sophie chỉ cảm thấy hoài nghi: "Làm sao ông có thể tin rằng chúng tôi sẽ giúp đỡ ông?".
    "Bởi vì, cô bạn thân mến của tôi ơi, cô chính là lý do khiến Tu viện Sion không công bố được những tài liệu. Tình yêu của ông cô dành cho cô đã ngăn ông không dám thách thức Giáo hội. Nỗi sợ sự trả đũa nhằm vào thành viên duy nhất của gia đình đã làm ông tê liệt. Ông chưa bao giờ có cơ hội giải thích sự thật, bởi vì cô đã chối bỏ ông, trói tay ông khiến ông ta phải chờ đợi. Giờ đây cô nợ thế giới sự thật đó. Cô nợ hương hồn ông cô".

    Robert Langdon đã thôi không cố gắng định hướng nữa. Mặc dù cả một thác lũ câu hỏi ào ào trong đầu, ông biết rằng giờ đây chỉ có một điều quan trọng - đưa Sophie sống sót rời khỏi đây. Tất cả mặc cảm tội lỗi mà trước đó, do ngộ nhận, Langdon đã cảm thấy đối với Teabing, giờ đây đã chuyển sang đối với Sophie.
    Mình đã đưa cô ấy đến Château Villete. Mình phải chịu trách nhiệm.
    Langdon không thể lường được liệu Leigh Teabing có thể lạnh lùng giết họ ngay ở đây, trong Nhà Nguyện hay không, tuy nhiên, Teabing chắc chắn đã dính líu đến việc giết những người khác trong cuộc truy tìm sai lầm của ông ta. Langdon có cái cảm giác bất an rằng súng nổ trong căn phòng biệt lập, tường dày này sẽ không ai nghe thấy, đặc biệt giữa lúc trời mưa như thế này. Và Leigh vừa mới thừa nhận tội với chúng ta.
    Langdon liếc nhìn Sophie, trông cô run rẩy. Có phải Giáo hội đã giết gia đình Sophie để bịt miệng Tu viện Sion? Langdon cảm thấy chắc chắn rằng Giáo hội hiện đại không giết người. Hẳn phải có một cách giải thích nào khác.
    "Hãy để Sophie đi", Langdon tuyên bố, nhìn Leigh chằm chằm, "Ông và tôi nên bàn riêng chuyện này".
    Teabing phát ra một tiếng cười không tự nhiên: "Tôi e rằng đó là một sự biểu thị lòng tin mà tôi không thể làm. Tuy nhiên, tôi có thể đưa cho anh cái này". Dựa cả người lên đôi nạng, vẫn thô lỗ chĩa khẩu súng vào Sophie, Teabing lấy viên đá đỉnh vòm ra khỏi túi quần. Ông ta hơi lảo đảo một chút khi đưa nó cho Langdon. "Dấu hiệu của sự tin cậy, Robert".
    Robert cảm thấy cảnh giác và không cử động. Leigh đang trả lại viên đá đỉnh vòm cho chúng ta?
    "Cầm lấy", Teabing nói, đẩy viên đá đỉnh vòm về phía Langdon một cách vụng về.
    Langdon chỉ có thể tưởng tượng ra một lý do duy nhất khiến Teabing trả lại viên đá đỉnh vòm: "Ông đã mở nó ra rồi và lấy đi tấm bản đồ".
    Teabing lắc đầu: "Robert, nếu tôi đã giải mã được viên đá đỉnh vòm thì tôi đã biến khỏi đây để tự đi tìm Chén Thánh, không để các người dính líu vào. Không, tôi không biết câu trả lời. Và tôi có thể thừa nhận điều đó thoả mái. Một hiệp sĩ chân chính phải học lấy tính khiêm tốn trước Chén Thánh. Học tuân theo những dấu hiệu đặt ra trước bản thân mình. Khi tôi nhìn thấy anh đi vào Tu viện, tôi đã hiểu. Anh có mặt ở đây vì một lí do. Để giúp đỡ. Tôi không tìm kiếm niềm vinh quang riêng ở đây. Tôi phục vụ một người chủ vĩ đại hơn nhiều so với niềm kiêu hãnh cá nhân. Sự thật. Loài người xứng đáng được biết sự thật đó. Chén Thánh đã tìm thấy cả ba chúng ta và giờ đây Chén Thánh cầu xin được phơi bày. Chúng ta phải làm việc cùng nhau".
    Mặc dù miệng Teabing đang khẩn cầu hợp tác và tin cậy, súng của ông ta vẫn nhằm vào Sophie khi Langdon bước tới nhận lấy hình trụ bằng cẩm thạch giá lạnh. Dấm ở bên trong ùng ục khi Langdon nắm lấy nó và lùi lại phía sau. Các đĩa chữ vẫn lộn xộn và hộp mật mã vẫn khoá.
    Langdon nhìn Teabing: "Làm sao ông biết tôi sẽ không đập tan nó ngay lập tức?".
    Tiếng cười của Teabing nghe thật kì quái: "Lẽ ra tôi đã phải nhận ra sự đe doạ đập vỡ nó của anh trong Nhà thờ Temple chỉ là một lời đe doạ suông. Robert Langdon ắt không bao giờ đập viên đá đỉnh vòm. Robert, anh là một sử gia. Anh đang giữ chìa khoá mở hai nghìn năm lịch sử - chiếc chìa thất lạc để mở bí mật Sangreal. Anh có thể cảm thấy linh hồn của tất cả các hiệp sĩ bị thiêu cháy trên cột để bảo vệ bí mật của bà. Anh sẽ để họ chết uổng ư? Không. Anh sẽ minh oan cho họ. Anh sẽ gia nhập hàng ngũ những con người vĩ dại mà anh mơ ước từ lâu Da Vinci, Botticelli, Newton - mỗi người trong số họ ắt lấy làm vinh dự nếu được ở vị thế của anh lúc này. Cái nằm bên trong viên đá đỉnh vòm đang kêu gọi chúng ta. Nó khao khát được tự do. Thời điểm đã đến. Số mệnh đã dẫn chúng ta đến thời điểm này".
    Tôi không thể giúp ông, Leigh. Tôi không biết làm thế nào để mở được hộp mật mã này. Tôi chỉ mới thấy ngôi mộ của Newton một lát thôi, và thậm chí nếu tôi biết được mật khẩu…". Langdon dừng lại, nhận ra rằng mình đã nói quá nhiều.
    "Anh cũng sẽ không nói cho tôi chứ gì?". Teabing thở dài. "Robert, tôi thất vọng và ngạc nhiên rằng anh không đánh giá đúng anh chịu ơn tôi đến mức nào. Nhiệm vụ của tôi sẽ đơn giản hơn biết bao nếu Rémy và tôi đã thủ tiêu hai người khi các người đến Château Villitte. Thay vào đó, tôi đánh liều tất cả để chọn con đường cao thượng hơn".
    "Cái này là cao thượng ư?". Langdon hỏi, nhìn khẩu súng.
    "Lỗi tại Saunière", Teabing nói. "Ông ta và các ssénéchal của ông ta đã nói dối Silas. Nếu không thì tôi đã giành được viên đá đỉnh vòm mà không có bất kì sự rắc rối nào. Làm sao tôi tưởng tượng được là vị Đại Sư lại đi đến chỗ lừa dối tôi và truyền viên đá đỉnh vòm lại cho cô cháu gái đã khước từ ông?".
    Teabing nhìn Sophie với thái độ khinh bỉ. "Một người không đủ trình độ nắm được kiến thức này đến nỗi phải cần một nhà kí tượng học làm bảo mẫu". Teabing lại liếc nhìn Langdon. "May mắn thay, Robert, việc anh vào cuộc hoá ra lại là một ân sủng đối với tôi. Thay vì để viên đá đỉnh vòm vmh viễn bị khoá chặt trong cái Ngân hàng Ký thác đó, anh đã lấy được nó ra và xộc đến nhà tôi".
    Mình còn có thể chạy đi đâu được nữa? Langdon nghĩ. Cộng đồng các sử gia về Chén Thánh quá ít ỏi, mà Teabing và mình thì đã từng làm việc cùng nhau.
    Lúc này trông Teabing thật tự mãn: "Khi nghe tin Saunière để lại cho các người một lời trối trăng, tôi biết rõ rằng các người đang nắm giữ thông tin đầy giá trị về Tu viện Sion. Liệu đó chính là viên đá đỉnh vòm, hay là thông tin về nơi cất giấu nó, tôi không chắc lắm. Nhưng với việc cảnh sát truy nã các người ráo riết thì tôi trộm nghĩ là các người có thể sẽ phải đến ngưỡng cửa nhà tôi".
    Langdon quắc mắt: "Còn nếu chúng tôi không đến thì sao?".
    "Tôi đã vạch một kế hoạch để chìa tay ra giúp đỡ anh. Bằng cách này hay cách khác, viên đá đỉnh vòm cũng tới Château Villette. Việc anh giao nó vào bàn tay chờ đợi của tôi đã chứng tỏ rằng sự nghiệp của tôi là chính nghĩa".
    "Cái gì?", Langdon kinh hoàng.
    Silas có nhiệm vụ đột nhập vào và đánh cắp viên đá đỉnh vòm từ anh ở Château Villette - bằng cách đó, gạt hai người ra ngoài cuộc mà không gây thương tổn và miễn trừ cho tôi mọi nghi ngờ về tội đồng loã. Tuy nhiên, khi tôi thấy những mật mã của Saunière quá rắc rối, tôi bèn quyết định giữ cả hai người tham gia cuộc tìm kiếm lâu hơn chút nữa. Tôi có thể sai Silas ăn cắp viên đá đỉnh vòm sau đó, một khi tôi biết đủ thông tin để tiến hành công việc một mình".
    "Nhà Thờ Temple", Sophie nói, giọng cô tràn ngập cảm giác bị phản bội.

    Ánh sáng bắt đầu ló dạng, Teabing nghĩ. Nhà Thờ Temple là địa điểm hoàn hảo để đánh cắp viên đá đỉnh vòm từ Robert và Sophie, và việc nó có vẻ ứng hợp với bài thơ đã biến nó thành một mồi nhử hợp lý. Lệnh cho Rémy là rõ ràng - không ra mặt trong khi Silas thu hồi viên đá đỉnh vòm. Rủi thay, lời đe doạ của Langdon đập viên đá đỉnh vòm trên sàn nhà nguyện đã làm cho Rémy hoảng sợ. Giá như Rémy đã không lộ diện, Teabing tiếc nuối nghĩ nhớ lại màn kịch giả vờ bắt cóc chính ông ta.
    Rémy là mắt xích duy nhất đối với mình và hắn đã lộ mặt! May thay, Silas đã không nhận ra nhân thân thực sự của Teabing và dễ dàng bị lừa vào vai trò áp giải ông ta ra khỏi nhà thờ và rồi ngây thơ đứng nhìn trong khi Rémy giả bộ trói con tin của họ ở phía sau chiếc limousine. Với tấm vách ngăn cách âm được dựng lên, Teabing có thể gọi điện cho Silas đang ngồi phía trước. Dùng giọng Pháp giả của Thầy Giáo, ông ta đã chỉ đạo Silas đến thẳng Opus Dei. Một cú gọi nặc danh đơn giản là đủ để cảnh sát xoá Silas khỏi bức tranh.
    Một đầu dây đã được thắt lại.
    Đầu dây kia còn buông thì khó thắt hơn. Rémy.
    Teabing đã đấu tranh với quyết định này khá căng thẳng, nhưng cuối cùng, chính Rémy đã tỏ ra là một bất lợi. Mọi cuộc tìm kiếm Chén Thánh đều đòi hỏi sự hiến tế. Giải pháp sạch sẽ nhất đã bày ra ngay trước mắt Teabing từ quầy rượu trên chiếc limousine: một cái lọ, một chút rượu cô-nhắc và một hộp lạc.
    Bột dưới đáy hộp quá đủ để gây nên cú dị ứng chết người cho Rémy. Khi Rémy đỗ chiếc limousine trên đường Horse Guards Parade, Teabing đã trèo ra khỏi đằng sau xe, vào qua cửa bên ghế hành khách và ngồi vào phía trước cạnh Rémy. Vài phút sau, Teabing ra khỏi xe và trèo lại vào khoang sau, xoá sạch dấu vết và cuối cùng, xuất hiện để hoàn thành nốt giai đoạn chót trong sứ mạng của mình.
    Tu viện Westminster chỉ cách đó một đoạn đường đi bộ và mặc dù nạng, nẹp chân và súng lục của Teabing đã làm máy dò kim loại kêu reng reng, mấy tay cớm thuê vẫn không biết nên xử trí ra sao. Yêu cầu ông ta tháo nẹp, bỏ nạng ra và bò qua ư?
    Lục soát cơ thể biến dạng của ông ta. Teabing trình ra với đám bảo vệ bối rối một giải pháp dễ dàng hơn nhiều - một tấm các chạm nổi xác nhận ông ta là Hiệp sĩ của Vương quốc.
    Mấy thằng cha tội nghiệp gần như vấp giúi giụi vào nhau cuống quít mời ông ta vào.
    Giờ đây, khi thấy Langdon và Neveu đang hoang mang, Teabing cố nén nỗi thôi thúc muốn cho biết làm thế nào mà ông ta đã xuất sắc kéo được Opus Dei tham gia vào âm mưu của mình, mà vụ này chẳng bao lâu nữa sẽ dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ Giáo hội. Điều đó còn phải đợi đã vì bây giờ còn có việc để làm.
    "Mes amis", Teabing tuyên bố bằng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo, "vous ne trouvez pas le Saint-Graal, c est le Saint-Graal qui vous trouve"(1). Ông ta mỉm cười. "Chúng ta cùng đi chung đường, không thể rõ ràng hơn được nữa. Chén Thánh đã tìm thấy chúng ta".
    Im lặng.
    Lúc này, lão ta thì thầm nói với họ: "Hãy lắng nghe. Các bạn có nghe thấy không? Chén Thánh đang nói với chúng ta xuyên qua nhiều thế kỷ. Nó đang năn nỉ xin được cứu thoát khỏi sự rồ dại của Tu viện Sion. Tôi khẩn cầu cả hai người hãy nhận ra cơ hội này. Không thể có ba người có khả năng hơn được tụ hợp vào lúc này để phá vỡ mật mã cuối cùng và mở cái hộp mật mã". Teabing dừng lại, mắt sáng lên. "Chúng ta cần phải nguyện thề cùng nhau. Một lời thề trung thành với nhau. Sự trung thành của một hìệp sĩ để khám phá và công bố sự thật".
    Sophie nhìn sâu vào mắt Teabing và nói bằng một giọng đanh thép: "Tôi sẽ không bao giờ thề với kẻ đã giết ông tôi. Ngoại trừ một lời thề sẽ đưa ông vào tù".
    Trái tim của Teabing trở nên nghiêm nghị, rồi kiên quyết:
    "Tôi lấy làm tiếc là cô lại cảm nhận theo cách ấy".
    Lão ta quay sang cha súng vào Langdon: "Còn anh, Robert? Anh sẽ ủng hộ hay chống lại tôi?".


    Chú thích:
    (1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Các bạn ơi, không phải các bạn tìm thấy Chén Thánh mà chính Chén Thánh tìm thấy các bạn.


    Hết chương 99.

  10. #100
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 100


    Cơ thể g;ám mục Manuel Aringarora đã chịu đựng nhiều kiểu đau đớn, nhưng cái nóng thiêu đốt của vết đạn trong ***g ngực thật lạ đối với ông ta. Sâu và nghiêm trọng. Không phải là vết thương ở phần da thịt… mà gần với tâm hồn.
    Aringarosa mở mắt ra, cố nhìn, nhưng mưa giàn giụa trên mặt đã làm nhòa mắt ông ta. Mình đang ở đâu thế này? Ông ta cảm thấy những cánh tay lực lưỡng đang bế mình, mang cái thân hình mềm oặt của ông ta như một con búp bê bằng vải. Nhấc cánh tay rã rời lên, Aringarosa rụi mắt và thấy người đàn ông đang ôm mình chính là Silas. Gã bạch tạng khổng lồ đang hì hụi chạy theo một vỉa hè mù mịt sương, la lớn để tìm bệnh viện, giọng hắn rên rỉ đau khổ đến não lòng. Đôi mắt đỏ trân trân dõi về phía trước, nước mắt tuôn trào trên bộ mặt trắng trợt lấm tấm máu.
    "Con trai", Aringarosa thì thầm, "con bị thương đấy".
    Silas liếc nhìn xương, mặt rúm lại vì đau khổ: "Con xin lỗi Cha". Hắn quá đau đớn để thốt lên lời.
    "Không đâu, Silas", Aringarosa đáp, "chính ta mới phải xin lỗi. Đây là lỗi tại ta". Thầy Giáo đã hứa với ta là sẽ không có giết chóc và ta đã bảo con tuân lệnh lão ta hoàn toàn. "Ta đã quá háo hức. Quá sợ hãi. Ta và con đều bị lừa rồi". Thầy Giáo sẽ không bao giờ đưa cho chúng ta Chén Thánh cả.
    Được ẵm trong vòng tay của người mà nhiều năm trước đây ông đã cưu mang, giám mục Aringarosa cảm thấy mình như quay trở ngược lại thời gian. Quay về Tây Ban Nha. Về những khởi đầu khiêm nhường của mình, xây dựng một nhà thờ Ki tô giáo nhỏ ở Oviedo cùng Silas. Và rồi đến New York - nơi ông đã sáng danh Chúa với Trung tâm Opus Dei cao ngất trên đại lộ Lexington.
    Năm tháng trước đây, Aringarosa đã nhận được những tin choáng váng. Công việc cả đời của ông đang gặp nguy hiểm. Ông nhớ lại cuộc gặp gỡ bên trong lâu đài Gandolfo với những chi tiết sinh động, cuộc gặp gỡ đã thay đổi cuộc đời ông. Cái tin đã khởi phát toàn bộ đại hoạ này.
    Aringarosa đã bước vào Thư viện Thiên văn học của Gandolfo, đầu ngẩng cao, tràn đầy hi vọng được hàng loạt cánh tay chào đón ca ngợi, tất cả đều háo hức muốn vỗ vai khen ngợi ông ta về việc đại diện tuyệt vời cho Ki tô giáo tại Mỹ.
    Nhưng chỉ ba người có mặt.
    Thư ký của Toà thánh Vatican. Béo phệ. Nghiêm nghị.
    Hai Hồng Y giáo chủ cao cấp người Ý. Ra vẻ đạo đức hơn người. Tự mãn.
    "Thư ký ư?", Aringarosa nói, cảm thấy bối rối.
    Con người béo tròn phụ trách các vấn đề pháp lý của Tòa thánh bắt tay Aringarosa và chỉ cái ghế đối diện với ông ta: "Xin cứ thoải mái tự nhiên".
    Aringarosa ngồi xuống, cảm thấy có điều gì đó không ổn.
    "Tôi vốn không khéo nói chuyện phiếm, thưa Đức Giám mục", vị thư ký nói. "Bởi vậy, hãy cho phép tôi nói thẳng về lý do cuộc viếng thăm của ngài hôm nay".
    "Xin mời. Hãy nói một cách cởi mở", Aringarosa liếc qua hai Đức Hồng Y, dường như họ đang đánh giá ông với sự đoán định tự cho là đúng.
    "Như ngài đã biết", vị thư ký nói, "Đức Giáo hoàng và những người khác ở Roma gần đây rất lo lắng những hậu quả chính trị do những thực hành gây tranh cãi của Opus Dei".
    Aringarosa lập tức nổi giận. Ông đã nhiều lần cảm thấy thế đối với vị giáo chủ mới, hóa ra Ngài lại rất nhiệt thành ủng hộ sự thay đổi theo khuynh hướng tự do trong Giáo hội khiến Aringarosa hết sức kinh ngạc.
    "Tôi muốn đảm bảo với ngài", vị thư ký vội nói thêm, "rằng Đức Giáo hoàng không tìm cách thay đổi gì trong cách ngài điều hành giáo phận của ngài".
    Tôi hy vọng là thế. "Vậy tại sao tôi lại ở đây?".
    Ông béo thở dài: "Thưa Đức Giám mục, tôi không biết làm thế nào để diễn đạt điều này một cách tế nhị, vậy tôi xin nói thẳng. Hai ngày trước đây, Hội đồng thư ký đã bỏ phiếu nhất trí rút sự chấp thuận của Toà thánh Vatican đối với Opus Dei".
    Aringarosa chắc chắn rằng mình nghe nhầm: "Tôi xin ngài hãy nhắc lại?".
    "Nói thẳng ra, sáu tháng nữa kể từ ngày hôm nay, Opus Dei sẽ không còn được xem là một giáo phận của Vatican nữa. Ngài sẽ thuộc một giáo hội của riêng mình. Toà Thánh sẽ tách rời khỏi ngài. Đức Giáo hoàng đã đồng ý và chúng tôi đã soạn thảo giấy tờ hợp pháp".
    "Nhưng… điều đó là không thể".
    "Trái lại, điều đó hoàn toàn có thể. Và cần thiết. Đức Giáo hoàng trở nên lo lắng với chính sách tuyển mộ thô bạo và thông lệ hành xác của các ngài". Ông ta dừng lại. "Những chính sách của ngài đối với phụ nữ cũng thế. Nói một cách rất thẳng thắn, Opus Dei đã trở thành một thứ gây bất lợi và phiền hà".
    Giám mục Aringarosa sững sờ: "Phiền hà ư?".
    "Chắc chắn ngài không thể ngạc nhiên là sự thể đi đến mức này".
    "Opus Dei là một tổ chức duy nhất của Thiên Chúa giáo có số lượng thành viên tăng trưởng! Chúng tôi hiện có hơn 1100 giáo sĩ!".
    "Đúng. Một vấn đề rắc rối cho tất cả chúng ta".
    Aringarosa đứng bật dậy: "Hãy hỏi Đức Giáo hoàng liệu Opus Dei có phải là một sự phiền hà hay không vào năm 1982 khi chúng tôi giúp đỡ Ngân hàng Vatican!".
    "Toà thánh Vatican sẽ luôn biết ơn về điều đó", vị chánh thư ký nói, giọng xoa dịu. "Tuy nhiên có nhiều người vẫn tin rằng sự hào phóng về tài chính của ngài năm 1982 là lý do duy nhất khiến ngài được ban chức giám mục".
    "Không đúng!". Sự ám chỉ đó xúc phạm Aringarosa sâu sắc.
    "Dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng chủ trương hành động với thiện ý. Chúng tôi đang thu xếp hoàn trả lại những khoản đã nhận. Nó sẽ được chi trả làm năm lần".
    "Ngài đang mua chuộc tôi đấy à?". Aringarosa hỏi. "Trả tiền cho tôi để tôi lặng lẽ ra đi? Khi mà Opus Dei là tiếng nói duy nhất còn lại của lý trí!".
    Một trong số Hồng Y ngước nhìn: "Tôi xin lỗi, ngài vừa nói lý trí?".
    Aringarosa ngả người qua mặt bàn, giọng sắc nhọn như một mũi tên: "Ngài có thật sự tự hỏi tại sao các tín đồ Thiên Chúa giáo bỏ nhà thờ không? Hãy nhìn xung quanh ngài, thưa Đức Hồng Y. Người ta đã đánh mất niềm kính trọng. Sự nghiêm ngặt của tín ngưỡng không còn nữa. Học thuyết trở thành một thứ hỗn độn. Sự kiêng khem, xưng tội, lễ thánh thể, lễ rửa tội, lễ chầu - hãy chọn đi - chọn bất kỳ sự kết hợp nào ngài ưng và bỏ qua những gì còn lại. Giáo hội đang đề ra cái kiểu dẫn dắt tâm linh gì vậy?".
    "Những luật lệ ở thế kỉ III", vị Hồng Y thứ hai nói, "không thể ứng dụng cho những môn đệ hiện đại của Thiên Chúa.
    Những luật lệ đó không có hiệu quả trong xã hội ngày nay".
    "Ồ, dường như chúng lại đang có hiệu quả tại Opus Dei!".
    "Giám mục Aringarosa", vị chánh thư ký nói, giọng dứt khoát, "vì sự kính trọng mối quan hệ giữa tổ chức của ngài với Đức Cựu Giáo hoàng, Đức Đương kim Giáo hoàng sẽ cho Opus Dei sáu tháng để tự nguyện tách ra khỏi Vatican. Tôi đề nghị ngài hãy liệt kê những ý kiến khác biệt của ngài với Tòa Thánh và tự thiết lập tổ chức Cơ đốc giáo cho chính mình".
    "Tôi từ chối!", Aringarosa tuyên bố. "Và đích thân tôi sẽ nói điều đó với Giáo hoàng!".
    "Tôi e rằng, Đức Giáo hoàng không cần gặp ngài nữa".
    Aringarosa đứng dậy: "Ngài sẽ không dám huỷ bỏ một giáo phận được thiết lập bởi Đức Giáo hoàng tiền nhiệm!".
    "Tôi rất tiếc", vị chánh thư ký nhìn không nao núng, "Chúa Trời ban cho và Chúa Trời cũng lấy đi".
    Aringarosa lảo đảo rời khỏi cuộc gặp gỡ đó trong tâm trạng hoang mang và hoảng sợ. Trở lại New York, suốt bao ngày, ông cứ thao láo nhìn ra đường chân trời, vỡ mộng, lòng nặng trĩu nỗi buồn cho tương lai của Thiên Chúa giáo.
    Chính vài tuần sau đó, Aringarosa nhận được cú điện thoại đã làm thay đổi tất cả. Người gọi đến nghe như giọng Pháp và xưng danh là Thầy Giáo - một tước hiệu phổ biến trong Giáo đoàn. Ông ta nói ông ta biết là Vatican dự định rút bỏ sự ủng hộ đối với Opus Dei.
    Làm thế nào mà ông ta có thề biết được điều đó? Aringarosa tự hỏi. Ông đã hy vọng là chỉ một dúm người trung gian quyền lực của Vatican biết về chủ trương sắp huỷ bỏ Opus Dei. Rõ ràng tin đã lọt ra ngoài. Nói đến việc ngăn chặn lời đồn đại thì không có bất kỳ bức tường nào trên thế giới dễ thẩm thấu như những bức tường quanh thành phố Vatican.
    "Tôi có tai mắt ở khắp nơi, thưa Giám mục", Thầy Giáo thì thầm. "Và với những tai mắt này tôi đã thu thập được một số thông tin. Với sự giúp đỡ của ngài, tôi có thể khám phá ra nơi ẩn giấu một thánh thể linh thiêng, mà điều đó sẽ mang đến cho ngài quyền lực rất lớn… đủ để bắt Vatican phải cúi đầu trước ngài. Một quyền lực đủ để cứu lấy Niềm tin". Ông ta dừng lại.
    "Không chỉ cho Opus Dei mà còn cho tất cả chúng ta".
    Chúa trời lấy đi… và Chúa trời lại ban cho. Aringarosa cảm thấy bừng lên một tia hy vọng huy hoàng. "Hãy nói cho tôi biết kế hoạch của ông".

    Giám mục Aringarosa đã bất tỉnh khi những cánh cửa của bệnh viện St. Mary kẹt mở. Silas chệnh choạng lao vào, gần như mê sảng vì kiệt sức. Khuỵu gối xuống nền gạch, hắn gào lên cầu cứu. Mọi người trong khu tiếp tân há hốc miệng kinh ngạc trước cảnh gã bạch tạng gần như trần truồng bế một giáo sĩ đầy máu.
    Người bác sĩ đã giúp Silas đưa vị Giám mục đang mê sảng vào phòng cấp cứu trông có vẻ bi quan khi xem mạch Aringarosa: "Ông ấy mất quá nhiều máu. Tôi không hy vọng lắm".
    Mắt Aringarosa chớp chớp, và ông tỉnh lại một lúc, cái nhìn đăm đăm hướng về Silas: "Con ta…".
    Tâm hồn Silas nổi sấm sét hối hận và cuồng giận: "Cha ơi, dù có phải mất cả cuộc đời, con cũng sẽ tìm ra kẻ đã lừa gạt chúng ta và con sẽ giết hắn".
    Aringarosa lắc đầu, vẻ buồn bã khi người ta chuẩn bị đẩy xe đưa ông đi: "Silas… nếu con chưa học được gì từ cha, thì giờ xin con…hãy học lấy điều này". Ông cầm tay Silas và xiết chặt. "Tha thứ là món quà lớn nhất của Chúa".
    " Nhưng Cha ơi…".
    Aringarosa nhắm mắt lại: "Silas, con hãy cầu nguyện đi".


    Hết chương 100.

Trang 10/11 đầuđầu ... 6 7 8 9 10 11 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. [Truyện Dài] Rừng Nauy - Murakami Haruki (full)
    By minhthang6 in forum Văn Học
    Trả lời: 29
    Bài mới gởi: 08-11-2013, 09:00 PM
  2. Trả lời: 56
    Bài mới gởi: 16-08-2011, 12:04 AM
  3. [Truyện dài] Deception Point (Điểm dối lừa) - Dan Brown
    By Shouri Yumi in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 129
    Bài mới gởi: 08-05-2009, 09:25 AM
  4. [Truyện dài] THIÊN THẦN VÀ ÁC QUỶ - Dan Brown
    By Fang [(] in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 26
    Bài mới gởi: 18-01-2009, 12:48 PM
  5. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 01-12-2008, 05:34 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •