>
Trang 2/3 đầuđầu 1 2 3 cuốicuối
kết quả từ 11 tới 20 trên 22

Ðề tài: [Tham khảo] Bushido - The soul of Japan (Nitobe Inazo)

  1. #11
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG VI

    LỄ NGHĨA


    Người ngoại quốc đi du lịch ở Nhật Bản, ai cũng để ý đến thái độ lễ phép, nhã nhặn của người Nhật và xem đó như là đặc tính của người Nhật. Nếu lễ nghĩa được thực hành chỉ vì sợ bị nghĩ là không sang trọng thì đó là đức tính nghèo nàn. Lễ nghĩa là biểu lộ bên ngoài của sự thông cảm với tình cảm của người khác. Lễ nghĩa cũng bao hàm lòng tôn trọng đối với việc đáng kính, vì thế nó còn có nghĩa là lòng tôn kính vô tư đối với địa vị xã hội. Địa vị xã hội được đề cập ở đây không dựa vào sự phân biệt giàu nghèo mà là những phân biệt dựa vào giá trị thực tế.

    Hình thái tối cao của lễ nghĩa rất gần với yêu thương. Với tình cảm kính yêu, ta có thể nói: “Lễ là lòng khoan dung, tử tế đối với người khác; lễ không đố kị, không khoa trương, cũng không kiêu căng; không hành động sổ sàng, không tìm lợi cho mình, không dễ nổi giận, không nghĩ đến cái xấu của người khác.” Trong sáu yếu tố của nhân sinh mà giáo sư Dean đã đưa ra, không lạ gì khi giáo sư đã đặt lễ ở vị trí cao nhất và xem đó là kết quả thành thục nhất của xã giao.

    Mặc dầu khen ngợi lễ nghĩa như thế này, nhưng tôi không có ý muốn đặt lễ nghĩa ở vị trí cao nhất trong đạo đức. Nếu phân tích chúng ta sẽ thấy lễ nghĩa có quan hệ tương hỗ với những đức tính ở vị trí cao hơn. Bất cứ đức tính nào, nếu cô lập thì sẽ không tồn tại được. Lễ được ca tụng như đức tính đặc hữu của võ sĩ, được xem trọng hơn giá trị đáng được tán dương, và vì được tôn trọng như thế nên đã có những thứ lễ nghĩa giả mạo được sinh ra. Khổng tử đã nhiều lần giảng dạy rằng: “Lễ nghĩa nếu chỉ có bề ngoài thì không phải là lễ nghĩa thực sự, giống như chỉ tạo ra tiếng rền vang thì không phải là âm nhạc vậy.”

    Khi lễ nghĩa được nâng cao lên thành điều kiện tất yếu trong xã giao, dĩ nhiên thông thường sẽ có một hệ thống phép tắc lịch sự phiền phức được qui định để huấn luyện người trẻ có hành vi xã giao đúng cách. Phải cúi đầu như thế nào khi gặp người khác, phải đi đứng và ăn ngồi ra sao, được dạy và học tập kĩ lưỡng. Phép lịch sự trong cách ăn uống phát triển thành môn học. Cách pha và uống trà được nâng cao thành nghi thức. Và người có học vấn, dĩ nhiên, được xem như thông suốt tất cả những phép lịch sự đó. Trong tác phẩm của mình, Veblen (nhà xã hội học người Mỹ, 1857-1929, trong tác phẩm Theory of the leisure class, N.Y., 1899, p.46) đã nói một cách thích đáng rằng: “Lễ nghĩa là sản phẩm và biểu trưng của giai cấp nhàn hạ.”

    Tôi có nghe những chỉ trích của người Âu châu, có ý khinh thị lễ nghĩa có tính khuôn phép phiền phức của chúng tôi, cho rằng thật là điên rồ khi chúng tôi đã dành quá nhiều thì giờ để suy nghĩ và tuân theo khuôn phép đó một cách nghiêm khắc. Tôi thừa biết trong nghi thức có những qui định tỉ mỉ không cần thiết.Thế nhưng so với việc người Tây phương chạy theo thời trang luôn biến đổi thì không biết ai là kẻ điên hơn. Ngay như thời trang, tôi không nghĩ đó chỉ là những thay dạ đổi lòng theo hư vinh; ngược lại tôi xem đó là sự truy tìm không ngừng của con người đối với cái đẹp. Thế nên tôi không nghĩ những qui định lễ nghi tỉ mỉ, chỉ là những thứ hoàn toàn vô nghĩa; mà đó là phương pháp thích hợp nhất, đúc kết từ kinh nghiệm lâu dài để đạt được một kết quả nhất định. Để làm một việc, nhất định sẽ có một phương pháp tốt nhất để làm việc đó, vừa ít tốn kém nhất vừa thanh tao nhất. Spencer (nhà xã hội học người Anh, 1820-1903, ND) định nghĩa thanh tao là cách thức cử động ít tốn kém nhất. Nghi thức uống trà qui định phương thức dùng bát, dùng thìa, dùng khăn v.v… trong tiệc trà. Đối với người mới, phương thức này thật là vô vị, nhưng cuối cùng sẽ hiểu được đó là phương pháp tiết kiệm cả thời gian lẫn công sức, nói khác đó là cách ít dùng sức nhất, nghĩa là nếu theo định nghĩa của Spencer thì đó là cách thanh tao nhất.

    Mượn tự vựng “Triết lý của y phục”[1] tôi có thể nói “Phép tắc và nghi thức chỉ là chiếc áo bên ngoài của qui luật tinh thần”, nhưng thực ra ý nghĩa tinh thần của phép xã giao lớn hơn nhiều so với vẻ bên ngoài của nó. Bắt chước Spencer tôi có thể ngược dòng lịch sử, đi tìm dấu tích của nguồn gốc và động cơ đạo đức hình thành phép tắc trong xã hội Nhật, nhưng đó không phải là mục đích của cuốn sách này. Điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, là những tập huấn đạo đức có ở trong việc tuân thủ nghiêm khắc những phép tắc lễ nghi.

    Như đã nói, phép tắc lễ nghi quy định tỉ mỉ mọi hành vi nên đã đẻ ra nhiều môn phái có cách thức khác nhau. Nhưng tất cả đều thống nhất với nhau về bản chất. Theo Ogasawara, người sáng lập môn phái Ogasawara trứ danh, thì “tất cả các phép tắc lễ nghi đều có mục đích là huấn luyện tinh thần. Ngồi thẳng đúng lễ, thì không có ai dám làm hại mình, dẫu là kẻ hung bạo nhất.” Nói cách khác, qua việc thường xuyên tập luyện đúng phép tắc lễ nghi, tất cả các bộ phận và cơ năng của thân thể sẽ được điều chỉnh hoàn hảo để điều hòa với chính mình và với môi trường xung quanh, nói lên sự chi phối của tinh thần đối với thể xác. Tiếng Pháp “bienséance” (ngữ nguyên có nghĩa là ngồi thẳng, được dùng với nghĩa là “lễ nghĩa”, ND) có ý nghĩa thật sinh động và sâu xa.

    Nếu thanh tao đúng là phương pháp tiết kiệm sức lực thì kết quả luận lý của điều này là nếu thường xuyên thực hành cử chỉ thanh tao thì sẽ giữ và tích trữ được sức lực của mình. Vì thế, cử chỉ thanh lịch có nghĩa là sức lực trong trạng thái nghỉ ngơi. Có chuyện kể lại rằng, trong lúc đánh cướp La Mã, những người Gaul (người Gaulois, tổ tiên của người Pháp, ND) dã man đã tràn vào Viện Nguyên Lão đang họp hội nghị, cả gan kéo râu những nguyên lão đáng kính. Nhưng điều đáng trách ở đây chắc hẳn là những nguyên lão đã thiếu uy nghiêm và sức mạnh của phép tắc lễ nghi. Trạng thái tinh thần cao thượng thật sự có thể đạt được từ phép tắc lễ nghi hay không? Tại sao không? Tất cả đường đi đều dẫn đến La Mã kia mà!

    Tôi xin đưa ra một thí dụ, ngay như một việc đơn giản nhất cũng có thể biến thành một nghệ thuật và trở thành một cách tu dưỡng tinh thần. Đó là Cha-no-yu, tức là nghi thức uống trà. Uống trà là một nghệ thuật à! Không được sao? Trẻ nhỏ vẽ hình trên cát, hay người thời cổ sơ đã khắc hình trên đá. Nghệ thuật của Raphael[2] và Michael Angelo đã nẩy mầm từ đó. Thế thì trà, một loại nước uống bắt đầu với sự trầm tư mặc tưởng của một ẩn sĩ Bà la môn, có quyền phát triển đến chỗ đóng được vai trò phụ trợ cho tôn giáo và đạo đức cũng được chứ.

    Tâm thần điềm tĩnh, tình cảm trong sáng, thái độ bình thản, yên lặng là những giá trị căn bản của Cha-no-yu, và đây là những yếu tố cần thiết nhất để có được tư duy và tình cảm đúng đắn. Căn phòng nhỏ sạch sẽ, chu đáo cách biệt với tiếng động và quang cảnh ồn ào, sẽ đưa tư duy của người ta thoát khỏi chuyện thế gian. Tranh treo của Nhật trên vách phòng gợi chú ý bằng sự thanh tao của bố cục hơn là bằng vẻ đẹp của màu sắc, không giống như những phòng khách ở Tây phương có vô số tranh ảnh hoặc đồ cổ ngoạn làm người ta say mê. Mục đích ở đây là tìm đến hương vị tinh tế nhất, tránh xa mọi phô trương và mọi sợ hãi tôn giáo.

    Một ẩn sĩ thiền tông (Sen no Rikyu 1522-91, ND) đã nghiên cứu và tạo ra cách thức cho nghệ thuật uống trà trong thời mà chiến tranh và những lời đồn đại về chiến tranh luôn xảy ra không ngớt. Sự thật ấy đủ để chứng tỏ nghệ thuật này không phải chỉ để tiêu khiển. Trước khi bước vào không gian yên tĩnh quanh phòng uống trà, những người sẽ ngồi sắp hàng trong tiệc trà phải tháo bỏ qua bên những thanh kiếm họ mang theo, cùng với việc đó họ cũng sẽ dứt bỏ tính hung bạo trong chiến trường, trò hèn mọn trong chính trị, để tìm tình bằng hữu và hòa bình ở nơi uống trà này.

    Cha-no-yu là một nghệ thuật hơn là một nghi thức, là thơ ca có âm điệu, là động tác nhịp nhàng: cha-no-yu chính là phương pháp thực hành việc tu dưỡng tinh thần. Giá trị lớn lao nhất của cha-no-yu nằm ở điểm sau cùng này. Thế nhưng trong đám người theo “trà đạo” có nhiều người chỉ chú tâm vào những chi tiết khác không quan trọng. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là bản chất của “trà đạo” không có tính cách tinh thần.

    Cho dầu lễ nghĩa chỉ tạo vẻ tao nhã cho động tác, nhưng học tập và ứng dụng được sẽ có ý nghĩa rất lớn và chức năng của nó không chỉ dừng lại ở đây. Động cơ của lễ nghĩa là nhân ái và khiêm nhường. Lễ nghĩa là biểu hiện tao nhã của sự cảm thông, có từ lòng tử tế thông hiểu tình cảm của người khác. Lễ nghĩa đòi hỏi phải buồn với người đang buồn và phải vui với người đang vui. Yêu cầu có tính cách giáo huấn này, khi được rút lại thành chi tiết nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày, sẽ biểu hiện qua những hành vi nhỏ ít được ai chú ý, hoặc nếu bị chú ý thì đó cũng chỉ là hành vi “hết sức buồn cười” như một phụ nữ truyền đạo đã từng sống ở Nhật hai mươi năm nói với tôi. Tỉ dụ trong ngày nắng chang chang, chị đi ra đường mà quên đem dù che nắng; tình cờ có một người Nhật quen đi qua; khi chị chào người đó, người đó trước tiên sẽ giở mũ ra chào lại chị. Chuyện đến đây còn có vẻ tự nhiên; nhưng chuyện “hết sức buồn cười” là trong suốt thời gian người đó đứng nói chuyện với chị, người đó xếp dù lại và cũng đứng trong nắng chang chang cùng với chị. Sao lại ngớ ngẩn thế! Vâng, đúng là ngớ ngẩn. Dĩ nhiên hành động này thật ngớ ngẩn nếu không phải là: “Chị đứng trong nắng; tôi cảm thông với chị; tôi muốn che cho chị nếu cây dù của tôi đủ rộng, hay nếu chị là người thật quen thân của tôi; nhưng vì tôi không thể che được cho chị nên ít ra tôi cũng muốn được chia sẻ cái khổ của chị.” Những hành động nhỏ kiểu này, không, đôi lúc còn buồn cười hơn nữa kìa, không phải chỉ là cử chỉ hay thói quen mà đó cảm giác lo lắng đến sự an vui của người khác, được thể hiện qua hành động.

    Tôi xin đưa thêm một trường hợp “hết sức buồn cười” của thói quen chiếu theo tiêu chuẩn lễ phép của chúng tôi. Nhiều người viết chỉ quan sát bề ngoài, đơn thuần cho rằng người Nhật có thói quen cái gì cũng nghĩ ngược ngạo. Người ngoại quốc nào khi tiếp cận với thói quen đó đều thú nhận rằng họ cảm thấy lúng túng không biết phải trả lời như thế nào cho hợp lẽ. Ở Mỹ khi anh biếu một vật gì, anh thường hết lòng ca ngợi vật đó trước mặt người nhận, nhưng ở Nhật chúng tôi sẽ nói vật mình biếu chỉ có giá trị thấp kém hay hèn mọn. Người Mỹ nghĩ như thế này. “Đây là món quà xinh đẹp: nếu nó không xinh đẹp thì tôi nào dám tặng anh; vì nếu tặng anh một vật không xinh đẹp thì hóa ra tôi đã khinh thường anh.” Ngược lại với điều đó, người Nhật nghĩ như thế này. “Anh là người thật tốt. Món quà nào dẫu có xinh đẹp đến mấy cũng không xứng đáng để được anh nhận. Xin anh nhận món quà này như là một biểu hiện của lòng chân thành của tôi chứ không phải là ở giá trị của nó. Món quà này dẫu có xinh đẹp đến mấy nhưng bảo rằng xứng đáng với anh thì hóa ra tôi đã xem thường anh.” So sánh hai ý tưởng này, chúng ta sẽ thấy cả hai ý tưởng cùng qui về một chỗ và cùng giống nhau. Không có bên nào là “hết sức buồn cười” cả. Người Mỹ nói về giá trị vật chất của vật biếu và người Nhật nói về tinh thần của mình trong khi biếu.

    Ý thức lễ nghĩa của người Nhật hiện ra ở mỗi hành vi nhỏ nhặt nên nếu chỉ lấy ra chi tiết ít quan trọng nhất và xem đó như là hành vi điển hình để phê phán về bản chất của lễ nghĩa thì đúng đây là lí luận ngược đời. Ăn uống hay giữ đúng lễ ăn uống, việc nào quan trọng hơn. Thánh nhân Trung quốc (Mạnh tử) trả lời như sau. “Nếu so sánh người coi việc ăn uống là quan trọng, với một người coi thường lễ nghĩa, thì ta chỉ có thể nói là việc ăn uống là quan trọng hơn.” Nói rằng kim loại nặng hơn lông hồng, nhưng đây có phải là câu nói có được khi so sánh một mảnh nhỏ kim loại với một thùng đầy lông hồng hay không? Lấy một miếng cây to cỡ bàn chân đặt lên đỉnh tháp, chắc không có ai nói miếng cây cao hơn đỉnh tháp. “Việc nói thật và việc giữ gìn lễ nghĩa, việc nào quan trọng hơn?” Nếu được hỏi thư thế, người ta cho rằng người Nhật sẽ có câu trả lời trái hẳn với người Mỹ. Tôi xin khất lời bình luận lại ở chương sau khi nói về lòng thành.


    [1] Y thường Triết học (Sartor Resartus): tác phẩm nổi tiếng của Thomas Carlyle (1895-1881), người Anh, luận về phong tục tập quán, chế độ chính trị v.v… qua y phục.

    [2] Raphael (1483-1520): một trong ba họa sĩ vĩ đại người Ý trong thời Phục Hưng ở Âu châu (Leonardo da Vinci, Michael Angelo và Raffaello)
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  2. #12
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG VII

    CHÂN THẬT VÀ THÀNH THẬT


    Thiếu chân thật và thành thật, lễ nghĩa sẽ là diễn kịch và là trò hề. Masamune (lãnh chúa xứ Sendai, ND) nói. “Lễ nghĩa quá mức sẽ thành tâng bốc.” Một nhà thơ xưa (Sugawara Michizane, ND) đã vượt qua cả Polonius[1] khi khuyên rằng. “Nếu lòng ngươi chân thật, không cần cầu nguyện, thần thánh cũng bảo hộ cho ngươi.” Sùng bái lòng thành thật, coi đó như một sức mạnh siêu việt sánh ngang với thượng đế, Khổng tử đã diễn tả trong sách “Trung dung” rằng. “Mọi vật trong thế gian đều bắt đầu từ thành thật và chấm dứt ở thành thật; Thành thật là căn nguyên của mọi vật, không có thành thật, sẽ không có gì cả.” Với tài hùng biện, Khổng tử luận giải thành thật có tính chất lâu dài và phạm vi to lớn, có sức mạnh có thể gây biến đổi mà không cần hành động, và cho rằng chỉ cần thành thật thì sẽ đạt được mục đích mà không cần phải cố gắng. Chữ “thành” (thật thà) trong Hán tự, là kết hợp của chữ “ngôn” (lời nói) với chữ “thành” (xong việc) có chỗ giống với chữ Logos (hoạt động của lí trí được thực thể hóa qua lời nói, ND) mà phái Tân Platon chủ trương. Khổng tử đã bay cao như thế đó trong chuyến bay tinh thần có tính phi phàm của mình.

    Nói dối hoặc nói tránh được xem như đồng nghĩa với hèn nhát. Võ sĩ giữ địa vị cao trong xã hội, bị đòi hỏi phải có một tiêu chuẩn về thành thật cao hơn thương nhân và nông dân. Bushi no ichigon – “một lời nói của võ sĩ”, đúng là đồng nghĩa với chữ Ritterwort trong tiếng Đức– là câu nói bảo đảm đầy đủ tính chân thật về nội dung. Lời nói của võ sĩ nặng như núi, những lời hứa chắc chắn được thực hiện nên không cần phải có giấy chứng. Viết giấy chứng là hành vi làm tổn thương tính uy nghiêm của võ sĩ. “Ni-gon” (hai lời, ND) có nghĩa nói dối. Có nhiều giai thoại cảm động kể chuyện những võ sĩ đã lấy cái chết để chuộc lỗi “ni-gon” của mình.

    Chân thật được coi trọng như thế cho nên khác với phần đông tín đồ Cơ đốc đã không ngớt vi phạm lời chỉ bảo rõ ràng của Chúa rằng không được thề thốt, một samurai chính hiệu xem việc thề thốt là việc làm tổn thương danh dự của mình. Tôi thừa biết có võ sĩ đã thề trước thần linh hoặc trước thanh gươm của mình nhưng không bao giờ họ có những lời thề có vẻ đùa giỡn hoặc bất kính. Để cho lời thề có ý nghĩa nặng hơn, đôi lúc họ đã dùng máu để viết. Thế nhưng để giải thích chuyện này, tôi mong độc giả tham khảo chuyện Faust[2] của Goethe[3].

    Gần đây, nhà văn Mỹ (Dr. Peery, ND) đã viết trong sách (The Gist of Japan (Chân tướng của Nhật Bản), p.86) của mình. “Nếu hỏi một người Nhật tầm thường điều nào tốt hơn, nói dối hay vô lễ, chắc chắn người đó sẽ không do dự trả lời rằng nói dối.” Điều này có phần đúng và cũng có phần không đúng. Đúng vì không phải chỉ có người Nhật tầm thường mà cả samurai chắc cũng trả lời như thế. Nhưng không đúng ở chỗ Dr. Peery đã dùng chữ falsehood (giả dối) để dịch chữ “uso”, chữ này không có ý nghĩa mạnh như thế. Trong tiếng Nhật, “uso” là tiếng được dùng để chỉ một việc không phải là “makoto” (chân thật), hay không phải là “honto” (sự thật). Lowell[4] nói rằng Wordsworth[5] đã không thể phân biệt chân thật với sự thật. Người Nhật tầm thường giống với Wordsworth ở điểm này. Nếu hỏi một người Nhật hoặc một người Mỹ có chút ít học vấn rằng “Anh có ghét tôi không?” hoặc “Anh có đau bụng không?”. Chắc chắn người đó sẽ không do dự trả lời dối rằng “Tôi thích anh lắm” hoặc “Không sao cả, cám ơn anh.” Nếu vì lễ nghĩa mà phải hi sinh sự chân thật thì đúng đây chỉ là “hư lễ” (lễ nghĩa hình thức, ND) và lừa dối bằng những lời ngọt ngào.

    Tôi thừa biết là mình đang nói về quan niệm chân thật trong võ sĩ đạo, nhưng có lẽ không sao khi tôi có một vài lời về đạo đức của giới thương nghiệp Nhật Bản. Nhiều sách vở và báo chí ngoại quốc đã than phiền về đạo đức thương nghiệp của người Nhật. Đúng, đạo đức thương nghiệp lỏng lẻo là vết nhơ tồi tệ làm mất thể diện quốc gia. Nhưng trước khi nguyền rủa hoặc vội vã lên án toàn thể người Nhật, hãy bình tĩnh suy xét và nhờ đó chắc chắn sẽ có được sự an ủi trong tương lai.

    Trong những nghề nghiệp lớn trên thế gian, không có khoảng cách nào lớn hơn khoảng cách giữa võ sĩ và thương nhân. Thương nhân bị định vị thấp nhất trong phân chia giai cấp sĩ nông công thương. Võ sĩ có thu nhập từ đất đai và có thể say sưa tự mình làm nông nghiệp nghiệp dư, nếu muốn. Nhưng chuyện khẩy bàn toán làm buôn bán thì lại ghét. Chúng ta lãnh hội được sự khôn ngoan trong việc sắp đặt trật tự xã hội này. Montesquieu (tư tưởng gia người Pháp, 1689-1755, ND) đã nói rõ rằng việc cấm quí tộc làm thương nghiệp là chính sách xã hội rất tốt nhằm ngăn ngừa việc tập trung tài sản vào trong tay những người có quyền lực. Tách rời quyền lực với giàu sang giúp cho việc phân phối tài sản được đồng đều hơn. Giáo sư Dill, tác giả quyển “Xã hội La Mã trong thế kỉ sau cùng của đế quốc phía Tây”, cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho đế quốc La Mã suy vong là đã cho phép quí tộc làm thương nghiệp gây hậu quả tập trung tài sản và quyền lực vào tay thiểu số nguyên lão và gia đình của họ.

    Thương nghiệp của Nhật trong thời phong kiến đã không phát triển cao đến mức độ có thể đạt được nếu được tự do hơn. Nghề này bị mọi người khinh rẻ nên rốt cuộc chỉ tập hợp được những người ít để ý đến những lời dèm pha của thiên hạ. Ở phương tây có câu nói rằng “Gọi người đó là ăn trộm thì người đó sẽ ăn trộm”. Có định kiến không tốt trong cách gọi tên một nghề nào đó thì người theo nghề đó sẽ lần lần có những hành vi tương xứng với định kiến không tốt đó vì như Hugh Black (nhà thần học người Mỹ gốc Scotland, 1868-1953, ND) đã nói. “Lương tâm thông thường lên cao đến độ cao được đòi hỏi và dễ dàng rơi xuống đến giới hạn của tiêu chuẩn được mong mỏi, và đó là việc đương nhiên.” Không cần phải thêm rằng bất cứ công việc nào, thương nghiệp hay nghề nào khác sẽ không làm được nếu không có qui phạm đạo đức. Thương nhân Nhật Bản trong thời đại phong kiến cũng có qui phạm đạo đức trong cách xử sự với nhau, tuy vẫn còn ở trong trạng thái phôi thai, nếu không thì những chế độ căn bản như tổ chức đoàn thể cùng nghề, ngân hàng, sở giao dịch, bảo hiểm, ngân phiếu, hối đoái chẳng bao giờ phát triển được. Thế nhưng trong liên hệ đối với những người khác nghề, thương nhân có cách cư xử không tốt đúng như đã bị chỉ trích.

    Trong tình trạng đó, khi quốc gia mở cửa buôn bán với ngoại quốc, chỉ có những thương nhân mạo hiểm hoặc thiếu thận trọng mới đua nhau ra cảng, trong khi đó những thương gia được tin cậy từ xưa đã từ chối mở chi nhánh buôn bán, mặc dầu đã được giới thẩm quyền yêu cầu nhiều lần. Vậy thì võ sĩ đạo đã bất lực trong việc ngăn chặn dòng chảy thương nghiệp thiếu danh dự này sao? Thử nhìn xem.

    Những người hiểu rõ lịch sử Nhật Bản sẽ lưu ý rằng chế độ phong kiến đã bị bãi bỏ chỉ vài năm sau khi Nhật Bản mở cửa mậu dịch. Cùng lúc đó, samurai cũng bị mất bổng lộc (trong khoảng 1873-1876, ND), thay vào họ được cho quốc trái và được tự do dùng quốc trái đầu tư trong thương nghiệp. Bạn có thể hỏi rằng. “Tại sao những samurai này không đem sự thành thật mà họ hãnh diện vào trong những liên hệ sự nghiệp mới và quét sạch thói xấu từ trước đến nay trong thương nghiệp.” Phần lớn họ là những võ sĩ thanh cao và thẳng thắn. Trong lãnh vực công thương nghiệp mới không quen, họ đã không có đủ tài trí đương đầu với bọn thương nhân khôn ngoan trong việc thương lượng, cạnh tranh nên đã gây ra nhiều thất bại to lớn không hồi phục được. Vận mệnh của họ, kẻ có mắt nhìn, khóc mấy cũng không đủ, kẻ có lòng cảm động, có đồng tình đến mấy cũng không đủ. Một quốc gia công nghiệp như Mỹ, cũng có đến tám mươi phần trăm người làm kinh doanh bị thất bại nên chẳng có gì lạ khi chỉ có một trong một trăm samurai làm thương nghiệp thành công trong cái nghề mới này. Tóm lại, việc thử ứng dụng võ sĩ đạo vào trong công việc thương mại đã làm mất mát nhiều tài sản, và cần một khoảng thời gian dài mới có thể biết rõ được là bao nhiêu, nhưng người có óc quan sát sẽ hiểu ngay là con đường làm giàu không phải là con đường danh dự. Vậy họ khác nhau ở chỗ nào?

    Lecky (sử gia người Ireland, 1838-1903, ND) liệt kê ba yếu tố thúc đẩy người ta phải thành thực là : yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và yếu tố triết học. Yếu tố thứ nhất hoàn toàn không có trong võ sĩ đạo. Yếu tố thứ hai đã không phát triển được trong xã hội chính trị dưới chế độ phong kiến. Chân thật đã có được địa vị cao trong danh mục đạo đức quốc dân là nhờ ở tính triết học của nó, và như Lecky nói, và nhờ ở biểu hiện tối cao của nó. Với tất cả lòng thành kính đối với đạo đức thương nghiệp cao của dân tộc Anglo-Saxon, tôi đã hỏi lí do và được trả lời rằng. “Chân thật là chính sách tốt nhất.” Nghĩa là “chân thật sẽ được đền bù xứng đáng.” Vậy, đức tính này chính nó là thù lao phải không? Nếu đức tính “chân thật” đem đến nhiều tiền bạc hơn giả dối thì tôi sợ rằng võ sĩ đạo có lẽ đã chìm đắm trong giả dối!

    Nếu võ sĩ đạo không chấp nhận nguyên lý “vật trả vật” thì những thương nhân khôn lanh sẽ nhanh nhẹn thừa nhận nguyên lý này. Lecky rất đúng khi nói rằng đức tính thành thật trở thành phổ biến nhờ thương công nghiệp. Nietzsche cho rằng chân thật là đức tính non trẻ nhất, nói cách khác, chân thật là con nuôi của kĩ nghệ hiện đại. Không có mẹ nuôi, chân thật như là trẻ mồ côi cao quí chỉ có thể được nuôi dưỡng trong lòng của những người được giáo dục huấn luyện đầy đủ nhất. Lòng chân thật rất phổ thông trong samurai. Nhưng vì thiếu người mẹ nuôi là kĩ nghệ cận đại có tính bình dân và thực dụng cho nên đứa trẻ ngây thơ không quen việc đời này không trưởng thành được. Khi kĩ nghệ phát đạt, thành thật sẽ là đức tính vừa dễ, hay nói đúng hơn là đức tính có lợi khi thực hành. Hãy nghĩ đến việc – vào tháng 11 năm 1880, thủ tướng nước Đức, Bismarck đã phát huấn lệnh truyền tay đến các vị lãnh sự của đế quốc, cảnh cáo rằng “thật đáng tiếc khi hàng hóa chất trong tàu Đức không có đủ độ tin cậy rõ ràng cả về chất lượng lẫn số lượng”. Nhưng nay, chúng ta tương đối ít có dịp nghe về sự bất cẩn hoặc sự thiếu thành thật của thương nhân Đức. Hai mươi năm qua, cuối cùng thương nhân Đức đã học được rằng thành thực đã được đền bù xứng đáng. Thương nhân Nhật cũng đã hiểu được điều này. Liên quan đến điều này, tôi xin giới thiệu với độc giả hai tác giả với hai quyển sách vừa xuất bản (Knapp với quyển Feudal and Modern Japan và Ransome với quyển Japan in Transition, ND) để có được nhận xét xác đáng. Đặc biệt về việc nói rằng thương nhân khi làm giấy mượn tiền đã ghi là sẽ xem trọng danh dự và thành thực, và đó là cách bảo đảm chắc chắn nhất. Trên giấy thường ghi là “nếu chểnh mảng trong việc trả nợ, tôi sẽ không phản đối việc bị chế nhạo trước quần chúng”, hoặc là “nếu tôi không trả lại được, hãy chửi tôi là đồ trâu bò”.

    Đôi lúc tôi nghi ngờ không biết thành thật có động cơ nào cao hơn dũng khí hay không? Vì không có lời cảnh cáo tích cực nào đối với việc lập bằng chứng giả mạo nên nói dối không bị phạt như là một cái tội mà chỉ bị bài bác coi đó là sự yếu đuối, như một việc đáng xấu hổ. Đúng là khái niệm thành thật có liên quan mật thiết đến danh dự, và trong tiếng La tinh và tiếng Đức hai từ này có cùng ngữ nguyên với nhau. Đã đến lúc tôi cần phải khảo sát về “Danh dự” trong võ sĩ đạo.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Polonius: nhân vật trong bi kịch Hamlet của Shakespeare. Polonius là cha của Ophelia, người yêu của Hamlet. Một trong những câu nói nổi tiếng của Polonius là “To thine own self be true” có nghĩa là “Hãy thành thật với chính mình.”

    [2] Faust: Faust thất vọng về sự hữu hạn của con người nên đã bán linh hồn cho ác ma Mephis. Ác ma Mephis kí khế ước với Faust hứa sẽ làm mọi chuyện để Faust thỏa mãn, ngược lại khi đã về cỏi chết thì Faust phải làm y những điều mà Mephis đã làm cho Faust. Vì muốn biết và có kinh nghiệm tất cả mọi chuyện nên Faust đã đồng ý. Chuyện Faust đại biểu cho việc thề thốt (có tính cách nhẹ dạ và sôi nổi).

    [3] Goethe (1749-1832): nhà thơ, kịch tác gia, tiểu thuyết gia, khoa học gia … vĩ đại người Đức. Kịch Faust của ông được xem là đỉnh của văn học thế giới.

    [4] Lowell (1855-1916): nhà văn, nhà toán học, thiên văn học người Mỹ, có nhiều sách viết về tôn giáo, tâm lí, cách hành xử của người Nhật.

    [5] Wordsworth (1770-1850): thi sĩ phái lãng mạn người Anh.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  3. #13
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG VIII

    DANH DỰ


    Ý thức danh dự bao gồm tự giác rõ rệt về giá trị và sự tôn nghiêm của nhân cách, phải là đặc tính của võ sĩ, được giáo dục phải xem trọng nghĩa vụ và đặc quyền gắn liền với chức nghiệp của mình. “Danh dự”, được dùng để dịch chữ “honour”, không phải là tiếng thông dụng. Khái niệm của nó được diễn tả bằng những từ ngữ như “na” (tên tuổi), “menmoku” (thể diện), “gaibun” (tiếng tăm). Những danh từ này khiến chúng ta liên tưởng đến chữ “name” (tên) được dùng trong kinh thánh, chữ “personality” (nhân cách) tiến hóa từ chữ "mặt nạ” của Hy Lạp, và chữ “fame” (danh tiếng). Tiếng tốt – danh tiếng của một người, là “phần bất diệt của người đó, mất phần này, người ta tựa như loài cầm thú”. Đương nhiên, mọi xúc phạm đối với lòng ngay thẳng đều gây ra cảm giác xấu hổ, và cảm giác xấu hổ (Renchishin) được nuôi dưỡng sớm nhất trong giáo dục thiếu nhi. “Thiên hạ cười mầy đấy”, “Nhục thật”, “Mầy không biết xấu hổ à” là những câu trách mắng sau cùng, nhằm khuyên trẻ sửa sai hành động của mình. Khơi dậy lòng biết trọng danh dự của trẻ như thế này đã chạm vào chỗ nhạy cảm nhất trong lòng trẻ, như thể trẻ đã được nuôi dưỡng trong danh dự từ khi còn là thai nhi trong bụng mẹ. Cảm giác danh dự là cảm ứng từ lúc còn là thai nhi, gắn bó mạnh mẽ với ý thức gia đình. Balzac (nhà văn người Pháp, 1799-1850, ND) nói rằng. “Sự mất liên đới trong gia đình đã làm cho xã hội mất đi sức mạnh cơ bản mà Montesquieu gọi là danh dự”. Thật vậy, ý thức xấu hổ, theo tôi, là dấu hiệu sớm nhất trong ý thức đạo đức của nhân loại. Nhân loại đã ăn trái cấm và bị phạt, nhưng theo tôi, hình phạt đầu tiên và tồi nhất không phải là đau đớn trong việc sinh nở, cũng không phải là đau đớn do chông gai gây ra, mà là việc ý thức được cảm giác xấu hổ. Ít có chuyện nào trong lịch sử cảm động hơn chuyện bà mẹ đầu tiên của nhân loại (Eve) tay cầm kim thô, run rẩy vá từng lá sung mà người chồng đau buồn đã bẻ cho bà. Kết quả của việc bất phục tùng đầu tiên này ngoan cố bám chặt chúng ta hơn bất cứ vật nào. Tất cả kỹ thuật may vá của nhân loại cũng không thể nào thành công trong việc may được một tạp dề che dấu có hiệu quả cảm giác xấu hổ của chúng ta. Arai Hakuseki (1657-1725) đúng, khi từ chối hạ mình nhượng bộ trước một việc xấu hổ nho nhỏ khi còn trẻ, vì theo ông, “xấu hổ giống như vết thương trên thân cây, thời gian không làm nó mất mà chỉ làm cho nó lớn rộng ra thôi.” Carlyle nói rằng. “Xấu hổ là mảnh đất của mọi đức tính, của hành vi tốt đẹp và phẩm hạnh tốt đẹp.” Trước đó khoảng hai ngàn năm, Mạnh tử cũng có một câu nói tương tự như thế.

    Tuy không có tài hùng biện bằng Shakespeare qua cái miệng của nhân vật Norfolk (nhân vật trong vở kịch “Vua John”, ND), nhưng văn học Nhật Bản đã treo nhục nhã lên trên đầu võ sĩ như cây kiếm Damocles[1] vì võ sĩ quá sợ nhục nhã và lòng lo sợ này thường đượm tính chất bệnh hoạn. Lấy tiếng là vì danh dự, võ sĩ có nhiều hành vi vi phạm những điều không thể biện minh được theo qui tắc của võ sĩ đạo. Chỉ vì bị nhục, dầu hết sức nhỏ, nói đúng ra, nhiều khi chỉ bị nhục do tưởng tượng, người nóng nảy, phách lối có thể sẽ nổi giận, rút kiếm gây ra những cãi cọ vô ích và nhiều khi giết mất cả những người vô tội. Chuyện một thường dân tốt bụng, đã chỉ cho một samurai biết có con rận đang bung mình trên lưng anh ta, người thường dân liền bị chém đứt làm đôi, chỉ vì lí do đơn giản và kì quái là rận là giống kí sinh sống trên mình thú vật nên nói có rận có nghĩa là xem võ sĩ cao quí đồng hạng với thú vật, và đó là điều sỉ nhục không thể tha thứ được. Làm sao tin được câu chuyện quá nông nổi như thế này. Việc lưu hành một câu chuyện như thế này có ba ẩn ý. Thứ nhất, chuyện được bày ra để làm cho thường dân run sợ. Thứ hai là nói rằng võ sĩ đã thực sự lạm dụng chức nghiệp danh dự của mình. Thứ ba, cảm giác xấu hổ đã trở nên quá lớn mạnh trong thế giới võ sĩ. Nêu một tỉ dụ bất thường rồi phê phán võ sĩ đạo, điều đó rõ ràng không công bình. Giống như lấy việc sát hại kẻ dị đoan (tòa án tôn giáo của nhà thờ Cơ đốc, ND) và hành vi ngụy thiện, sản phẩm của sự cuồng tín và lòng tin thái quá ra để phê phán những lời dạy thật sự của Christ. Thế nhưng, cho dầu là cuồng tín tôn giáo đi nữa, khi so sánh với trạng thái mê sảng của kẻ say rượu, có một điều gì đó cao quí, cảm động. Giống như thế, trong cảm giác cực đoan của võ sĩ đối với danh dự của bản thân, chúng ta không nhận ra cơ sở của một đức tính chân thật hay sao?

    Qui phạm kĩ càng và gắt gao về danh dự dễ rơi vào trạng thái quá độ có tính bịnh hoạn. Nhằm ngăn chặn điều đó, võ sĩ được khuyên răn phải có lòng khoan dung và tính nhẫn nại. Chỉ vì bị khiêu khích đôi chút mà đã nổi giận sẽ bị cười là “có tính nóng nảy”. Có câu cách ngôn rằng “chịu nhịn những điều không thể nhịn được mới đúng là chịu nhịn.” Người võ sĩ vĩ đại, Ieyasu (Tokugawa Ieyasu 1542-1616, ND) đã để lại cho hậu thế nhiều câu cách ngôn trong đó có câu: “Đời người giống như đi trên đường xa, vai mang gánh nặng. Không nên hấp tấp … nhẫn nại là gốc của vô sự trường cữu … đừng trách người mà hãy trách ta.” Suốt đời mình, ông đã chứng minh những điều mình đã khuyên bảo. Một nhà thơ hài hước đã để cho miệng của ba samurai trứ danh trong lịch sử châm biếm tánh tình của mình. Với Nobunaga, nhà thơ cho Nobugana (1534-82) nói: “Ta sẽ giết nếu chim cúc cu đến giờ gáy mà không gáy.” Với Hideyoshi (1536-98): “Nếu chim cúc cu không gáy, ta sẽ bắt nó gáy.” Với Ieyasu: “Nếu chim cúc cu không gáy, ta sẽ đợi cho đến lúc nó gáy.”

    Mạnh tử khuyến khích mạnh mẽ tính nhẫn nại và chịu đựng. Có chỗ ông viết về việc này: “Dẫu anh có tự lột trần truồng để lăng mạ tôi, nhưng anh là anh, tôi là tôi. Sự lăng mạ của anh không thể làm nhơ nhớp tâm hồn tôi.” Ông còn dạy rằng “Bậc quân tử không nên giận những chuyện nhỏ. Giận vì việc lớn mới là cái giận chính đáng.”

    Từ những câu nói của nhiều võ sĩ, ta có thể thấy võ sĩ đạo đã cố tìm cách đạt đến mức nhu hoà cao độ, không chiến đấu, không chống đối. Tỉ dụ như lời nói của Ogawa (1649-96): “Người khác có nói xấu ngươi bao nhiêu đi nữa, đừng dùng lời nói xấu trả lại mà tốt hơn là nên tự kiểm lại mình, xem mình đã hết lòng trung thực trong việc thi hành nhiệm vụ hay chưa.” Một người khác, ông Kumazawa (1619-91) đã nói rằng: “Người khác có trách ngươi, đừng trách lại họ; người khác có giận ngươi, cũng đừng giận lại họ. Dứt bỏ dục vọng và giận hờn thì lòng mình mới luôn được vui tươi.” Thêm một tỉ dụ nữa, đó là di huấn của Saigo (1827-77), người có cái trán cao đến độ bị nói là “xấu hổ cũng thấy xấu hổ không muốn ngồi lên trên”: “Đạo là đạo của thiên địa tự nhiên; con người hành đạo cho nên phải đặt mục đích của đời mình là tôn kính thượng đế. Vì thượng đế thương ta và thương người như nhau; nên ta cũng phải thương người khác như thương mình. Không phải là con người mà chính thượng đế là đối tượng mà ta phải hết lòng hết dạ. Đừng bao giờ phiền trách ai; phải luôn luôn tự hối rằng mình chưa đủ lòng thành.” Những câu nói này khiến chúng ta liên tưởng đến giáo huấn của đạo Cơ đốc, và điều này cho chúng ta thấy về mặt đạo đức thực tiễn, tôn giáo thiên nhiên có thể tiếp cận với tôn giáo thiên khải. Những lời nói trên không phải chỉ là những lời nói suông, mà là những lời nói được cụ thể hoá trong hành động thực tế.

    Phải nhìn nhận rằng rất ít người có những đức tính như khoan dung, nhẫn nại và tha thứ ở mức độ cao siêu. Và đáng buồn thay không có cái gì rõ ràng và tổng quát được diễn tả như là cái cấu thành danh dự của võ sĩ. Chỉ có một số ít người có trí đức cao siêu biết rằng danh dự không phải là “thứ do hoàn cảnh tạo ra” mà là thứ có được khi mỗi cá nhân làm tốt phận sự của mình. Vì đối với thanh niên bận rộn với công việc, không có việc gì dễ hơn việc quên những điều mà mình đã học được từ Mạnh tử trong thời thơ ấu, êm đềm. Mạnh tử đã nói: “Ai cũng có lòng yêu danh dự. nhưng ít ai nghĩ rằng danh dự thật sự nằm ở trong lòng mình, không ở đâu khác. Danh dự mà người khác ban cho không phải là danh dự thật sự. Người được Triệu Mạnh phong tước cao quí, có thể sẽ bị Triệu Mạnh làm cho trở thành hèn hạ.” Trong nhiều trường hợp, lăng mạ sẽ bị phản ứng ngay bằng phẫn nộ và bị báo thù bằng cái chết, như sẽ thấy ở phần sau. Ngược lại, danh dự đôi khi chỉ là hư vinh hoặc một vài lời bình phẩm tốt của người đời, nhưng thường được quí trọng, xem đó như là việc tốt nhất trong cuộc đời. Mục tiêu mà đa số thiếu niên nhắm tới, không phải là sự giàu có, cũng không phải là trí thức, mà là danh dự. Thiếu niên lập chí, bỏ nhà ra đi thường thề rằng nếu không thành danh, dẫu chết cũng sẽ không trở về nhà; và nhiều bà mẹ háo danh nhất định không chịu gặp con trừ phi con “mặc áo gấm về nhà.” Để tránh xấu hổ hay để có được danh phận, những samurai trẻ tuổi có thể chấp nhận cuộc sống thiếu thốn, sẵn sàng chịu đựng mọi khổ đau về tinh thần và thể xác. Họ biết rằng danh dự có được trong thời niên thiếu sẽ trưởng thành cùng với tuổi tác. Trong trận công hãm thành Osaka (Osaka fuyu no jin: trận đánh vào mùa đông ở Osaka, ND), một người con trai còn trẻ của Ieyasu (Tokugawa Yorinobu, ND) đã hết lòng van nài xin được nhập đội tiên phong, nhưng đã bị đưa vào đội hậu vệ. Khi thành địch bị đánh vỡ, chàng trai trẻ hết sức buồn bã và đã khóc cay khóc đắng nên một lão gia thần đã cố an ủi và khích lệ chàng ta: “Xin ngài an lòng. Tương lai còn dài. Những năm sắp đến, còn có nhiều cơ hội để lập danh.” Cậu bé quắc mắt nhìn lão gia thần rồi nói: “Sao ông lại nói chuyện ngu si như vậy! Tuổi 14 của tôi có quay lại được không nào?” Dẫu có mất mạng cũng không tiếc nếu có được danh dự và tiếng tăm. Vì thế cho nên khi có một lí do nào đó được xem như là quan trọng hơn tính mạng, võ sĩ sẽ hết sức bình thản, sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình .

    Trong những lí do dẫu có hi sinh tính mạng cũng không tiếc, có nhiệm vụ trung thành đối với chúa quân. Trung nghĩa là nền móng tạo ra phong cách cân đối cho đạo đức phong kiến.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Damocles: nhân vật trong chuyện thần thoại Hi Lạp. Damocles nghĩ vua Dionysius sống giàu sang và hạnh phúc nên đã ước mong được như nhà vua. Nhà vua đã đồng ý để cho Damocles thay mình ngồi ở ngai vàng trong một ngày. Tối có tiệc, khi tiệc sắp hết, Damocles nhìn lên trên thì thấy trên đầu mình có một thanh gươm được treo lững lờ bằng một sợi chỉ có thể bị đứt vào bất cứ lúc nào (ám chỉ tình cảnh lúc nào cũng phải lo sợ). Damocles kinh hoàng, vội vã xin được rời khỏi ngai vàng và không còn muốn được giàu sang, hạnh phúc như vua Dionysius nữa.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  4. #14
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG IX

    TRUNG NGHĨA


    Đạo đức phong kiến có nhiều đức tính giống với những hệ thống đạo đức khác, với những giai cấp khác ngoài võ sĩ. Nhưng đức tính phục tùng và trung thành đối với người trên rõ ràng có đặc sắc. Tôi cũng biết rằng trung thành là đức tính có ở nhiều thứ người, trong nhiều hoàn cảnh. Tỉ dụ, đám móc túi cũng có bổn phận phải trung thành đối với thủ lãnh của mình; thế nhưng trong phạm vi liên quan đến danh dự của võ sĩ, trung thành là đức tính được coi trọng vào bật nhất.

    Mặc dù Hegel[1] (trong Philosophy of History (Triết học của lịch sử), bản dịch tiếng Anh của Sibree) đã phê bình rằng sự trung thành của bồi thần phong kiến là nghĩa vụ đối với một cá nhân, không phải là nghĩa vụ đối với quốc gia nên đó là qui phạm được xây dựng trên những nguyên lí hoàn toàn trái với công lí. Người đồng hương vĩ đại của ông, Bismarck lại hãnh diện bảo rằng lòng trung thành đối với cá nhân là đức tính của người Đức. Bismarck có đủ lí do để nói như vậy. Lòng trung thành mà Bismarck hãnh diện không phải là đức tính chỉ có ở tổ quốc của ông ta hoặc chỉ có ở một dân tộc hay một quốc gia nào đó, mà mĩ đức của kị sĩ đạo này đã tồn tại mãi đến sau này trong nhân dân của một quốc gia có chế độ phong kiến tồn tại lâu dài nhất. Ở Mỹ nơi mà “mọi người đều bình đẳng với nhau” và người Ai Len còn thêm vào là “và cùng tốt hơn nhau”, quan niệm trung thành cao độ đối với quân chủ của người Nhật tuy có thể được xem như tuyệt hảo trong một giới hạn nào đó, nhưng việc khuyến khích có trong nhân dân chúng tôi có lẽ sẽ bị xem như phi lí. Xưa kia, Montesquieu đã than rằng lẽ phải ở bên này núi Pyrenees lại là điều trái ở phía bên kia núi, và vụ án Dreyfus[2] gần đây không những đã chứng minh rằng Montesquieu nói đúng mà còn cho thấy rặng Pyrenees (rặng núi ở biên giới giữa Pháp và Tây Ban Nha, ND) không phải là ranh giới duy nhất đối với lẽ phải của xứ Pháp. Giống như vậy, quan niệm về trung nghĩa có ở người Nhật có thể không được những người nước khác tán thưởng. Nhưng đây không phải vì quan niệm của chúng tôi sai, mà có lẽ , tôi sợ rằng, vì đã bị quên, hoặc là vì quan niệm mà chúng tôi có đã lên đến độ cao không nước nào khác đạt tới được. Griffis (người viết lời giới thiệu quyển sách này, trong Religions of Japan, ND) hoàn toàn đúng khi bảo rằng ở Trung Quốc nho giáo xem hiếu hạnh là nghĩa vụ thứ nhất của con người. Ở Nhật, trung quân chiếm vị trí thứ nhất này. Tôi xin kể ra đây một chuyện có lẽ sẽ làm độc giả kinh hoàng hoặc cảm thấy ghê tởm, câu chuyện của một trung thần, như Shakespeare nói “người đã chịu đựng gian khổ, phò chúa suy vong” và nhờ đó đã “để lại được tên mình trong câu chuyện”.

    Câu chuyện liên quan đến Michizane (845-903), một nhân vật trong lịch sử Nhật Bản. Bị địch thủ chính trị ghen ghét và vu cáo, Michizane bị tội đày phải rời kinh đô. Dẫu vậy, vẫn chưa được thỏa mãn, kẻ địch tàn nhẫn đã tìm cách tiêu diệt cả gia đình nên đã cho người đi khắp mọi nơi tìm đứa con còn thơ ấu của ông ta. Cuối cùng, địch đã phát hiện đứa trẻ đang được Genzo, một cựu thần của Michizane bí mật giấu trong một trường làng, nên đã ra lệnh cho Genzo phải dâng thủ cấp của đứa trẻ. Nhận được mệnh lệnh, Genzo đã nghĩ ngay đến việc đi tìm một đứa trẻ khác thay thế cho chủ mình. Genzo lật danh sách trẻ đến trường, nhìn kĩ từng đứa, nhưng bọn trẻ nhà quê không có đứa nào giống với ấu chủ. Ông ta đã thất vọng, nhưng, chỉ trong khoảnh khắc. Vừa lúc đó có một bà mẹ dáng người cao quí dẫn một đứa trẻ đến xin nhập học. Đứa trẻ mới đến có cùng dáng dấp và tuổi tác với ấu chủ.

    Bà mẹ và chính đứa con đã biết rõ là mình giống hệt với ấu chủ. Cả hai đã đến trước bàn thờ gia đình cầu nguyện, và đã thầm kín quyết định. Đứa con sẽ dâng mạng mình và bà mẹ sẽ dâng lòng mình. Nhưng không có một dấu hiệu nào hiện lên trên sắc mặt của họ. Ông thầy đã đưa ra đề nghị mà không hề biết những chuyện gì đã xảy ra giữa họ.

    Đúng là đã bắt được con vật hi sinh! Xin được kể vắn tắt phần còn lại. Đúng ngày đã định, một viên quan được phái đến khám nghiệm và nhận thủ cấp. Viên quan có bị lừa bằng một thủ cấp giả không? Genzo đáng thương đã đặt tay mình lên cán gươm, sẵn sàng tuốt gươm chém viên quan hoặc phải đâm vào thân mình nếu việc bị bại lộ. Quan khám nghiệm nâng thủ cấp ghê rợn ở trước mặt mình lên, tỉ mỉ quan sát từng đặc điểm, rồi thong thả, với một giọng nói hành chánh, tuyên bố là thủ cấp thật. Đêm đó, trong căn nhà xa ngoài thôn xóm, bà mẹ mà chúng ta thấy ở trường học đang ngồi chờ. Bà có biết vận mệnh của đứa con mình không? Bà ta chăm chăm nhìn cánh cửa, chờ cánh cửa mở, nhưng không phải vì đợi con mình về. Cha chồng của bà đã được Michizane ban ơn trong một thời gian dài, nhưng từ khi Michizane bị đày, hoàn cảnh đã bắt buộc chồng bà phải phò kẻ địch của ân nhân. Chồng bà không thể gây chuyện bất trung với chủ nhân tàn nhẫn của mình, nhưng con mình thì có thể phục vụ cho chúa quân của tổ tiên mình. Là người quen biết với gia đình của kẻ bị đày nên người chồng đã được tin tưởng giao cho công việc xác nhận thủ cấp. Và, khi đã hoàn thành công việc đau khổ trong ngày, không, trong đời mình, người chồng trở về nhà và khi vừa bước qua ngạch cửa, người chồng đã gọi vợ, nói rằng: “Mình ơi, vui lên đi nào. Con mình đã làm được việc có ích!”

    “Chuyện sao mà tàn khốc quá!” Tai tôi như nghe được tiếng đọc giả kêu la. “Cha mẹ sao lại có thể bình thản hi sinh đứa con vô tội của mình để cứu sinh mạng của kẻ khác!” Nhưng chính đứa trẻ này biết rõ điều này và mong muốn được hi sinh. Đây là câu chuyện nói về việc chết thay, không khác gì với chuyện nói về việc Abraham[3] định đưa con mình, Isaac, ra hi sinh, nên cũng không có gì đáng ghét hơn. Cả hai trường hợp đều là hành vi tuân theo tiếng gọi của nghĩa vụ, chấp nhận mệnh lệnh của tiếng nói từ chỗ cao hơn. Tiếng nói của thiên sứ mắt thường thấy được hay không thấy được, hoặc là tiếng nói nghe được bằng lỗ tai của thể xác hay bằng lỗ tai ở trong lòng; nhưng tôi xin được miễn bàn tiếp về vấn đề này.

    Cá nhân chủ nghĩa của Tây phương thừa nhận lợi ích riêng biệt giữa cha con, chồng vợ cho nên nghĩa vụ đối với người khác tất nhiên sẽ nhẹ đi rất nhiều. Nhưng võ sĩ đạo xem lợi ích của gia tộc và thành viên là một, không thể chia riêng ra được. Lợi ích này gắn liền với tình thương yêu gia đình, vừa có tính tự nhiên, vừa có tính bản năng, không thể chống đối được. Từ đó, nếu chúng ta có thể chết cho người mà chúng ta yêu với tình yêu tự nhiên (ngay như thú vật cũng có tình yêu này), thì đó là gì? “Vì dẫu anh có yêu người yêu mình, có báo đáp nào dành cho anh không? Dẫu là quan thu thuế đi nữa, anh không làm y như mọi người hay sao?”

    Trong sách “Nhật Bản ngoại sử” đồ sộ của mình, bằng những lời nói cảm động, San-yo (1780-1832) đã kể lại nỗi thống khổ của Shigemori (1138-79) liên quan đến hành động phản nghịch của người cha. “Nếu trung quân ta sẽ thành bất hiếu, nếu hiếu hạnh ta sẽ trở nên bất trung.” Shigemori thật đáng tội nghiệp. Sau đó, Shigemori đã cầu nguyện thượng đế, được chết để thoát khỏi trần thế nơi sự thuần khiết và chính nghĩa không có chỗ ở.

    Giống như Shigemori, từ xưa cũng đã có nhiều người bị xé nát con tim vì sự xung đột giữa nghĩa vụ và tình cảm. Thật ra, trong kinh cựu ước cũng như trong Shakespeare không có câu văn hay từ ngữ nào tương đương có thể dịch được tự vựng “hiếu thảo”, khái niệm về sự tôn kính của con cái đối với cha mẹ, và một khi sự xung đột như thế xảy ra, võ sĩ đạo nhất định sẽ không do dự mà chọn lấy “trung”. Phụ nữ cũng nghĩ như vậy, cũng xúi giục con cái mình hi sinh tất cả cho chủ tướng. Vợ của võ sĩ cũng quả quyết không kém gì góa phụ Windham[4] và người chồng nổi tiếng của bà, sẵn sàng hiến dâng con của mình để giữ tròn đạo trung.

    Như Aristotle và một vài học giả xã hội học cận đại đã nói, võ sĩ đạo nghĩ rằng quốc gia có trước cá nhân, cá nhân được sinh ra như một phần, một bộ phận của quốc gia, nên cá nhân phải sống hoặc chết cho quốc gia hay cho người cầm quyền có quyền lực hợp pháp. Những độc giả của “Crito” chắc sẽ nhớ lại chuyện Socrates đã đóng vai luật pháp của thành Athena, tranh cãi với Crito[5] về vấn đề đào tẩu của mình. Ông đã để cho luật pháp nói: “Vì mầy được sinh ra và nuôi nấng dưới tao (luật pháp hoặc quốc gia), mầy hoặc tổ tiên mầy có dám nói không phải là con cái hay không phải là tôi tớ của tao không?”. Chúng tôi hoàn toàn không cảm thấy có cái gì bất thường ở những dòng chữ này, vì võ sĩ đạo đã nói những việc giống như vậy từ lâu. Chỉ khác một chút là ở nước Nhật, luật pháp và quốc gia được tiêu biểu bằng một nhân cách. Trung nghĩa là đức tính được sinh ra từ lí luận chính trị như thế đó.

    Không phải tôi không biết Spencer đã nói rằng sự phục tùng chính trị, ở đây là trung nghĩa, được dành riêng cho chức năng có tính quá độ (trong Priciples of Ethics, vol.I, pt. ii, ch. X) . Có lẽ đúng như thế. Nhưng “đức của một ngày đủ cho ngày đó”. Chúng tôi thỏa mãn với ý nghĩa đó và sẽ lập lại bao nhiêu lần cũng được. Đối với chúng tôi, một ngày ở đây là một khoảng thời gian dài và quốc ca chúng tôi đã có câu hát cho rằng nó dài đến độ “đá cuội thành đá núi phủ đầy rêu“.

    Liên quan đến vấn đề này, gần đây ông Boutmy, công dân của nước Anh, một nước có tiếng là dân chủ, đã nói: “tình cảm trung thành của một cá nhân đối với một người và con cháu của người đó, là tình cảm mà tổ tiên của cá nhân đó, ở đây là dân tộc German, đã cảm thấy đối với những thủ lãnh của họ, tình cảm này ít nhiều được truyền nối và đã trở thành lòng trung thành sâu xa đối với dân tộc và dòng dõi của chúa quân, được biểu lộ qua sự ái mộ đặc biệt đối với hoàng tộc.

    Spencer lại còn tiên đoán rằng sự phục tùng về chính trị rồi sẽ nhường chỗ cho trung nghĩa do mệnh lệnh của lương tâm. Tỉ dụ như suy luận của Spencer có đúng đi nữa, liệu trung nghĩa và bản năng tôn kính có từ đó, có bị biến mất vĩnh viễn không? Chúng ta chuyển lòng trung thành đối với chúa quân mà chúng ta phục tùng đến một chúa quân khác, mà vẫn có thể giữ được lòng thành đối với cả hai: từ việc là thần dân của kẻ thống trị nắm quyền hành thế tục, chúng ta trở thành kẻ nô bộc của quân chủ ngồi trên ngôi vua trong thâm cung của trái tim. Cuộc tranh luận ngu si vài năm trước của các môn đồ lầm đường của Spencer, đã làm cho giới độc giả Nhật Bản hoang mang. Vì quá ủng hộ lòng trung thành bất khả phân đối với quân chủ, những môn đồ này đã phê phán những tín đồ Cơ đốc là kẻ có khuynh hướng phản nghịch vì đã thề trung thành với chúa. Những người này không có cơ trí của kẻ ngụy biện mà lại bày ra nghị luận như thể là người biết ngụy biện. Những người này thiếu sự tinh tế của học giả mà lại nói quanh co theo kiểu học giả. Bọn họ không biết rằng ở một ý nghĩa nào đó chúng ta có thể cùng một lúc “phục vụ cả hai chúa chứ không phải phụng sự cho chúa này mà coi thường chúa kia”. “Hãy trả cho Caesar những cái gì thuộc về Caesar, và cái gì của thượng đế thì hãy nạp lại cho thượng đế”. Socrates đã không nao núng khi từ chối trung thành với lương tâm của mình, nhưng đã bình thản phục tùng mệnh lệnh của quốc gia với lòng trung thực không kém. Sống, ông theo tiếng gọi của lương tâm; bằng cái chết, ông phụng sự quốc gia. Ngày nào mà quyền lực của quốc gia trở nên quá mạnh, đòi hỏi cả quyền được đưa ra mệnh lệnh của lương tâm đối với nhân dân thì ngày ấy, ôi thật đáng buồn.

    Võ sĩ đạo không yêu cầu chúng tôi bắt lương tâm của mình phải làm nô lệ chúa quân. Thomas Mowbray (quí tộc Anh, 1366-99, ND) đúng là người phát ngôn của chúng tôi khi ông nói:

    Dâng mình quì mọp dưới chân vương.
    Tôi có nghĩa vụ vâng lệnh ngài dẫu hi sinh mạng sống.
    Dẫu có chết, danh thơm vẫn sống lâu trên mộ.
    Xin ngài đừng dùng tôi vào việc xấu hổ mất danh dự.

    Võ sĩ đạo đánh giá rất thấp những người hi sinh lương tâm của mình cho những chúa quân có tính khí bất thường, hay những chúa quân ngông cuồng, không tưởng. Những người hay khúm núm, cái gì cũng nịnh bợ chúa quân, bị gọi là “nịnh thần” , hoặc đê hèn theo ý chúa quân để được chúa quân yêu thương, bị gọi là “sủng thần”, đều bị khinh khi. Đây là hai loại bồi thần đúng như “Iago”[6] đã diễn tả. Một, là loại người chẳng ra gì, ưa lòn cúi và dễ bảo, say sưa với tính nô lệ tâng bốc của mình, suốt đời cam phận làm thân lừa cho chủ. Hai, là loại người bên ngoài làm ra vẻ trung thành nhưng trong thâm tâm luôn nghĩ đến những việc có lợi cho thân mình. Trong trường hợp bồi thần có ý kiến khác với chúa quân, con đường trung nghĩa mà bồi thần cần phải theo là dùng tất cả mọi thủ đoạn để sửa cái sai của chúa quân giống như Kent[7] đối với vua Lear. Nếu thất bại trong việc này thì hãy xin chúa quân tuỳ ý đối xử với mình. Trong những trường hợp như thế này, con đường võ sĩ thường theo là dùng lời van nài tối hậu, nhắc nhở đến sự sáng suốt và lương tâm của chúa quân, lấy sự đổ máu của thân thể mình để chứng tỏ sự chân thật của lời nói.

    Lấy sinh mạng làm thủ đoạn để phục vụ chúa quân, và lí tưởng được đặt ở danh dự. Mọi giáo dục và huấn luyện võ sĩ được đặt trên nền tảng này.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Hagel (1770-1831): triết gia duy tâm luận người Đức có nhiều tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng đến những văn nhân và triết gia đời sau trong đó có Mark, Nietzsche, Sartre v.v…

    [2] Dreyfus: đại úy pháo binh người Pháp gốc Do Thái, bị bắt vào tháng 10 năm 1884 do bị tình nghi đã bán tài liệu mật về quân sự cho tòa công sứ của Đức ở Paris. Tòa án quân sự kết án tước chức và đày Dreyfus sang Guinea. Sau đó mới biết đây là án oan vì thật ra thủ phạm là một thiếu tá lục quân khác. Nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng bài Do Thái nên lục quân nhất định không công nhận Dreyfus vô tội. Dư luận của Pháp lúc đó chia làm hai một bên binh vực lục quân, một bên chống đối, tranh cãi nhau dữ dội. Dư luận thế giới cũng lên tiếng phê phán lục quân Pháp. Cuối cùng (năm 1906) tòa án Pháp đã xử lại và công nhận Dreyfus vô tội.

    [3] Abraham: (Cựu ước thánh kinh) Theo lệnh của Thượng đế, Abraham đã quyết đem con mình là Isaac ra làm vật tế thần. Abraham lên núi Moria, trói Isaac để trên giàn lửa và châm lửa. Thượng đế nhìn nhận lòng tín ngưỡng của Abraham là thật sự nên đã dập tắt lửa và ra lệnh dừng việc tế sống Isaac. Thay vào đó Thượng đế đã cho một con dê để làm vật tế thần.

    [4] Windham: Bồi thần của vua Charles I (Anh quốc). Trong nội chiến 1642-1648 (giữa quân đội của nhà vua và quân đội của nghị viện) quân của nhà vua đã bị quân của nghị viện do Cromwel thông lãnh đánh bại, bồi thần Windham và 3 người con trai đều tử trận. Tuy mất cả chồng và con, nhưng trước lời an ủi của mọi ngườI, vợ của Windham vẫn nói là nếu còn có con thì bà sẽ sẵn sàng dâng con mình cho nhà vua.

    [5] Crito: người bạn giàu có của Socrates. Crito đã đã chuẩn bị tiền bạc định giúp Socrates trốn khỏi ngục, nhưng Sorates đã không đồng ý.

    [6] Iago: nhân vật trong bi kịch “Othello” của Sheakespeare. Tướng quân Othello của người Moor (chỉ những người Hồi giáo ở Tây Bắc phi châu) mắc phải gian kế của Iago, nghi ngờ trinh tiết của vợ nên đã giết vợ mình là Desdemona. Khi biết được sự thật là vợ mình trinh bạch, Othello quá hối hận và đã tự tử.

    [7] Kent: Bá tước Kent là cận thần của vua Lear trong bi kịch “Vua Lear” của Sheakespeare.

    Vua Lear có ba người con gái. Người con gái út là Cordelia ngoan ngoản không có tà tâm. Nhưng vì nghe lời dèm pha, vua Lear đã đuổi con gái út ra khỏi cung điện. Sau này, vua Lear đã bị trưởng nữ và thứ nữ ngược đãi, tuy được Cordelia cứu giúp nhưng rốt cuộc đã phải chết trong bi thán. Bá tước Kent là người đã phản đối vua Lear trong việc ngược đãi Cordelia.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  5. #15
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG X

    GIÁO DỤC VÀ HUẤN LUYỆN VÕ SĨ


    Giáo dục võ sĩ đặt việc rèn luyện phẩm chất lên hàng đầu, và việc đào tạo ra những khả năng trí óc như suy tư, kiến thức hay biện luận đứng hàng thứ hai. Đào tạo những tài năng mỹ thuật cũng giữ một vai trò quan trọng trong giáo dục võ sĩ. Những điều cần thiết phải có đối với một người trí thức, sẽ chỉ là những điều phụ thuộc, không phải là thiết yếu trong giáo dục võ sĩ. Tài năng học vấn dĩ nhiên được tôn trọng, nhưng chữ “trí” thường được dùng với nghĩa là trí tuệ và tri thức chỉ có một vai trò khiêm nhường. Trí, nhân và dũng được xem là ba chân giúp võ sĩ đạo đứng vững. Võ sĩ, căn bản là con người của hành động. Học thức không nằm trong phạm vi hành động này. Võ sĩ chỉ lợi dụng khi học thức có liên quan đến chức phận của mình. Tôn giáo và thần học được giao cho tăng lữ và võ sĩ chỉ học khi tôn giáo và thần học tỏ ra có ích trong việc bồi dưỡng dũng khí. Giống như một thi sĩ người Anh, samurai tin rằng “không phải là tín điều đã cứu người mà là người đã biện minh tín điều”.

    Triết học và văn học chiếm địa vị chủ yếu trong giáo dục trí tuệ cho võ sĩ, nhưng mục tiêu không nhằm vào bất cứ một chân lý khách quan nào. Văn học được xem như để tiêu khiển thời gian, và triết học giúp lí giải những vấn đề chính trị hay quân sự hoặc để rèn luyện phẩm hạnh của mình.

    Cho nên chẳng có gì lạ khi thấy chương trình giáo dục võ sĩ gồm có những môn như kiếm thuật, cung thuật, nhu thuật, mã thuật, thương thuật, binh pháp, thư đạo, đạo đức, văn học, lịch sử v.v…Trong những môn này chắc có lẽ phải giải thích đôi chút về lí do tại sao phải học nhu thuật và thư đạo. Võ sĩ trọng những người “chữ tốt” có lẽ vì “văn-tự-biểu-hiện” của chúng tôi mang tính chất hội họa, có giá trị về mĩ thuật nên bút tích được nhìn nhận là biểu hiện của cá tính. Nhu thuật có thể được định nghĩa ngắn gọn như một ứng dụng những hiểu biết về giải phẩu học vào những đòn tấn công và phòng ngự. Khác với đô vật, nhu thuật không lệ thuộc vào sức mạnh cơ bắp. Và cũng khác với những cách tấn công bằng cách dùng vũ khí, đặc sắc của nhu thuật là chộp hoặc đánh một nơi nào đó trong cơ thể làm cho kẻ địch bị tê liệt, không thể chống cự được nữa. Mục đích của nhu thuật không đặt ở chỗ giết kẻ địch mà chỉ nhằm làm kẻ địch không dùng được sức mình trong một khoảng thời gian nào đó.

    Một môn học hết sức cần thiết trong giáo dục quân sự nhưng lại không có trong giáo dục võ sĩ, là toán học, vì chiến tranh trong thời đại phong kiến không cần sự chính xác của khoa học. Vả lại, giáo dục võ sĩ cũng không thích hợp cho việc bồi dưỡng quan niệm về toán học.

    Ventidius (nhân vật trong kịch “Antony và Cleopatra” của Shakespeare, ND) đã nói: “Đức tính biết trọng danh dự của kị sĩ sẽ chọn lấy thua lỗ hơn là kiếm lời từ việc xấu hổ”. Võ sĩ dốt về kinh tế, nhưng kiêu hãnh về sự nghèo khó. Don Quixote[1] kiêu hãnh với cây thương rỉ và con ngựa gầy yếu của mình hơn là với đất đai tiền bạc mình có. Một samurai của Nhật Bản chắc hẳn sẽ đồng tình sâu xa với người kị sĩ La Mancha đầy ảo giác này. Võ sĩ khinh miệt đồng tiền, xem việc làm ra tiền và tích lũy đồng tiền là hạ tiện. Đối với võ sĩ, đúng đây là những lợi lộc bẩn thỉu. Có câu nói thường được dùng để diễn tả sự suy đồi của thế gian là “văn thần yêu tiền, võ thần yêu mạng”. Người coi trọng đồng tiền hoặc mạng sống bị khinh rẻ và kẻ coi thường, được tán tụng. Tục ngữ có câu: “Không nên ham tiền; giàu sang có hại cho trí tuệ”. Vì thế, con cái của võ sĩ được dạy dỗ hoàn toàn không để ý đến kinh tế. Nói chuyện về kinh tế sẽ bị xem là người có sở thích không tốt, không biết giá trị của đồng tiền là dấu hiệu của việc đã được giáo dục tốt. Măc dầu kiến thức về toán số rất cần trong việc tập hợp quân đội hoặc phân chia bổng lộc, đất đai, nhưng việc tính toán tiền bạc thường được giao cho quan chức cấp thấp. Tài chánh công cộng của lãnh địa hầu hết được võ sĩ cấp thấp hoặc tăng lữ quản lý. Võ sĩ có suy nghĩ đều biết đồng tiền tạo ra sức mạnh chiến tranh, nhưng không võ sĩ nào nghĩ đến việc nâng việc tôn trọng đồng tiền lên hàng đức tính. Võ sĩ đạo dạy phải tiết kiệm, đó là sự thật, nhưng không phải vì lí do kinh tế, mà chỉ nhằm mục đích huấn luyện đức tính khắc kỉ. Xa xỉ bị coi là đe dọa lớn nhất đối với con người, võ sĩ phải luôn luôn sống thanh bần. Luật cấm xa xỉ đã nhiều lần được ban hành ở nhiều lãnh địa.

    Chúng ta đọc lịch sử và biết rằng trong thời cổ đại La Mã, quốc gia nhìn nhận sự quan trọng của đồng tiền và công việc của các quan sứ thu thuế và nhân viên tài chính nên đã dần dần nâng đỡ họ lên giai cấp kị sĩ. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng được rằng việc tiêu xài phung phí và lòng tham lam không đáy của người La Mã có liên hệ hết sức mật thiết với việc này. Trái lại, võ sĩ đạo đã nhất quán xem sự nghiệp tài chính như một cái gì thấp kém, thấp kém so với những nghề nghiệp có tính cách trí óc và đạo đức.

    Nhờ coi nhẹ đồng tiền, ghét việc chắt bóp nên võ sĩ đạo đã tránh được nhiều tệ hại do đồng tiền gây ra. Lí do này đủ giúp quan chức của chúng tôi lâu nay xa lánh được những chuyện mua chuộc, hối lộ. Nhưng, than ôi! Ở thời đại và thế hệ của chúng ta, tư tưởng dựa vào sức mạnh của đồng tiền sao lại bành trướng nhanh chóng như thế này.

    Ngày nay, học tập toán số được dùng vào việc luyện tập trí óc, nhưng ngày xưa, giải thích văn học và thảo luận về nghĩa vụ đạo đức được dùng vào việc này. Vì thế ít có những vấn đề trừu tượng khiến cho thiếu niên phải cực lòng suy nghĩ. Như tôi đã trình bày, mục đích lớn nhất trong giáo dục võ sĩ là tạo phẩm hạnh. Người chỉ học rộng biết nhiều không được mọi người kính trọng. Bacon (triết gia người Anh thời Phục hưng, 1561-1626, ND) đã chỉ ra ba công dụng của học vấn là đem lại lạc thú, trang sức cho mình và làm cho mình có năng lực. Võ sĩ đạo coi năng lực là điều tối ưu tiên. Vì năng lực cần trong việc phán đoán và xoay sở công việc. Dầu để xoay sở công việc hay luyện tập tính khắc kỉ đi nữa, võ sĩ đã đặt mục đích giáo dục ở năng lực thực tế này. Khổng tử đã nói: “Học mà không suy nghĩ thì không thấm nhuần, suy nghĩ mà không học thì đó là điều nguy hiểm”.

    Nghề nhà giáo mang màu sắc thiêng liêng khi nhà giáo chọn phẩm hạnh hoặc tinh thần làm đối tượng để huấn luyện, mở mang chứ không phải tri thức hay lí trí. “Cha mẹ sinh ra tôi, nhưng thầy giáo đã dạy tôi nên người”. Võ sĩ có quan niệm như thế nên trò luôn hết mực tôn kính và tin yêu thầy. Thầy được trò tôn kính và tin cậy như vậy phải là nhân vật vừa có nhân cách cao cả, vừa có học thức. Người thầy như vậy sẽ như là người cha của những kẻ mất cha, và là người khuyên bảo của những kẻ lầm lỡ. Cách ngôn của chúng tôi có câu: “Cha mẹ như trời đất, chủ thầy như mặt trời, mặt trăng”.

    Ngày nay mọi công việc đều được trả bằng tiền, chế độ này đã không thịnh hành trong đám môn đồ võ sĩ đạo. Võ sĩ đạo tin rằng có những việc làm không cần phải nghĩ đến giá cả và cũng không cần phải trả tiền. Công việc về tinh thần, dẫu là việc của người thầy hay là việc của tăng lữ, không phải là những công việc không có giá trị mà vì giá trị quá cao không thể đánh giá được nên không thể trả bằng tiền. Ở điểm này, bản năng hoặc danh dự không có tính cách toán số của võ sĩ đã cho ta một bài học chân chính hơn cả kinh tế chính trị học hiện đại. Bởi vì chỉ có những công việc có kết quả rõ ràng minh bạch, có thể đo lường cụ thể thì mới có thể trả được bằng tiền công và tiền lương. Trong khi công việc tốt nhất trong giáo dục là mở mang trí tuệ của con người (kể cả công việc của tăng lữ) thì lại không rõ ràng minh bạch, và không thể đo lường được. Vì không thể đo lường được nên không thích hợp trong việc dùng tiền, để đo giá trị ngoài mặt được. Phong tục đưa tiền hoặc phẩm vật đến thầy vào những mùa nhất định trong năm, được công nhận. Nhưng đây không phải là để trả tiền cho thầy mà là biếu đồ vật cho thầy. Cho nên những người thầy với tính hạnh nghiêm khắc, tự hào về sự thanh bần, đầy uy nghiêm trong lao động, có lòng tự trọng cao trong việc cầu xin, những người thầy đó đều đã vui lòng đón nhận những phẩm vật học trò đem tặng. Những ông thầy này là những nhân cách uy nghiêm, có tinh thần cao cả không chùn chân trước nghịch cảnh, họ là hiện thân cho những điều được xem như mục đích của học vấn, là mẫu mực sống động của tinh thần khắc kỉ, một huấn luyện nghiêm khắc không thể thiếu trong võ sĩ đạo.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Don Quixote: tác phẩm của Miguel de Cervantes Saavedra, người Spain. Don Quixote quê quán ở La Mancha, vốn yêu thích chuyện kị sĩ thời trung cổ nên đã tự hoá thân thành kị sĩ lang thang đi tu nghiệp khắp nơi. Don Quixote đã tạo ra những cuộc mạo hiểm ngớ ngẩn, buồn cười.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  6. #16
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XI

    KHẮC KỈ (TỰ KIỀM CHẾ)


    Rèn luyện nhẫn nại nhồi nhét vào đầu ta tinh thần chịu đựng không than vãn, mặt khác, giáo dục lễ nghĩa dạy ta không được lộ vẻ buồn rầu và đau khổ, khiến người khác mất vui, mất yên ổn. Tổng hợp của hai việc này tạo ra tâm tính khắc kỉ, cuối cùng hình thành một đặc tính của dân tộc, chủ nghĩa khắc kỉ ngoài mặt. Tôi gọi đó là chủ nghĩa khắc kỉ ngoài mặt vì tôi tin rằng chủ nghĩa khắc kỉ không thể trở thành dân tộc tính được và vì rằng một vài thói quen hoặc cử chỉ của người Nhật có thể bị xem là tàn khốc dưới mắt của người nước ngoài. Nhưng thật ra, chúng tôi cũng rất đa cảm, giống như tất cả mọi dân tộc trên thế giới này.

    Tôi còn nghĩ rằng ở một ý nghĩa nào đó người Nhật chúng tôi có thể còn dễ xúc động hơn những dân tộc khác nữa kìa, vì cố gắng kìm hãm những tình cảm tự nhiên chỉ gây ra khổ đau mà thôi. Thử nghĩ trẻ em, nam cũng như nữ, từ thời thơ ấu, đã được dạy dỗ rằng không được khóc, không được than thở để vơi nỗi lòng. Có lẽ đây là vấn đề của sinh lí học để xác định những nỗ lực như thế này có thể làm thần kinh trở thành sắt đá hay không, hay chỉ làm cho thần kinh trở nên mẫn cảm hơn.

    Trong thế giới samurai việc để lộ tình cảm lên mặt bị xem như ra vẻ “không phải nam nhi”. “Vui buồn không hiện ra mặt” được dùng để chỉ một tính cách mạnh mẽ. Tình cảm tự nhiên nhất cũng cần phải kìm hãm. Tỉ dụ, cha ôm con sẽ làm tổn thương uy nghiêm của cha; chồng không được hôn vợ, ở trước mặt người khác thì không được, nhưng ở phòng riêng thì được chứ! Có một người trẻ nói kiểu cách, nhưng đôi phần phản ánh được sự thật, rằng “Người Mỹ hôn vợ trước mặt thiên hạ và đánh vợ trong phòng riêng. Người Nhật ngược lại đánh vợ trước mặt thiên hạ nhưng hôn vợ trong phòng riêng”.

    Có bình tĩnh ở tinh thần, trầm tĩnh trong hành động sẽ không bị bất cứ tình cảm nào chi phối. Tôi còn nhớ trong thời gian chiến tranh với nhà Mãn Thanh (1894-1895), trước nhà ga ở một phố nọ, có một đám người tụ hợp để tiễn đưa người chỉ huy và bộ đội của một trung đoàn rời phố. Có một người Mỹ sống ở đó đã đến ga để xem, nghĩ rằng khi từ giã chắc sẽ có những tiếng la hét bùng nổ tình cảm, vì cả nước đang phấn khởi cao độ và vì trong đám đông có cha, có mẹ, có vợ, có người yêu của những người lính được tiễn đưa. Nhưng người Mỹ đó đã cảm thấy kì dị và thất vọng vì khi tiếng còi thổi và tàu bắt đầu chuyển bánh, hằng ngàn người đã yên lặng lột mũ, cúi đầu tôn kính tiễn chào; không một vẫy khăn, không một tiếng la, chú ý lắm mới nghe được có tiếng khóc thầm trong yên lặng. Đời sống gia đình cũng như thế. Tôi biết chuyện một người cha đã đứng suốt đêm sau cửa kéo nghe tiếng thở của con mình đang nằm trên giường bệnh, nhất định không cho con thấy sự yếu lòng của kẻ làm cha. Chuyện một người mẹ đến lúc lâm chung cũng nhất định không gọi đứa con đang đi học ở xa về vì sợ rằng sẽ khuấy nhiễu việc học vấn của con. Lịch sử và đời sống hằng ngày của chúng tôi đầy rẫy những câu chuyện về những phụ nữ anh hùng không kém gì phụ nữ trong những trang sách cảm động nhất của Plutarch (sử gia, tùy bút gia Hy Lạp, 46-127, ND). Chắc chắn Ian Maclaren sẽ tìm ra được nhiều Market Howe trong đám nông dân của chúng tôi.

    Nhà thờ Cơ đốc ở Nhật Bản ít có những buổi truyền giáo sôi nổi, có thể được lí giải vì tính tự chế này. Nam cũng như nữ, khi thấy linh hồn mình cảm kích, bản năng trước tiên là yên lặng kiềm chế không cho nó lộ ra bên ngoài. Nhiệt tình và lòng thành có thể làm họ cảm động, không ngăn được tình cảm, trong trường hợp đó họ có thể nói những điều mình nghĩ, nhưng đây là chuyện hiếm có. Kể lại kinh nghiệm tâm linh không chừng mực, sẽ phạm điều cấm thứ ba trong thập giới (không được nói chuyện không chừng mực trước thượng đế, ND). Tai của người Nhật sẽ cảm thấy khó chịu khi phải nghe những lời nói thần thánh nhất, những kinh nghiệm thầm kín nhất ở trong lòng, xổ ra trước đám đông hỗn tạp. Một samurai trẻ đã viết trong nhật kí “Mầy không cảm thấy những ý nghĩ thầm kín chuyển mình nhè nhẹ trong mảnh đất linh hồn của mầy sao? Đây là lúc hạt giống bắt đầu đâm chồi. Không được nói gì cả, nói ra chỉ quấy rầy thôi. Hãy để nó nẩy mầm thầm lặng”.

    Dùng miệng lưỡi phát biểu những tư tưởng sâu kín và những tình cảm - đặc biệt về tôn giáo - đối với chúng tôi đó là dấu hiệu rõ ràng của việc thiếu suy nghĩ sâu xa hoặc thiếu thành thật. Tục ngữ có câu “hắn chỉ như trái lựu” để chỉ những người lanh miệng, nhiều lời “mở miệng to để lộ tâm tình của mình”.

    Khi xúc động, chúng tôi cố câm miệng để che giấu xúc động, nhưng đây nhất định không phải vì lòng dạ người Á đông bướng bỉnh ngược ngạo. Nói năng đối với chúng tôi, đúng như một người Pháp đã nói, là “kĩ thuật giữ kín tư tưởng”.

    Hãy thử đến thăm một người bạn Nhật khi người đó có việc đau buồn nhất đời. Chắc chắn người bạn với cặp mắt đỏ ké hay với đôi má ướt lệ, sẽ mỉm cười đón anh. Thoạt đầu anh sẽ nghĩ chắc người đó bị loạn trí. Ép người bạn giải thích lí do, chắc chắn anh sẽ có được vài câu trả lời hết sức vô vị, tỉ dụ như “cuộc đời này đầy khổ ải” ; “Gặp nhau rồi sẽ phải chia tay nhau” ; “Sinh ra sẽ phải chết” ; “Tính tuổi của đứa con đã mất là việc ngu si, thế nhưng đàn bà dễ bị lôi kéo vào chuyện ngu si này” ; v.v và v.v. Nhà quí tộc Hohenzollern có câu nói cao quí là: “Hãy học cách im miệng chịu đựng”. Nhiều tư tưởng đối ứng câu nói này đã có ở nước Nhật trước đó khá lâu.

    Thật ra, khi sự yếu đuối của nhân tính bị đặt trước những thử thách cam go, người Nhật dễ phì cười. Tôi nghĩ rằng thói quen cười trước thử thách của người Nhật có nhiều lí do chính đáng hơn Democritus[1]. Khi gặp nghịch cảnh, lòng bị hỗn loạn buồn phiền, người Nhật thường cười vì không muốn cho người khác thấy mình đang cố gắng giữ bình tĩnh trong lòng. Cười là cách lấy lại thăng bằng đối với việc đau khổ hay giận dữ.

    Vì luôn bị đòi hỏi phải che giấu tình cảm, nên mọi người đã tìm van an toàn cho tình cảm của mình ở những câu thơ ngắn gọn. Một thi sĩ ở thế kỉ thứ 10 nói rằng “Ở Nhật cũng như ở Trung Quốc, khi bị xúc động vì ưu phiền người ta thường bộc lộ những đau buồn đắng cay của mình qua lời thơ. Đau buồn khi nhớ đến đứa con đã mất, bà mẹ đã tưởng tượng cảnh con đang đi bắt chuồn chuồn như lúc còn sống, để an ủi nỗi đau khổ vô bờ bến của mình.

    “Bắt chuồn chuồn, hôm nay đi đâu xa quá vậy con.”

    Tôi xin dừng ở đây không thêm thí dụ nữa, vì tôi nghĩ tôi không đủ sức để dịch ra tiếng ngọai quốc những châu báu của văn học chúng tôi, những suy tư được vắt ra từng giọt từ những trái tim rớm máu để đan thành những lời thơ tuyệt hảo. Thật ra tôi chỉ muốn trình bày những điều thật sự chúng tôi nghĩ ở trong lòng, vì dân tộc tính của chúng tôi thường bị xem hoặc như có vẻ chai cứng, lãnh đạm, hoặc như là một hỗn hợp loạn trí giữa tươi cười và thất vọng, đôi khi bị nghi như có đầu óc không bình thường.

    Lại có thuyết cho rằng vì thần kinh của người Nhật kém nhạy cảm nên họ chịu đựng được đau đớn và không sợ chết. Nghe như có lý trong phạm vi vừa nói. Câu hỏi sau đó là tại sao thần kinh của người Nhật lại kém nhạy cảm? Có thể vì khí hậu của Nhật Bản không có tính kích thích như khí hậu của Mỹ. Có thể vì thể chế quân chủ của chúng tôi không làm cho chúng tôi hứng khởi cuồng nhiệt như thể chế Cộng hòa của Pháp. Hoặc có thể vì người dân chúng tôi đã không sốt sắng đọc Sartor Resartus (Y thường Triết học, ND) như người Anh. Cá nhân tôi, tôi cho rằng vì chúng tôi quá nhạy cảm, tình cảm của chúng tôi quá mãnh liệt, chúng tôi cần phải biết và không ngừng kiềm hãm mình; nhưng lí giải thế nào đi nữa cũng sẽ không chính xác nếu không xem xét việc tu dưỡng tính khắc kỉ từ xưa của người Nhật.

    Tu dưỡng khắc kỉ dễ đi đến chỗ trở nên quá độ. Khắc kỉ quá độ có thể ngăn chận dòng chảy lành mạnh của tâm hồn, có thể làm cho người ta trở thành hẹp hòi, kỳ quái, có thể sinh ra tính cuồng tín, ngụy thiện, thiếu ái tình. Một đức tính dầu cao thượng đến mức nào đi nữa, cũng có mặt trái, có giả dối. Chúng ta phải biết chỗ ưu tú tích cực của mỗi đức tính và theo đuổi lí tưởng tích cực đó. Lí tưởng của khắc kỉ, trong cách nói của người Nhật, là giữ cho lòng mình được bình tĩnh, mượn cách nói của Hy Lạp, là đạt đến trạng thái euthymia, theo Democritus, đó là trạng thái tốt lành tối cao.

    Khắc kỉ đạt đến cực điểm, hiện ra rõ nhất trong chế độ tự sát, chế độ đầu tiên trong hai chế độ mà tôi sẽ trình bày ở phần sau, được gọi là tự sát và phục thù.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Democritus (460 trước CN – 370 trước CN): Democritus được mọi người biết như là triết gia cười của cổ đại Hy Lạp vì trong chủ thuyết của ông, ông đề cao giá trị của sự vui tươi. Ngoài ra ông còn được biết là một trong hai người đã dựng lên lí thuyết nguyên tử cũ.
    thay đổi nội dung bởi: Kasumi, 01-07-2008 lúc 11:27 AM
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  7. #17
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XII

    CHẾ ĐỘ TỰ SÁT và CHẾ ĐỘ PHỤC THÙ


    Hai chế độ này (được gọi là harakiri và katakiuchi) đã được nhiều văn nhân nước ngoài bàn khá đầy đủ.

    Trước tiên tôi xin nói về vấn đề tự sát nhưng xin được hạn chế những quan sát của mình trong giới hạn seppuku hay là kappuku, thường được biết với chữ harakiri, có nghĩa là tự sát bằng cách mổ bụng mình. “Mổ bụng? Sao lại làm chuyện phi lý đến thế!” Chắc hẳn sẽ có người la lên như thế khi nghe tiếng này lần đầu. Với tai người ngoại quốc, thoạt đầu, đây có lẽ là chuyện hết sức kì quái. Nhưng, với những người đã đọc qua tác phẩm của Shakespeare, thì đây không phải là chuyện lạ. Shakespeare đã để cho Brutus nói rằng “Linh hồn của ngươi (Caesar) hiện ra, quay ngược mũi kiếm của ta đâm vào ruột ta.” Một thi sĩ cận đại người Anh, trong tác phẩm Light of Asia (Ánh sáng của Á Châu), đã có câu thơ tả lưỡi kiếm đâm vào bụng nữ hoàng, nhưng không có ai chê tiếng Anh của ông ta thô tục hoặc phạm thượng cả. Một thí dụ nữa, hãy nhìn bức tranh của Guercino trưng bày ở Palazzo Rossa, thành phố Genoa (thành phố ở Tây bắc nước Ý, ND), vẽ về cái chết của Cato[1]. Ai có độc bài thơ Cato ngâm khi lâm chung do Addison (tùy bút gia người Anh, ND) viết, chắc chắn sẽ không chế giễu thanh gươm đã đâm quá nửa vào bụng ông ta. Trong thâm tâm người Nhật, chết bằng cách mổ bụng là câu chuyện của những hành vi cao quí nhất, câu chuyện của đau thương đầy cảm động, cho nên không có gì ghê tởm, không có gì đáng chế giễu, không có gì khiến người Nhật phải cảm thấy xấu xa. Sức mạnh biến sự việc thành đức tính, thành sự vĩ đại, thành tình thương thật là huyền diệu cho nên một cách chết khó coi đã thành một việc tuyệt vời, tượng trưng cho một sinh mạng mới. Nếu không thì cái dấu hiệu (thập tự giá, ND) mà Đại đế Constantine[2] đã thấy sẽ không thể nào chinh phục được thế giới!

    Seppuku không khiến chúng tôi cảm thấy phi lí, không phải chỉ vì chúng tôi có những liên tưởng không có dính dáng gì đến chuyện đó. Việc chọn một chỗ đặc biệt trong cơ thể để cắt, căn cứ vào những gì người ta tin ở phép giải phẩu cổ đại, thì nơi đó là nơi trú ngụ của linh hồn và tình ái. Moses (trong “Cựu ước”, ND) đã viết “ruột của Joseph đau đớn xót xa vì em mình”, hoặc, David đã cầu nguyện Thượng đế đừng quên ruột mình, hoặc, Isaiah, Jeramiah, và những đồng bóng khác trong “Cựu ước” cũng nói “ruột kêu” hay “ruột đau”. Tất cả những điều này đã ủng hộ tín ngưỡng lưu hành trong người Nhật rằng ở bụng có linh hồn trú ngụ. Người Semites (những người có ngôn ngữ thuộc hệ Semite gồm người Ả rập, người Do thái, người Ethiopia v.v…, ND) cho rằng sinh mệnh và tình cảm trú ngụ ở gan, thận và mỡ ở xung quanh. Chữ “hara” có ý nghĩa bao quát hơn chữ “phren” hoặc “thumos” trong tiếng Hy Lạp, và người Nhật cũng giống như người Hy Lạp, nghĩ rằng linh hồn của con người trú ngụ ở chỗ nào đó trong bụng. Ý tưởng đó không nhất thiết chỉ có ở những người cổ đại. Người Pháp có triết gia Descartes[3] nổi tiếng với thuyết linh hồn trú ngụ ở tùng quả tuyến, vẫn nhất định dùng từ “ventre” để diễn tả lòng dạ, một từ hết sức mập mờ trong giải phẩu học, nhưng có ý nghĩa trong sinh lý học. Giống như thế, từ “entrailles” (bộ lòng) được dùng để chỉ tình thương, lòng thương hại. Không phải vì mê tín mà tin như vậy, ngược lại việc này còn có vẻ khoa học hơn, nếu so sánh với quan niệm phổ thông cho rằng con tim là trung khu của tình cảm. Không cần phải hỏi thầy dòng, người Nhật biết rõ hơn cả Romeo (trong bi kịch “Romeo và Juliet” của Shakespeare, ND) nói rằng “ở chỗ vô cùng xấu xa của thây người chết có tên họ người ta”. Những học giả thần kinh học cận đại nói về não bộ của phần bụng hoặc phần xương chậu, cho rằng ở đó có trung khu của thần kinh giao cảm, chịu ảnh hưởng của những tác dụng tâm linh rất lớn. Khi đã thừa nhận thuyết sinh lí học thần kinh này, thì dễ dàng lập ra một tam đoạn luận về “seppuku”. “Tôi sẽ mở chỗ ngồi của linh hồn của tôi để cho anh xem nó ra sao. Hãy nhìn bằng chính mắt anh xem nó dơ hay sạch”.

    Tôi không muốn bị hiểu lầm rằng tôi thừa nhận việc tự sát, trên lập trường tôn giáo lẫn lập trường đạo đức. Nhưng việc việc tôn trọng danh dự được đánh giá cao đã là lí do đủ để cho nhiều võ sĩ phải tuyệt mệnh. Có không biết bao nhiêu người đã đồng thuận với tấm tình do Garth (thi sĩ người Anh, ND) diễn tả.

    Chết là cứu tinh khi danh dự bị mất
    Là căn nhà bình yên để khỏi bị khổ nhục

    Đồng cảm với tình cảm này, nhiều người đã mỉm cười đưa linh hồn của mình vào cõi chết. Võ sĩ đạo chấp nhận cái chết liên quan đến danh dự như một lợi khí để giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. Vì thế cho nên, với những võ sĩ trọng công danh, cái chết tự nhiên, ngược lại, bị xem như vô vị, không phải là cái chết mà nam nhi mong muốn. Tôi dám nói rằng chỉ cần thật sự thật thà thì chắc chắn nhiều người sùng đạo Cơ đốc sẽ thú nhận rằng họ cảm thấy say mê, nếu không phải là tán thưởng tích cực, sự điềm tĩnh tuyệt vời mà Cato, Brutus, Petronius[4] và nhiều vĩ nhân thời cổ đại đã có khi kết liễu mạng sống của mình. Có quá trơ tráo hay không khi nói bóng nói gió rằng cái chết của triết gia thủy tổ (Socrates, ND) có phần nào đó có thể nói là tự sát. Từ những câu chuyện do đệ tử kể lại cặn kẽ, chúng ta có thể biết được rằng thầy của họ sẵn sàng chấp nhận mệnh lệnh của quốc gia, mặc dầu ông ta biết rằng về mặt đạo đức, đó là lầm lỗi, và tuy ông ta có thể chạy trốn, nhưng ông ta đã tự tay mình cầm lấy chén thuốc độc, rưới vài giọt tế thần. Qua toàn thể hành động và thái độ của ông ta, chúng ta không thể nhận ra được rằng đây là hành vi tự sát hay sao? Không có cưỡng bách xác thịt ở đây như những trường hợp xử hình thông thường. Đúng, phán quyết của quan tòa có tính cách cưỡng chế. “Nhà ngươi phải chết, và chết bằng chính tay ngươi”. Nếu tự sát có nghĩa là chết bằng chính tay mình thì trường hợp của Socrates rõ ràng là tự sát. Nhưng không ai có thể buộc tội ông về chuyện đó; Plato, ghét việc tự sát, nên không muốn gọi thầy mình là kẻ tự sát.

    Bây giờ độc giả chắc đã hiểu rằng seppuku không phải chỉ là một hành vi tự sát. Seppuku là một chế độ, có tính luật pháp và tính nghi lễ. Đây là một sáng kiến của thời trung cổ, một phương pháp để võ sĩ chuộc tội, nói lên lời xin lỗi, tránh khỏi nhục nhã, chuộc lại tình bạn, và chứng minh lòng thành của mình. Seppuku được thực thi với nghi thức trang trọng khi bị đem ra thi hành như một hình phạt theo luật pháp. Đây là sự điêu luyện của tự sát, không ai có thể mổ bụng mình nếu không trấn tĩnh được tình cảm hoặc không giữ được điềm tĩnh trong thái độ. Vì thế seppuku là hình thức hết sức phù hợp với võ sĩ.

    Tôi cũng muốn miêu tả ở đây nghi thức đã bị bãi bỏ này chỉ vì lòng hiếu kì thích chuyện cổ của mình. Biết rằng có một tác giả ngày nay ít có người đọc, ưu tú hơn tôi nhiều, đã miêu tả việc này, tuy hơi dài nhưng tôi xin được trích dẫn ra đây. Trong trứ tác “Những câu chuyện Nhật Bản xưa” (Tales of Old Japan), sau bài dịch một khái luận liên quan đến seppuku từ một quyển sách hiếm của Nhật Bản, Mitford đã miêu tả một cuộc xử hình thật sự do chính mắt mình thấy.

    “Chúng tôi (bảy người đại diện ngoại quốc) được mời đi theo sau những người chứng vào “hondo”, gian phòng chánh trong chùa nơi thi hành nghi lễ. Quang cảnh thật trang nghiêm. Hondo có mái cao, cột trụ đen. Trần nhà treo lủng lẳng những đèn ***g phết vàng to lớn và những trang trí chỉ có ở chùa Phật. Trước bàn thờ Phật cao, trên sàn lót chiếu trắng đẹp, có một sạp được phủ bằng nỉ đỏ, cao chừng khoảng một tất. Những cây nến cao sắp hàng đều đặn, tỏa ánh sáng lờ mờ thần bí, vừa đủ để cho thấy mọi việc xảy ra. Bảy người chứng Nhật Bản ngồi ở phía trái trên sàn cao, và bảy người ngoại quốc ngồi ở bên phải. Ngoài ra không có ai khác.

    Sau vài phút chờ đợi lo lắng bất an, Taki Zenzaburo (1837-68), một người đàn ông cường tráng, ba mươi hai tuổi, với vẻ cao quí, trong lễ phục bằng chỉ gai đặc biệt, bước vào phòng. Một kaishaku và ba quan chức mặc jimbaori (áo khoác chiến trận) có luồn chỉ vàng cùng vào. Kaishaku ở đây cần nên biết là không có nghĩa là kẻ hành hình (executioner) như trong tiếng Anh. Đây là công việc của một người có địa vị chững chạc, trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ này được giao cho người bà con thân tộc hay bạn bè của người bị án, và quan hệ giữa họ không phải là quan hệ của tử tù với người hành hình, mà là quan hệ của người giữ vai chính với người trợ giúp. Trong trường hợp này, người kaishaku là môn đệ của Taki Zenzaburo, một người rất giỏi kiếm thuật nên được số đông bạn bè lựa chọn.

    Với người kaishaku ở bên trái, Taki Zenzaburo chậm rãi bước về phía những người chứng Nhật Bản. Cả hai cùng cúi đầu chào, sau đó họ tiến gần đến phía những người ngoại quốc, và giống như trước, họ càng tỏ ra tôn kính cúi đầu chào chúng tôi. Hai bên người chứng đều trịnh trọng đáp lễ. Cuối cùng Zenzaburo bước lên sạp seppuku, chậm rãi và trang nghiêm đến trước bàn thờ Phật lạy hai lạy, sau đó quì xuống xếp chân ngồi trên thảm nỉ, quay lưng sang bàn thờ Phật. Người kaishaku nép mình ở phía bên trái. Một trong ba quan chức phục dịch tiến ra phía trước, tay dâng khay cúng Phật, có để một “wakizashi” bao giấy trắng. Wakizashi là đoản kiếm của người Nhật, dài khoảng ba tấc, có mũi nhọn và lưỡi bén như dao cạo. Người phục dịch cúi đầu lạy đưa khay đến kẻ tử tù. Kẻ tử tù nhận khay, cung kính dùng hai tay nâng khay lên ngang đầu rồi để xuống trước mặt mình.

    Sau một lần cúi đầu thật sâu, Taki Zenzaburo, với giọng nói biểu lộ tình cảm ngập ngừng, đầy xúc động của một người đang thú tội đau đớn, nhưng trên vẻ mặt và thái độ không có một dấu hiệu nào lộ ra.

    “Tôi, một mình tôi, đã phạm lỗi không thể bào chữa, tôi đã ra lệnh bắn người ngoại quốc ở Kobe, và khi nhìn thấy họ chạy trốn, tôi lại ra lệnh bắn tiếp. Tôi sẽ mổ bụng vì đã phạm tội này. Cầu xin quí vị làm ơn chứng kiến cho tôi việc này”.

    Nói xong, Zenzaburo cúi đầu chào thêm một lần nữa rồi lột áo mình xuống đến dây thắt lưng để lộ phần trên thân thể ra. Theo đúng với cách thức, Zenzaburo đã cẩn thận nhét hai cánh tay áo xuống dưới gối mình để thân khỏi bị ngã ngửa ra phía sau; vì người Nhật cho rằng, một võ sĩ có địa vị, khi chết, phải ngã về phía trước. Chậm rãi và với cánh tay vững vàng, Zenzaburo cầm lấy thanh đoản kiếm đặt ở trước mặt mình lên, nhìn vào đó như gởi gắm tấm lòng của mình, gần như là yêu thương, và trong giây khắc, hắn dường như đang tập trung mọi suy tư của mình cho giây phút cuối cùng này, bỗng hắn đâm luỡi kiếm sâu vào dưới bụng trái, chầm chậm rạch luỡi kiếm sang bên phải, lật luỡi kiếm lại trong vết thương rồi kéo lưỡi kiếm lên trên một chút. Trong suốt thời gian làm động tác đau đớn kinh hoàng này, bắp thịt trên mặt hắn không có một cử động. Hắn rút đoản kiếm, rồi khom mình đưa cổ ra. Nỗi đau đớn lần đầu tiên hiện lên trên mặt hắn, nhưng không có một tiếng rên la. Người kaishaku đứng nép bên cạnh, chăm chăm nhìn từng hành động của hắn, đúng vào lúc đó đã bình tĩnh tiến lên, trong phút chốc đã vung một đường kiếm lên không. Một ánh sáng loé, một tiếng soạt nặng nề, ghê rợn, một tiếng rơi vỡ; trong khoảnh khắc cái đầu đã lìa khỏi cổ.

    Trong bầu không khí yên lặng nghẹt thở, chỉ có tiếng máu phun từng đợt, rùng rợn từ đống thịt bất động trước mặt chúng tôi. Chỉ một phút trước đó, đống thịt này đã là một võ sĩ mạnh mẽ, dũng cảm. Thật là một quang cảnh khủng khiếp.

    Sau khi gập mình cúi đầu, người kaishaku rút một tờ giấy trắng đã chuẩn bị sẵn ra lau lưỡi kiếm và xuống sạp seppuku. Đoản kiếm nhuộm máu, chứng cớ đẫm máu của vụ xử hình, đã được trịnh trọng mang đi.

    Hai quan chức đại diện cho Mikado (Thiên hoàng, ND) sau đó đã rời chỗ ngồi đến trước mặt các nhân chứng ngoại quốc yêu cầu chúng tôi chứng thực án tử hình đối với Taki Zenzaburo đã được thi hành đúng đắn. Nghi thức chấm dứt ở đây, và chúng tôi đã rời khỏi ngôi chùa.”

    Cảnh seppuku được ghi lại khá nhiều trong văn học hoặc trong những mẩu chuyện của những người có dịp chứng kiến, nhưng có lẽ chỉ cần đưa ra thêm một chuyện nữa cũng đã đủ.

    Chuyện của hai anh em Sakon và Naiki. Người anh hai mươi bốn tuổi và người em mười bảy tuổi đã tìm cách giết Ie-yasu để trả thù cho cha mình, nhưng đã bị bắt giữ trước khi len lỏi được vào dinh trại. Ông tướng già khen hai anh em có lòng can đảm, dám mưu sát mình nên đã ra lệnh cho phép họ được chết trong danh dự. Tất cả đàn ông trong gia tộc bị tuyên án tử hình. Người em út, Hachimaro, một đứa trẻ mới tám tuổi cũng bị tội chết, và ba người đã được đưa đến một tịnh xá để thi hành án. Một y sĩ được dịp chứng kiến đã ghi lại trong nhật kí của mình cảnh tượng như sau.

    “Khi ba anh em đến ngồi xếp hàng chờ giờ hành hình, Sakon quay sang hướng người em út nói: “Hachimaro, mầy mổ bụng trước đi. Có gì tao sẽ giúp mầy làm đúng cách”. Người em nhỏ trả lời rằng vì nó chưa bao giờ được thấy seppuku, nên nó muốn xem cách làm của người anh, và sau đó nó sẽ làm theo. Hai người anh mỉm cười trong nước mắt. “Giỏi. Mầy thật là mạnh dạn, không hổ thẹn là con của cha.” Rồi hai người để Hachimaro ngồi ở giữa, Sakon đâm đoản kiếm vào bụng trái của mình rồi nói. “Hachimaro, nhìn kĩ đây. Thấy rồi chưa? Đừng rạch dao quá sâu, không thì sẽ bị ngã ngửa đấy. Ụp về phía trước, không được động đậy hai đầu gối.” Giống như thế, Naiki vừa rạch bụng mình, vừa nói với thằng bé. “Nầy, phải mở mắt, không được nhắm, không thì mặt mầy sẽ giống như mặt đàn bà chết. Nếu lưỡi kiếm bị chậm lại, hay không còn sức nữa, thì hãy đem hết can đảm ra, cố rạch cho hết.” Thằng bé nhìn cách làm của hai anh, và khi cả hai tắt thở, nó lặng lẻ cởi áo, mổ bụng mình theo đúng những điều hai anh đã dạy.”

    Xem việc được mổ bụng là điều danh dự làm nẩy sinh ra nhiều lạm dụng. Nhiều người trẻ thiếu suy nghĩ đã vội vàng tìm đến cái chết như con thiêu thân, chỉ vì những lí do không đáng chết hoặc vì những chuyện hoàn toàn không phù hợp với đạo lí. Số võ sĩ chết vì những động cơ không rõ ràng, khó hiểu nhiều hơn số phụ nữ đi tu. Sinh mạng rẻ mạt - rẻ mạt khi được đo bằng tiêu chuẩn danh dự của thế gian. Điều đáng buồn nhất là danh dự luôn luôn giữ được lãi trong việc đổi chác, nhưng thật ra danh dự ở đây không phải luôn luôn là một loại vàng ròng, mà là một thứ hợp kim với nhiều kim loại hèn mọn. Dante (nhà thơ vĩ đại người Ý, 1265-1321, ND) đã giam tất cả những người tự sát vào lao ngục thứ bảy trong phiên bản “địa ngục” của mình, nhưng chắc không ai có thể khoe rằng con số người đó nhiều hơn con số người Nhật đã tự sát.

    Thế nhưng, đối với một võ sĩ chân chính, việc vội chết hoặc liều chết bị xem như đồng nghĩa với nhút nhát. Một võ sĩ tiêu biểu (Yamanaka Shikanosuke 1740?-78, ND), khi bị thất trận liên tục, bị truy kích từ đồng lên núi, từ rừng vô hang, cuối cùng bị đói lã, phải ẩn náu trong bộng cây, gươm cùn, cung gãy, tên cũng không còn mũi nào … trong hoàn cảnh giống như thế, chiến binh La Mã (Brutus, ND) cao quí nhất đã không phải tự vận bằng chính thanh gươm của mình ở Philippi hay sao? Nhưng, võ sĩ này đã nghĩ rằng nếu chết đi thì quả là nhút nhát nên đã ngâm câu thơ sau đây với tâm trạng chịu đựng gần với tinh thần của người Cơ đốc tuẫn đạo để an ủi mình.

    Đến đi! Cứ đến
    Kinh hoàng, khổ nhục, buồn đau.
    Nặng nề cứ chất
    Thử xem sức mình còn được bao lâu.

    Đây là điều võ sĩ đạo dạy. Nhẫn nhục, đối đầu với khốn khổ và nghịch cảnh bằng tấm lòng trong sạch và sự nhẫn nại của mình; vì Mạnh tử dạy rằng: “Khi Thượng đế muốn giao việc lớn cho người ta, trước hết Thượng đế sẽ làm khổ người đó cả linh hồn lẫn thể xác, đặt người đó trong hoàn cảnh đói khổ, làm đảo lộn mọi dự định của người đó”. Danh dự thật sự chỉ có được khi làm tròn nhiệm vụ Thượng đế giao cho, và chết vì nhiệm vụ đó, nhất định không phải là điều nhục nhã. Ngược lại chết để tránh những gì Thượng đế mong muốn, quả thật là việc khiếp nhược. Trong quyển sách kì quái “Religio Medici” (Tôn giáo của bác sĩ) của Thomas Brown (bác sĩ y khoa người Anh, 1605-82, ND), có một đoạn văn hoàn toàn giống với điều võ sĩ đạo chỉ dạy. Tôi xin trích dẫn ra đây. “Coi thường cái chết là điều can đảm. Nhưng nếu sống còn khủng khiếp hơn cả chết, dám sống mới thật là can đảm vậy.” Một danh tăng (Tenkai 1536-1643, ND) ở thế kỉ thứ 17 có nói. “Bình sinh dẫu có ăn nói không khéo thế nào đi nữa, kẻ sĩ chưa có chết lần nào, trong những lúc cần phải chết thường hay lách tránh. Kẻ sĩ đã một lần chết trong tim, thì thương của Sanada (danh tướng thời chiến quốc của Nhật Bản, ND) hay tên của Tametomo cũng không đâm thủng được.” Thật là gần với chỉ dạy của Chúa rằng. “Người bị mất mạng vì ta, sẽ tìm được sinh mạng”. Có người cố tìm cách giải thích về sự khác biệt giữa người Cơ đốc với người khác đạo, nhưng thí dụ trên cho thấy nhân loại, về đạo đức, đều có điểm trùng hợp với nhau.

    Chế độ tự sát của võ sĩ đạo thoạt nhìn có lẽ chúng ta sẽ ngạc nhiên về sự lạm dụng của nó, thế nhưng nhất định đây không phải là một chế độ bất hợp lí, cũng không phải là dã man. Sau đây chúng ta thử xem chế độ anh em với seppuku, được gọi là “phục thù” có điểm nào tốt hay không. Hy vọng tôi có thể trình bày gọn ghẽ trong vài chữ, vì chế độ như thế này, hay hãy gọi là phong tục, có trong tất cả mọi dân tộc, và hiện nay cũng chưa được bãi bỏ hoàn toàn, được minh chứng bằng việc ngay bây giờ cũng vẫn còn tồn tại những trận quyết đấu hay những cuộc xử hình cá nhân. Tại sao một quân nhân người Mỹ đã đòi quyết đấu với Esterhazy (điệp viên, thủ phạm trong xì-căn-đan Dreyfus, ND)? Vì muốn trả thù cho việc Esterhazy đã đổ tội oan cho Dreyfus phải không? Trong một bộ tộc lạc hậu không có chế độ hôn nhân, gian thông không phải là một cái tội, sự ghen tuông của người yêu đã bảo vệ phụ nữ khỏi bị lợi dụng, giống như vậy, trong thời đại không có toà án hình sự, sát nhân không phải là tội, việc người thân của kẻ bị hại trả thù, đã duy trì trật tự xã hội. (Trong thần thoại Ai Cập) Osiris[5] hỏi Horus: “Trên thế giới này, cái gì đẹp nhất?” Horus trả lời: “Đó là việc trả thù kẻ đã giết cha mẹ mình”. Đối với người Nhật thì chắc phải thêm vào “…và kẻ đã giết chúa quân mình… ”

    Trong hành vi trả thù, có một điều gì đó làm cho lòng tôn trọng chính nghĩa được thoả mãn. Lí lẽ của người trả thù như thế này. “Cha tôi là người hiền lương, không có lí do nào để phải chết. Kẻ giết cha tôi đã làm một điều xấu xa gớm ghiếc. Cha tôi, nếu sống, nhất định sẽ không tha thứ cho những hành vi như thế đó. Trời cũng ghét những việc ác đức. Không cho kẻ ác làm điều xấu là ý chí của cha tôi và cũng là ý chí của trời. Hắn phải chết bằng bàn tay của tôi; vì hắn đã làm cho cha tôi đổ máu, tôi, là huyết nhục của cha tôi, tôi phải làm cho kẻ giết cha tôi đổ máu. Tôi không thể đội trời chung với hắn.” Lí lẽ này đơn thuần và ấu trĩ (mặc dầu chúng ta biết rằng Hamlet[6] cũng không có lí do nào sâu xa hơn). Dẫu thế, qua lí lẽ này, ta thấy bẩm sinh con người có cảm giác quân bình chính xác và cảm giác công lí như nhau. “Mắt đổi mắt, răng đền răng”. Cảm nghĩ của chúng tôi về phục thù chính xác như toán số, và khi hai vế của phương trình này chưa bằng nhau, thì chúng tôi vẫn còn có cảm giác như quên làm một điều gì đó.

    Trong đạo Do Thái, nơi người ta đặt niềm tin ở Thượng đế ganh tị, hoặc trong thần thoại Hy Lạp nơi có thần Nemesis (nữ thần phục thù, ND), việc phục thù có thể nhường cho những sức mạnh siêu nhân. Thế nhưng, võ sĩ đạo đã lập một chế độ phục thù dựa vào thường thức, với tính cách như một tòa án về đạo đức để người ta xử những sự kiện không thể xử được bằng luật pháp thông thường. Chúa quân của bốn mươi bảy võ sĩ bị xử tội chết. Không có toà án để cho họ kháng cáo, nên họ đã sử dụng chế độ phục thù, một toà án tối cao duy nhất thời đó. Và như thế đến phiên họ, họ phải chịu hình phạt tử hình bằng luật thông thường, nhưng bản năng của dân chúng đã có phán quyết khác và nhờ vậy tên tuổi của họ luôn được ghi nhớ, mồ mả họ ở chùa Sengaku vẫn còn hương khói. Tuy nhiên, Lão tử đã dạy đáp oán bằng đức, và Khổng tử đã nói rõ hơn là oán phải được đáp lại bằng chính nghĩa. Phục thù vì thế chỉ được xem là đúng khi đó là hành vi vì người trên hay vì người ơn. Đối với những tổn hại của mình hay của vợ con mình thì cần phải nhẫn nhịn và tha thứ. Vì thế võ sĩ hoàn toàn cảm thông với lời thề của Hannibal[7] (mãnh tướng của Carthago, ND) báo thù cho tổ quốc của mình, nhưng lại khinh miệt James Hamilton (nhân vật trong chiến tranh giữa England và Scotland vào thế kỉ thứ 16, ND) vì đã để trong thắt lưng của mình một nắm đất lấy từ mồ vợ để luôn thúc giục mình trả thù những việc ác của nhiếp chính Regent Murray.

    Cả hai chế độ tự sát và phục thù đều không còn lí do để tồn tại trong bộ hình luật hiện đại. Chúng ta không còn dịp nghe được chuyện mạo hiểm lãng mạn của một cô gái trẻ đẹp giả trang đi tìm dấu kẻ giết cha mẹ mình. Kiếm khách Miyamoto (1584-1645) bây giờ đã thành “chuyện nay đã xưa”. Ngày nay, cảnh sát có tổ chức hẳn hoi sẽ điều tra, tìm bắt phạm nhân cho người bị hại và pháp luật sẽ thực thi chính nghĩa. Toàn thể quốc gia và xã hội sẽ sửa phạt những điều sai trái. Có chính nghĩa xã hội, việc phục thù sẽ trở thành không cần thiết. Nếu phục thù là sự đói khát của con tim chỉ muốn được thỏa mãn bằng máu sống của người để cúng như học giả thần học người New England đã diễn tả thì một vài điều trong luật hình đã không thể chấm dứt hoàn toàn việc phục thù được như thế này.

    Tuy seppuku không còn được cho phép tồn tại trong pháp chế, thế nhưng thỉnh thoảng vẫn còn nghe có. Có lẽ khi kí ức của quá khứ vẫn còn tồn tại thì vẫn còn tiếp tục nghe thấy. Khi con số người muốn tự sát trên khắp thế giới gia tăng với tốc độ đáng sợ thì cách tự sát không mất nhiều thì giờ, không đau đớn lắm sẽ được hoan nghênh. Nhưng giáo sư Morselli (tác giả “Tự sát luận”, ND) đã đặc ân cho seppuku địa vị quí tộc trong các phương pháp tự sát. Giáo sư cũng đã chủ trương “trong một trăm trường hợp tự sát bằng phương pháp đau đớn nhất, hoặc cần nhiều thời gian, thì chín mươi chín trường hợp có thể coi như là hành vi của cuồng tín, hoặc phát điên, hoặc cuồng loạn tinh thần do những kích thích bịnh hoạn gây ra.” Nhưng, seppuku bình thường không có một dấu hiệu nào cho thấy có vẻ cuồng tín, phát điên hay mê loạn, và để làm được việc này việc cần nhất là phải có một thái độ trầm tĩnh cao độ. Tiến sĩ Strahan (trong “Suicide and Insanity” (Tự sát và hổn loạn tinh thần), ND) chia tự sát ra thành hai loại “tự sát một cách hợp lí hay là tự sát một cách hoài nghi” và “tự sát một cách bất hợp lí hay là thật sự tự sát ”. Seppuku là tỉ dụ tốt nhất cho loại hình đầu tiên.

    Từ chế độ có mùi máu cũng như từ khuynh hướng tổng quát của võ sĩ đạo, ta có thể suy ra dễ dàng rằng thanh kiếm giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt và qui luật xã hội, đến nỗi đã có câu cách ngôn nói rằng “thanh kiếm là linh hồn của võ sĩ”.



    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Cato (95TCN-46TCN): Cato Uticensis, triết gia phái stoa (được sáng lập vào khoảng 400 trước CN, luận về luận lí, thiên nhiên, luân lí) thời La Mã, giữ chức quan “hộ dân” dưới thời Ceasar nhưng đã chống Ceasar và sau đó đã tự tử.

    [2] Đại đế Constantine (280-337): Hoàng Đế La Mã đầu tiên theo đạo Cơ đốc. Ông có công lớn trong việc phát triển đạo Cơ đốc ở Âu châu.

    [3] Descartes (1596-1650): một trong những triết gia quan trọng nhất ở Tây phương. Ông cũng là nhà vật lí, sinh lí học và toán học nổi tiếng.

    [4] Petronius (27-66): văn sĩ trào phúng La Mã. Tuy bị kết tội phải chết bằng cách tự tử nhưng trong qua trình tự tử Petronius đã điềm nhiên ăn uống và làm thơ.

    [5] Osiris: con của thần trời và thần đất, bị em là thần sa mạc Set giết. Con là Horus đã trả thù cho cha.

    [6] Hamlet: nhân vật trong bi kịch Hamlet của Sheakespeare. Hoàng tử Hamlet xứ Đan mạch thề trước vong linh của vua cha, nguyện phục thù người giết cha mình là thúc phụ và người mẹ đã kết hôn với thúc phụ khi cha vừa mới mất. Vì tính tình hay suy tư dằn dật, Hamlet trách móc trọng thần Polinius, cha của người yêu Ophelia. Hamlet giết Polinius và bỏ Ophilia khiến Ophilia đau khổ, tự tử. Hamlet sau đó tuy trả được thù nhưng đã phải chết trong khổ đau.

    [7] Hannibal (247 trước CN –183 trước CN): Mãnh tướng Hannibal của Carthago (đô thị thuộc Tunisia nay) năm lên chín, đã cùng cha thề trước tế đàn, quyết hi sinh vì tổ quốc đánh đuổi quân La Mã. Vì lời thề này mà Hannibal đã phải chiến đấu với quân La Mã suốt đời.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  8. #18
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XIII

    THANH KIẾM, LINH HỒN CỦA VÕ SĨ


    Trong võ sĩ đạo, thanh kiếm là tượng trưng cho sức mạnh và dũng khí. Khi Mahomet (khoảng 571-632, khai tổ của đạo Hồi (Islam), ND) đã tuyên bố rằng “thanh kiếm là chìa khóa của thiên đàng và địa ngục”, ông ấy chỉ phản ánh tình cảm của người Nhật. Cậu bé samurai học múa kiếm từ lúc còn ấu thơ. Đến năm tuổi, cậu bé được cho phép mang ở thắt lưng một cây kiếm thật thay cho cây kiếm ngắn mà cậu từng dùng làm đồ chơi, được mặc lễ phục của võ sĩ, được đứng trên bàn cờ vây và từ đó cậu bé sẽ được nhìn nhận là có tư cách võ sĩ. Sau nghi thức đầu tiên nhập môn võ sĩ, cậu bé sẽ không bao giờ ra khỏi cổng nhà mình mà không mang theo thanh kiếm như một phần của thân thể mình, mặc dầu trong sinh hoạt hằng ngày, thường thì cậu sẽ mang một thanh kiếm bằng cây sơn bạc thay thế cho kiếm thật. Vài năm sau, đứa trẻ đó sẽ được mang kiếm thật ở thắt lưng, dẫu là kiếm lụt, nhưng với lòng hân hoan nhận được kiếm mới, đứa trẻ thường ra khỏi nhà, dùng kiếm mới chặt thử cây, đá. Khi đến tuổi thành niên, khoảng mười lăm tuổi, đứa trẻ được tự do hành động, đứa trẻ bây giờ sẽ hãnh diện vì được sở hữu thanh kiếm đủ bén nhọn cho mọi công việc. Việc sở hữu một dụng cụ nguy hiểm đã khiến đứa trẻ có cảm giác và dáng điệu tự trọng, có trách nhiệm. “Thanh kiếm không để cho kẻ kiêu ngạo mang”. Cái mà đứa trẻ mang theo mình là biểu tượng của những gì mà người mang nó cảm thấy và nghĩ đến, … đó là trung nghĩa và danh dự. Võ sĩ mang hai thanh kiếm, một dài và một ngắn, … được gọi là “daito” và “shoto” hoặc “katana” và “wakizashi”, và hai thanh kiếm này không bao giờ rời khỏi mình võ sĩ. Khi ở nhà, võ sĩ thường đặt kiếm ở chỗ dễ thấy nhất trong phòng sách, ban đêm, đặt ở gần gối nơi lúc nào cũng có thể với tay đến. Thanh kiếm là bạn đời, được yêu thương, được đặt tên, được tôn trọng gần như sùng bái. Ông tổ của lịch sử (Herodotos, người Hy Lạp, ND) có ghi lại chuyện lạ là người Scythai cúng vật hi sinh cho mã tấu lưỡi liềm sắt. Ở Nhật, đình và gia đình có nhiều nơi giữ kín thanh kiếm để làm đối tượng lễ bái. Ngay như một thanh đoản kiếm tầm thường cũng đáng được tôn kính. Khinh rẻ thanh kiếm của ai tức là lăng nhục người chủ của nó. Thật không may cho ai đó vô ý bước chân ngang qua thanh kiếm để ở sàn nhà.

    Thanh kiếm là vật quí giá như thế nên nó đã trở thành điểm nhắm của sự quan tâm và sự khéo tay của các nghệ nhân, hoặc sự phù hoa của kẻ sở hữu, đặc biệt trong thời bình, khi mà nó chỉ được xem như pháp trượng của vị giám mục, hay quyền trượng của một vì vua. Cán kiếm được bọc bằng da cá mập, có chỉ lụa buộc chặt, chắn kiếm được cẩn vàng và bạc, bao kiếm được sơn mài với nhiều màu sắc, làm giảm phần nào sự ghê rợn của một vũ khí chết người. Nhưng tất cả những trang trí này chỉ là đồ chơi so với lưỡi kiếm.

    Thợ rèn kiếm không chỉ là thợ thủ công mà là một nghệ nhân cảm được sự linh thiêng và nơi làm việc của ông ta là nơi tôn nghiêm. Nghiêm ngặt với kiêng cử, mỗi ngày khi bắt đầu công việc, ông đều tắm rửa sạch sẽ và khấn vái thần phật, hoặc có thể nói là “đem hết tâm hồn của mình vào trong việc trui rèn thanh thép”. Mỗi nhát búa, mỗi động tác nhúng nước, mỗi động tác mài dũa, tất cả đều là những hành vi nghiêm túc, mang tính chất tôn giáo. Kiếm Nhật được cho là như có linh hồn, có lẽ là do tâm hồn của nghệ nhân hay khí thiêng của thần phật nhập vào. Ngoài việc là một sản phẩm mĩ thuật hoàn hảo không thua gì danh kiếm Toledo (cổ đô của Spain, ND) và Damascus (thủ đô của Syria, ND), kiếm Nhật còn có một điều gì đó hơn là một sản phẩm mỹ thuật. Khi rút ra khỏi vỏ, hơi nước bỗng chốc tích tụ trên mặt kiếm lạnh như băng, lấp lánh xanh loè không một gợn mây. Lịch sử và tương lai ẩn mình trong lưỡi kiếm sắc bén vô song. Đường cong của lưng kiếm là kết hợp của sức mạnh cùng với vẻ đẹp siêu đẳng. Tất cả tạo cho chúng ta cảm giác hỗn hợp giữa sức mạnh và vẻ đẹp, giữa tôn kính và sợ sệt. Nếu thanh kiếm chỉ là dụng cụ của vẻ đẹp và sự vui tươi thì đó đúng là vật hoàn toàn vô hại. Thế nhưng khi thanh kiếm còn để ở chỗ mà tay có thể chạm đến thì việc lạm dụng nó không phải là ít. Đôi khi vì muốn thử độ bén của kiếm mới mà nhiều sinh vật vô hại đã bị mất đầu.

    Nhưng vấn đề chúng ta quan tâm là liệu võ sĩ đạo có thừa nhận việc sử dụng đao kiếm bừa bãi như thế đó không? Câu trả lời rõ ràng là, không. Võ sĩ đạo xem trọng việc sử dụng thích đáng đao kiếm, nhưng phản đối và thù ghét việc lạm dụng nó. Vung kiếm không phải lúc là hành vi của kẻ hèn nhát hoặc của kẻ kiêu ngạo. Một samurai làm chủ được mình biết được lúc nào nên dùng kiếm và những lúc như vậy rất hiếm. Hãy lắng nghe lời nói của bá tước Katsu Kaishu (1823-99), nhân vật sống qua thời đại hỗn loạn nhất trong lịch sử Nhật Bản, khi mà những sự kiện đẫm máu như ám sát hoặc tự sát xảy ra hằng ngày. Có thời kì, ông là người có quyền quyết định nhiều chính sách, vì thế đã nhiều lần ông đã trở thành mục tiêu của ám sát. Thế nhưng chưa có lần nào ông để cho thanh kiếm mình nhuộm máu. Có lần cũng với giọng nói bình dân đặc biệt, ông đã kể câu chuyện thời ấy cho bạn mình nghe.

    “Tôi rất ghét chuyện giết người cho nên tôi chưa có giết ai bao giờ cả. Tôi đã thả ngay cả những người đáng bị chặt đầu. Có lần một người bạn của tôi (Kawakami Gensai, người ám sát Sakuma Zozan, ND) đã nói. “Anh không chịu giết ai cả. Thế là không được. Chắc anh ăn bí rợ hay cà dái dê rồi chớ gì? (bản Nhật ngữ ghi lại nguyên văn lời nói của Katsu là : “chắc anh thờ cúng bí rợ hay cà dái dê rồi chớ gì?” Bọn nó là những thứ như thế đó”, ND”. Ừ, anh ta tệ thật. Nhưng anh bạn đó rồi cũng bị giết. Tôi không bị giết chắc cũng là do tôi ghét việc giết chóc. Tôi đã buộc cán kiếm thật chặt vào vỏ để cho khó có thể rút ra được. Tôi đã quyết rằng dẫu mình có bị chém tôi cũng sẽ không chém trả. Ừ, Thật đấy! Cứ nghĩ đó là rận, là muỗi thì có sao đâu, nên dẫu có bị cắn thì chỉ bị ngứa thôi, có quan hệ gì đến sinh mạng đâu?” Đây là câu nói của người được huấn luyện võ sĩ đạo trong thời đại đầy rẫy tai ương và thắng lợi. Có câu tục ngữ “bại là thắng” có nghĩa là kẻ thắng thật sự không chống đối lại kẻ địch cuồng bạo, cũng có câu tục ngữ “không đổ máu mà thắng là cách thắng thượng đẳng” và nhiều câu nói giống như thế, cho thấy lý tưởng tối hậu của võ sĩ đạo là hòa bình.

    Nhưng tiếc rằng việc giảng giải lí tưởng cao đẹp này đã được dành riêng cho tăng lữ và các nhà đạo đức, còn võ sĩ thì cứ mải miết luyện tập và tán dương đặc chất võ nghệ. Và võ sĩ còn đi quá xa, cố tình tạo ra một hình ảnh lí tưởng của phụ nữ với tính tình như những phụ nữ Amazon[1], không thua kém gì đàn ông. Sau đây tôi xin nói về vấn đề giáo dục và địa vị của phụ nữ.



    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Amazon: trong thần thoại Hi Lạp, xứ Amazon là xứ của những võ tướng phụ nữ. Nghĩa bóng dùng để chỉ những người phụ nữ can cường, mạnh bạo như đàn ông.
    thay đổi nội dung bởi: Kasumi, 01-07-2008 lúc 11:30 AM
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  9. #19
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XIV

    GIÁO DỤC và ĐỊA VỊ CỦA PHỤ NỮ


    Phụ nữ, một phân nửa của nhân loại, đôi khi bị gọi là tiêu biểu của mâu thuẫn, vì tâm lý của phụ nữ thường được vận dụng theo trực giác vượt qua tầm hiểu biết có tính số học của đàn ông. Trong hán tự, chữ diệu (妙) có nghĩa là kì lạ, không thể biết được, được tạo ra bằng cách ghép chữ nữ (女) và chữ thiếu (少) có nghĩa là trẻ, vì dung mạo dễ thương và tư duy tinh tế của phụ nữ không thể nào lí giải được bằng tâm lý thô lỗ của đàn ông.

    Thế nhưng người phụ nữ lí tưởng trong võ sĩ đạo không có chỗ nào có vẻ kì lạ và có chăng chỉ là vẻ mâu thuẫn ở bên ngoài. Tôi có nói vẻ bên ngoài đó giống như của đàn bà Amazon (can đảm như đàn ông) nhưng chỉ trúng được có phân nửa. Chữ “phụ” (婦) trong hán tự có nghĩa là người vợ được tạo ra từ chữ nữ (女) và chữ trửu (帚) chỉ người đàn bà cầm cây chổi. Nhất định đây không phải là cây chổi dùng để tấn công chồng hay để phòng thủ, cũng không phải dụng cụ để phù thủy hóa phép (thường xuất hiện trong chuyện cổ tích tây phương, ND), mà đây là chổi được dùng theo cách vô hại có từ xưa. Khái niệm về chữ “phụ” giống như chữ “wife” của tiếng Anh được phái sinh từ chữ weaver (người dệt vải, ND) và chữ “daughter” được phái sinh từ chữ duhitar (người vắt sữa, ND), đều có tính cách gia đình. Hình ảnh lí tưởng của người phụ nữ trong võ sĩ đạo có tính cách gia đình nhiều hơn, không giới hạn trong ba phạm vi hoạt động như hoàng đế nước Đức đã nói là nhà bếp, nhà thờ và con cái. Vừa là phụ nữ đảm đang, vừa can đảm như đàn ông, hai đặc tính có vẻ trái ngược nhau, nhưng với giáo huấn của võ sĩ đạo thì chúng ta sẽ thấy là không có gì mâu thuẫn cả.

    Võ sĩ đạo là những giáo huấn căn bản dành cho đàn ông, nên những đức tính mà võ sĩ đạo đòi hỏi ở phụ nữ rõ ràng khác xa với tính cách của phụ nữ. Winckelman (sử gia mỹ thuật người Đức, 1728-79, ND) đã lưu ý rằng “vẻ đẹp tối cao của nghệ thuật Hy Lạp không phải là ở chỗ có tính đàn bà mà là ở chỗ có tính đàn ông” và Lecky (trong “History of European morals”, ii, p. 383) thêm rằng điều này cũng có trong quan niệm đạo đức của người Hy Lạp, giống như trong quan niệm nghệ thuật của họ. Giống như vậy, võ sĩ đạo tán dương những người phụ nữ “thoát khỏi sự mềm yếu của giới tính, hành động cương cường không thua gì những người đàn ông mạnh mẽ, dũng cảm nhất”. Vì thế, phụ nữ từ lúc còn thơ đã được huấn luyện để có một thần kinh sắt đá, trấn áp tình cảm, sử dụng võ khí, đặc biệt là cách sử dụng “nagi-nata” (dao găm cán dài) để giữ thân khi gặp tình huống bất trắc. Tuy nhiên, võ nghệ của phụ nữ không nhằm mục đích chiến đấu, mà chỉ nhằm để giữ thân và giữ gia đình. Giống như việc chồng mình bảo vệ chúa quân, phụ nữ nhiệt thành bảo vệ sự tôn nghiêm của mình bằng võ khí của mình. Võ nghệ của phụ nữ được sử dụng trong việc giáo dục con trai như chúng ta sẽ thấy sau đây.

    Kiếm thuật và những tập luyện tương tự, tuy thực tế ít có dịp để dùng nhưng có công dụng trong việc giữ gìn sức khỏe, bổ túc cho tập quán ít cử động của phụ nữ. Nhưng võ nghệ này không chỉ rèn luyện với mục đích giữ gìn sức khỏe mà thực sự là để sử dụng khi cần thiết. Thiếu nữ khi đến tuổi trưởng thành sẽ được ban cho một dao găm, gọi là kaiken (kiếm đựng trong bọc, ND), giắt ở ngực dùng để đâm vào ngực kẻ tấn công mình hoặc để đâm vào ngực mình khi cần thiết. Trường hợp sau rất thường xảy ra, nhưng ở đây tôi không muốn xét xử nghiêm khắc những người này vì việc này. Chắc đạo Cơ đốc cũng sẽ không phê phán họ dữ dội, dẫu theo lương tâm của đạo thì việc tự sát là việc đáng ghét. Pelagia[1] và Dominina[2] đã tự sát nhưng cả hai đã được phong thánh vì sự trong sạch và lòng thành kính của họ. Virginia[3] Nhật Bản sẽ không đợi lưỡi dao của cha mình khi biết sự trinh bạch của mình bị đe doạ. Võ khí luôn được giắt ở trong ngực và nếu không biết cách tự giết mình thì đó là điều nhục nhã đối với nàng. Nàng không có học về giải phẩu học nhưng nàng phải biết chính xác chỗ cần phải đâm ở cổ họng; và trước khi chết dẫu có đau đớn đến mấy nàng cũng cần phải biết cách dùng dây lưng của mình buộc hai bắp chân lại để xác mình được phát hiện trong tư thế đàng hoàng nhất với hai chân vẫn được khép kín. Sự cẩn thận như thế này không xứng đáng để so sánh với hành vi của tín đồ Cơ đốc Perpetua[4] hay của trinh nữ Corneria[5] hay sao? Bất ngờ, tôi đặt ra câu hỏi như thế này là vì có người hiểu lầm là ở xứ chúng tôi không có quan niệm trinh tiết khi nhìn thấy một vài chuyện nhỏ nhoi như phong tục tắm chung[6] của chúng tôi. Ngược lại, trinh tiết là đức tính quan trọng nhất của vợ samurai, được coi trọng hơn cả sinh mạng. Có một người đàn bà trẻ bị địch bắt, biết mình sẽ bị bọn võ sĩ thô bạo làm nhục, nói rằng nàng sẽ nghe theo ý muốn của họ nếu họ cho phép viết vài hàng gởi đến cho các chị em bị li tán do chiến tranh. Khi viết xong bức thơ, nàng liền chạy đến một giếng nước gần đó và gieo mình xuống giếng để giữ danh dự cho mình. Trong bức thơ để lại có dòng chữ sau đây.

    Đường trần thế, sợ rằng có ngày bị mây che lấp.
    Chỉ còn cách lẩn dưới vầng trăng thanh vắt ngang đồi.

    Thật là không có công bằng một chút nào nếu tôi đã để cho độc giả nghĩ rằng chỉ phụ nữ có tính cách đàn ông mới là lí tưởng cao cả nhất của chúng tôi. Hoàn toàn trái ngược! Những điều cần có ở phụ nữ là học thức cùng với tài nghệ và sự thanh nhã, uyển chuyển trong cuộc sống. Không coi thường âm nhạc, vũ múa, văn học. Trong những bài thơ haiku hay, điêu luyện, có nhiều bài diễn tả tâm tình phụ nữ và họ đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Nhật Bản. Vũ múa (tôi nói về con cái của samurai chứ không phải nói về geisha (kĩ nữ Nhật Bản, ND)) chủ yếu giúp dáng điệu trở nên dịu dàng, thanh nhã. Âm nhạc dùng để úy lạo chồng, cha. Có nghĩa là không nhằm mục đích vì nghệ thuật, mục đích tối hậu của nghệ thuật, của âm nhạc ở đây là tạo ra sự thanh khiết trong lòng vì nếu lòng không bình thản thì âm nhạc tự nó sẽ loạn điệu. Trong việc giáo dục thiếu niên, như đã nói ở phần trước, tài nghệ luôn ở vị trí phụ thuộc so với những giá trị đạo đức. Trường hợp của phụ nữ cũng giống như vậy. Vũ múa, âm nhạc chỉ nhằm làm cho cuộc sống trở nên thanh nhả, tươi sáng, và chỉ có thế, nhất định không nhằm mục đích nuôi dưỡng lòng kiêu căng và lãng phí. Tôi đồng tình với hoàng tử Ba Tư khi được mời nhảy trong buổi tiệc khiêu vũ ở Luân Đôn, đã thẳng thắn nói: “Ở nước tôi, chúng tôi dành thứ công việc này cho bọn gái đặc biệt làm.”

    Phụ nữ học tập tài nghệ không nhằm mục đích để biểu diễn hay để đạt địa vị trong xã hội. Tài nghệ chỉ được dùng vào việc mua vui trong gia đình và dẫu có dịp phô trương trong tiệc xã giao thì đó cũng chỉ là công việc của bà chủ nhà, nói một cách khác đó chẳng qua chỉ là một cách tiếp đãi khách của gia đình. Vấn đề quan trọng nhất trong giáo dục phụ nữ là giữ gìn gia đình (trị gia, ND) và có thể nói rằng tài nghệ của phụ nữ Nhật Bản xưa, chủ yếu nhằm vào việc gia đình, bất kể văn hay võ. Phụ nữ dẫu có xa nhà đến mấy, họ cũng không bao giờ quên cảnh gia đình xúm xít quanh lò sưởi và để duy trì danh dự và sự tôn nghiêm cho gia đình họ sẵn sàng làm việc vất vả, và hi sinh cả đời mình. Vì tổ ấm của mình, ngày cũng như đêm , họ tiếp tục hát những bài ca lúc mạnh lúc yếu, lúc hùng dũng lúc bi ai. Phụ nữ hi sinh đời mình cho cha, cho chồng, cho con. Từ thời thơ ấu, phụ nữ được dạy phải quên mình. Cuộc đời của phụ nữ không phải là một đời sống độc lập mà là một đời sống phụng sự có tính phụ thuộc. Là người nội trợ, nếu sự hiện diện của mình có lợi cho chồng thì phải cùng chồng lên khán đài, nếu sự hiện diện của mình cản trở công việc của chồng thì phải rút ra phía sau màn. Tỉ dụ có một thanh niên yêu một cô gái và cô gái đáp lại bằng cả nhiệt tình của mình. Nhưng nếu cô gái biết được vì yêu mình mà người thanh niên kia quên mất nhiệm vụ thì sao? Chắc hẳn cô gái sẽ tìm cách làm mất sức quyến rũ bằng cách hủy hoại nhan sắc của mình và đó không phải là chuyện hiếm có. Azuma (khoảng thế kỉ 12-13, Azuma có pháp danh là Kesa, lấy chồng lúc 14 tuổi, chồng là Minamoto Wataru, ND), người đàn bà lí tưởng của những cô gái samurai, biết kẻ tìm cách hảm hại chồng mình yêu thương mình, đã giả vờ tham gia âm mưu giết chồng, nhưng sau đó đã lợi dụng đêm tối thay chồng để lưỡi kiếm của kẻ thích khách yêu mình chặt lấy đầu mình. Dưới đây là bức thơ của vợ một daimyo (lãnh chúa Kimura Shigenari 1593-1615, ND) trẻ tuổi gởi lại cho chồng trước khi kết liễu đời mình. Chắc không cần phải chú giải.

    “Thiếp nghe rằng mọi việc đều suôn sẻ, không có bất cứ tai nạn hoặc rủi ro làm hỏng những việc đã định. Cùng ở dưới một bóng cây, cùng uống nước một dòng sông, giống như mọi chuyện đã được sắp đặt từ kiếp trước. Tính ra cũng gần được hai năm, từ ngày thiếp có duyên thành vợ thành chồng với chàng, thiếp đã sống dựa vào chàng như hình với bóng. Vừa rồi thiếp có nghe chàng sắp phải đánh trận chiến cuối cùng trong đời. Ngày xưa ở Trung Quốc, võ sĩ dũng mãnh nhất thế gian, Hạng Võ trên đường cùng, vẫn tưởng nhớ hình bóng của Ngu Cơ. Dũng sĩ Yoshinaka của chúng ta cũng đã mềm lòng khi phải từ giã vợ mình (tên là Matsu, ND). Thế nên thiếp, kẻ không còn có mong muốn gì trong cuộc đời này nữa, ít ra cũng phải quyết thực hành việc cuối cùng thiếp cần phải làm trong lúc chàng còn sống, và hẹn sẽ đợi chàng trên con đường vào cõi chết. Xin chàng đừng bao giờ quên, đừng bao giờ quên ơn nghĩa như trời biển của chúa quân Hideyori đã ban cho chúng ta.”

    Phụ nữ đường đường, vui lòng xả thân vì chồng con, và gia tộc giống như nam nhi xả thân vì chúa quân, và xứ xở. Từ bỏ bản ngã - không một bí ẩn nào của nhân sinh được giải quyết nếu thiếu điều này - là điều chủ yếu của tính gia đình của phụ nữ, tương tự như việc trung nghĩa của nam giới. Phụ nữ không bao giờ là nô lệ của đàn ông giống như chồng họ không bao giờ là nô lệ của chúa quân. Vai trò của phụ nữ có tính cách “naijo” có nghĩa là “trợ giúp bên trong”. Trên bậc thang cao dần của việc phụng sự, phụ nữ xã thân vì nam giới, từ đó nam giới có thể bỏ mình cho chúa quân và trên cơ sở đó chúa quân có thể vâng theo ý trời. Tôi biết khuyết điểm của việc giáo quấn như thế này và tôi cũng biết điểm ưu việt nổi bật nhất của Cơ đốc giáo là đòi hỏi trách nhiệm trực tiếp của mọi người đối với đấng tạo hóa. Tuy nhiên, giáo nghĩa của việc phục vụ - có nghĩa là hi sinh cá tính của mình để phục vụ cho một mục đích cao hơn mục đích của bản thân, là lời chỉ dạy lớn lao nhất của đức Jesus, tạo thành điểm chính thần thánh trong sứ mệnh của ngài – dựa vào điều này thì có thể nói là võ sĩ đạo cũng đã đặt cơ sở trên chân lí vĩnh viễn.

    Chắc độc giả sẽ không chỉ trích rằng tôi có thiên kiến thiên vị càn bậy, thừa nhận sự phục tùng có tính cách nô lệ của ý chí. Trên đại thể, tôi chấp nhận thuyết mà Hegel, triết gia học rộng nghĩ sâu, đã chủ trương và biện hộ rằng “lịch sử là sự phát triển và thực hiện của tự do”. Điều mà tôi muốn nói rõ ở đây là giáo huấn của võ sĩ đạo, tất cả đều thấm nhuần tinh thần hi sinh cá nhân, không phải chỉ đòi hỏi ở phụ nữ mà ở cả nam giới. Vì thế, ngày nào mà ảnh hưởng của võ sĩ đạo vẫn còn, xã hội chúng tôi sẽ không tán thành quan điểm khinh suất của người Mỹ chủ trương nữ quyền, kêu gọi “tất cả phụ nữ Nhật Bản, hãy đứng lên chống lại những tục lệ cũ xưa”. Liệu một cuộc phản nghịch như thế này có thể thành công? Và rồi, địa vị của phụ nữ có được nâng cao? Quyền lợi dễ dàng dành được như thế này có đủ để đền bù lại sự mất mát của những hành động dịu dàng, tính nết nhu mì mà phụ nữ đã kế thừa hôm nay không? Sự băng hoại đạo đức đã xảy ra khi một số phụ nữ La Mã không còn thiết tha gì với gia đình, trầm trọng đến nỗi không thể tả phải không? Những người Mỹ chủ trương cải cách có thể làm cho chúng tôi hiểu và nhìn nhận rằng sự phản nghịch của phụ nữ đúng là con đường phát triển của lịch sử cần phải theo không? Đây là vấn đề hết sức quan trọng. Biến đổi phải và sẽ xảy ra không cần phải qua những phản kháng. Hãy thử xem địa vị của phụ nữ dưới chế độ võ sĩ đạo có thật là tồi tệ đến độ cần phải thừa nhận một sự phản kháng?

    Chúng tôi có nghe nhiều về sự tôn kính ngoài mặt mà kị sĩ Âu châu dành cho “Thượng đế và quí bà”. Sự không cân đối của hai từ ngữ này đã làm cho Gibbon (sử gia , nghị viên người Anh, 1737-94, ND) đỏ mặt. Vả lại, theo Hallam (sử gia người Anh, 1777-1859, ND), đạo đức của kị sĩ đạo rất thô tục, rằng sự chiều chuộng phụ nữ tiềm ẩn tình yêu bất chính. Ảnh hưởng của kị sĩ đạo đối với phụ nữ là đề tài suy ngẫm cho các triết gia. Guizot (sử gia người Pháp, 1787-1874, ND) cho rằng chế độ phong kiến và kị sĩ đạo đã tạo ra những ảnh hưởng lành mạnh, trong khi đó Spencer nói rằng trong xã hội quân sự (và xã hội phong kiến nếu không phải là xã hội quân sự thì là gì?) địa vị của phụ nữ đương nhiên sẽ thấp, và chỉ được cải thiện khi xã hội có công nghiệp phát đạt hơn. Thuyết của Guizot hay của Spencer đúng đối với Nhật Bản? Tôi nghĩ rằng cả hai đều đúng. Giai cấp quân nhân ở Nhật Bản giới hạn trong phạm vi samurai, gồm khoảng hai triệu người. Ở trên họ là những quí tộc quân nhân, những “daimyo”, những quí tộc triều đình, những “kuge”. Những quí tộc có địa vị cao, sống an dật này chỉ là những võ nhân trên danh nghĩa. Dưới võ sĩ là đám thường dân, nông, công, thương, suốt đời chuyên làm những công việc yên bình. Những điều mà Herbert Spencer đưa ra xem như là những hình thái đặc biệt của xã hội quân sự, có thể nói rằng tất cả chỉ có ở giai cấp võ sĩ. Trong khi đó những hình thái đặc biệt của xã hội công nghiệp lại chỉ có thể thấy được ở những giai cấp trên và dưới giai cấp võ sĩ. Nhìn vào địa vị của phụ nữ thì sẽ thấy rõ được điều này. Nghĩa là, phụ nữ ít được hưởng tự do nhất ở giai cấp samurai. Lạ lùng thay, ở giai cấp càng thấp - tỉ dụ như giai cấp thợ thủ công - địa vị vợ chồng càng trở nên bình đẳng hơn. Ở hàng quí tộc địa vị cao hơn, cũng giống như vậy, sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới không đáng kể, chủ yếu vì sinh hoạt của quí tộc nhàn rỗi đúng là đã bị phụ nữ hóa. Vì vậy thuyết của Spencer đã được minh chứng trong xã hội Nhật Bản cũ. Còn thuyết của Guizot, những người đã đọc những quan niệm về xã hội phong kiến của ông này chắc sẽ nhớ rằng đối tượng khảo sát đặc biệt của Guizot là những quí tộc có địa vị cao, do đó có thể áp dụng thuyết của ông vào giai cấp daimyo và kuge.

    Nếu những giải thích của tôi khiến ai đó nghĩ rằng địa vị của phụ nữ rất thấp trong võ sĩ đạo, thì tôi đã phạm lỗi thiếu công chính lớn lao đối với sự thật của lịch sử. Tôi sẽ không do dự mà nói rằng phụ nữ không được đối xử bình đẳng với nam giới. Nhưng nếu không biết nhận rõ sự khác nhau giữa dị đồng và bất bình đẳng thì thường khó tránh khỏi hiểu lầm về vấn đề này.

    Khi nghĩ rằng ngay cả đối với nam giới, nam giới cũng chỉ được bình đẳng với nhau trong một vài trường hợp hiếm hoi như ở tòa án hay trong lúc bầu cử, thì việc thảo luận về bình đẳng giới là điều vô ích chỉ gây phiền hà. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ có câu nói mọi người được tạo ra đều bình đẳng, nhưng không có nghĩa là bình đẳng về năng lực thể xác hay tinh thần. Đây chỉ muốn nhắc lại lời nói của Ulpian (luật gia người La Mã, ?-228, ND) xưa kia, rằng “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Trong trường hợp này, quyền lợi về pháp luật là thước đo của sự bình đẳng. Nếu pháp luật là một thước đo duy nhất đo được địa vị của phụ nữ trong xã hội thì việc nói lên sự cao thấp của địa vị phụ nữ cũng dễ dàng như việc đo trọng lượng của họ. Thế nhưng vấn đề là : có tiêu chuẩn chính xác để so sánh địa vị tương đối trong xã hội giữa nam và nữ hay không? So sánh giá trị giữa nam và nữ rồi đưa ra một tỉ lệ bằng một con số giống như là so sánh giá trị giữa vàng và bạc, và như vậy có đúng và đầy đủ không? Phương pháp tính toán như thế đó sẽ để một thứ giá trị quan trọng nhất của con người là giá trị nội tại ra ngoài việc khảo sát. Nếu nghĩ rằng để hoàn thành sứ mệnh trong cõi đời, nam nữ cần rất nhiều thứ năng lực khác nhau, thì thước đo dùng để đo địa vị tương đối giữa nam nữ phải là một thứ có tính chất phức hợp. Hoặc nếu dùng từ ngữ kinh tế thì đó phải là một “tiêu chuẩn đa nguyên”. Võ sĩ đạo có tiêu chuẩn của riêng mình, và đó là tiêu chuẩn của phương trình có hai số hạng. Giá trị của phụ nữ được đo bằng hai số hạng là chiến trường và gia đình. Ở số hạng đầu phụ nữ bị đánh giá rất nhẹ, nhưng ở số hạng sau thì là tuyệt hảo. Đối đãi dành cho phụ nữ tương ứng với sự đánh giá hai tầng này. Nghĩa là, thấp với tư cách là đơn vị chính trị, xã hội, trong khi nếu là mẹ và là vợ, phụ nữ được thương yêu và kính trọng vào bậc nhất. Tại sao ngay giữa những quốc dân nghiêng về quân sự như người La Mã xưa, phụ nữ vẫn được kính trọng hết mức? Vì họ là những “matronae” , có nghĩa là những bà mẹ phải không? Không phải vì là chiến sĩ, cũng không phải vì là chính trị gia mà vì là những bà mẹ của họ nên người La Mã đã cúi mình trước phụ nữ. Chúng tôi cũng như thế. Trong những lúc cha hoặc chồng ra chiến trường, việc quản lí gia đình được giao cho người mẹ hoặc người vợ. Những người phụ nữ này được giao phó việc giáo dục con trẻ, kể cả việc bảo vệ chúng. Như tôi đã trình bày ở phần trước, việc luyện tập võ nghệ của phụ nữ chủ yếu nhằm mục đích tạo cho họ khả năng sáng suốt hướng dẫn và theo dõi việc giáo dục con cái.

    Trong những người ngoại quốc có kiến thức nửa vời về người Nhật, một số thấy người Nhật gọi vợ mình là “gusai” (con vợ ngu của tôi), từ cái nhìn bề ngoài, đã cho đây là bằng chứng người vợ bị khinh miệt, ít được kính trọng. Nhưng chỉ cần nói những chữ như “gufu” (người cha ngu của tôi), “tonji” (thằng con như heo của tôi), “sessha” (kẻ ngốc này, để xưng “tôi”) cũng được dùng trong đối thoại hằng ngày, thì câu trả lời đã đủ rõ.

    Tôi nghĩ rằng quan niệm kết hôn của người Nhật, ở một điểm nào đó, tiến bộ hơn những người được gọi là tín đồ Cơ đốc. “Trai và gái hợp lại thành một thể xác”. Chủ nghĩa cá nhân của Anglo-Saxon không thể thoát ra khỏi quan niệm chồng và vợ là hai nhân cách khác nhau. Vì thế khi vợ chồng bất hòa, họ thừa nhận quyền lợi của nhau, và khi họ đằm thắm, họ dùng mọi thứ từ ngữ ngọt ngào vô nghĩa để nịnh hót nhau. Thế nhưng vẫn chưa đủ, đối với người ngoài, họ nói người bạn đời của mình nào là tử tế, là thông minh, là dễ thương - thật sự tốt hay xấu, không biết - những điều nghe hết sức trái tai. Khi nói tới mình mà cứ bảo là “thằng tôi thông minh” hoặc “thằng tôi dễ thương” thì thử hỏi nghe có được không? Chúng tôi nghĩ rằng khen vợ mình đồng nghĩa với khen một phần nào đó của mình. Và chúng tôi cũng xem việc khen mình ít nhất cũng là một sở thích không tốt. Tôi hi vọng trong những dân tộc Cơ đốc cũng có cách nghĩ như thế ! Gọi vợ mình một cách lễ phép nhưng xấu miệng là cách gọi quen thuộc trong hàng ngũ võ sĩ. Vì thế tôi đã rẽ ngang lâu lắc để bàn về vấn đề này.

    Người dân tộc Teuton (tiền thân của dân tộc Đức, ND) bắt đầu cuộc sống của bộ lạc mình trong nỗi kinh sợ có tính cách mê tín đối với phụ nữ (trên thực tế, việc này mất dần ở nước Đức!), và người Mỹ bắt đầu cuộc sống xã hội của mình với nhận thức đau đớn của sự thiếu nhân số phụ nữ (ngày nay, nhân số phụ nữ gia tăng nên tôi sợ rằng đặc quyền mà người mẹ có được trong thời kỳ thực dân sẽ nhanh chóng mất đi) nên trong văn minh Tây phương sự kính trọng của nam giới đối với nữ giới đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức chính yếu. Nhưng đạo đức của võ sĩ đạo đã tìm ngả rẽ của thiện ác ở một nơi khác. Ngả rẽ nằm dọc theo con đường nghĩa vụ nối linh hồn thiêng liêng của mình với linh hồn của người khác dựa theo đạo ngũ luân mà tôi đã nói ở phần trước. Trong đạo ngũ luân, tôi đã giải thích “trung nghĩa”, quan hệ của một người với tư cách là thần hạ đối với người có tư cách là chúa quân. Những điểm còn lại, tôi chỉ đề cập đến khi có cơ hội vì đó không phải là những đặc chất của võ sĩ đạo. Đó là những điều đặt căn bản trên tình ái tự nhiên của con người, là điểm chung cho tất cả nhân loại. Tuy nhiên một vài điểm đặc biệt đã được nhấn mạnh tùy theo tình huống được rút ra từ giáo huấn của võ sĩ đạo. Liên quan đến điều này, tôi nghĩ đến nét đẹp và sức mạnh cố hữu có trong tình bằng hữu giữa nam giới với nhau. Tình bằng hữu như thế này nhiều lúc tạo ra lòng yêu mến lãng mạn trong việc thề nguyền kết nghĩa anh em. Và chắc chắn là lòng yêu mến này trở thành sâu đậm hơn bởi tập quán khi còn trẻ nam nữ phải ở riêng. Việc nam nữ ở riêng đã bít kín con đường lưu thông tự nhiên của tình ái có trong kị sĩ đạo Âu châu, hay có trong việc giao tế tự do của nam nữ ở những vùng đất Anglo-Saxon. Chúng tôi có thể dùng nhiều giấy mực kể những chuyện ở Nhật Bản giống như chuyện của Damon và Pythias[7] hay của Achilles với Patroclos[8], và những câu chuyện của võ sĩ đạo về tình bằng hữu sâu đậm, không thua gì tình bằng hữu giữa David và Jonathan[9].

    Mặt khác, đạo đức và những chỉ dạy độc đáo của võ sĩ đạo không chỉ giới hạn trong giai cấp võ sĩ. Điều này khiến tôi phải gấp rút khảo sát sự cảm hóa của võ sĩ đạo trong phạm vi toàn quốc dân.


    --------------------------------------------------------------------------------

    [1] Pelagia: trinh nữ Pelagia 15 tuổi của xứ Antioch (nay thuộc Thổ Nhĩ Kì) đã chọn cái chết bằng cách nhảy từ nóc nhà xuống biển để khỏi bị lính hãm hiếp nhục nhã.

    [2] Dominina: Dominina đã cùng với hai con gái dìm mình xuống sông tự tử để khỏi bị lính hãm hiếp nhục nhã.

    [3] Virginia: Nhà độc tài Claudius (La Mã) thấy Virginia đẹp nên muốn bắt làm nô lệ và tì thiếp cho mình. Cha của Virginia vì quá phẫn nộ trước hành vi bạo ngược của kẻ độc tài, đã to giọng “Con ơi. Cha sẽ cứu con.” và ông đã đâm chết con mình trước mặt công chúng để giữ gìn trinh tiết cho con.

    [4] Perpetua: phụ nữ người châu Phi theo đạo Cơ đốc. Trong chiến dịch đàn áp đạo Cơ đốc, Perpetua bị bắt và bị dẫn đến La Mã cho thi đấu với thú dữ. Theo lệ thì phải lột y phục, nhưng Perpetua đã van xin quan hiến và với sự đồng tình của quần chúng, nàng đã được giữ nguyên y phục khi thi đấu. Bị thú dữ vồ chụp nhưng nàng vẫn cố gắng kéo y phục rách nát che thân. Cuối cùng Perpetua đã bị thú dữ cào chết.

    [5] Cornelia: một trong 6 trinh nữ được phái đến cung điện của nữ thần Vesta (nữ thần La Mã) để giữ lửa trong lò thánh được cháy mãi. Trinh nữ Cornelia đã phạm phải điều cấm nên bị xử tử hình bằng cách chôn sống. Cornelia đã cố giữ y phục của mình được chỉnh tề khi bị chôn sống.

    [6] Phong tục tắm chung của người Nhật (cha con hoặc vợ chồng tắm chung với nhau trong cùng một phòng tắm, hoặc bồn tắm), ngày nay vẫn còn.

    [7] Damon và Pythias: Damon là bạn thân của Pythias. Pythias vì có tội nên bị bạo chúa Dionusios tuyên án tử hình. Trước khi thụ hình, Pythias xin được về quê thu xếp việc nhà. Damon đã đứng ra bảo lãnh cho bạn. Damon vào ngục và sẽ thay bạn nhận án tử hình nếu bạn không trở lại. Đúng như lời hứa, sau khi thu xếp việc nhà, Pythias đã trở lại. Dionusios cảm kích tình bạn của hai người nên đã tha tội cho Pythias.

    [8] Achilles và Patroclos: trong trận đánh ở thành Troia (cổ Hy Lạp), Achilles là dũng sĩ có sức mạnh vô địch, nhưng qua cuộc tranh luận với nguyên soái Agamemnon, Achilles đã rút quân khỏi chiến tuyến. Quân Hy Lạp sau đó đã bị người Troia tập kích đốt chiến thuyền. Bạn của Achilles là Patroclos thay Achilles mặc áo giáp ra trận nhưng đã bị tướng của Troia là Hector giết chết. Achilles đem quân trở lại đánh và đâm chết Hector, trả thù cho bạn mình.

    [9] David và Jonathan: David là thần hạ của vua Saul (vua của Israel) và Jonathan là con của Saul. Hai người kết bạn thân giao. Trong trận chiến với người Perisite, Jonathan bị giết chết, David đã làm “bài hát của cây cung “để tế bạn mình.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  10. #20
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XV

    SỰ CẢM HÓA CỦA VÕ SĨ ĐẠO


    Đạo đức của võ sĩ đạo cao hơn mức tổng quát trong đời sống của quốc dân rất xa và trước nay tôi cũng chỉ khảo sát một vài đỉnh cao nổi bật trong số đó. Khi mặt trời mọc, trước tiên, đỉnh núi cao nhất nhuộm hồng, rồi từ từ ánh sáng mới bắt đầu chiếu xuống thung lũng. Giống như thế, hệ thống luân lí trước tiên soi sáng giai cấp võ sĩ, theo dòng chảy của thời gian, một số người trong đám dân thường bắt đầu chú ý và noi theo. Chủ nghĩa dân chủ dựng người vương giả trời ban thành người lãnh đạo và chủ nghĩa quí tộc truyền bá tinh thần vương giả ra trong khắp mọi người. Đạo đức cũng truyền nhiễm không kém gì tội ác. Emerson có nói rằng: “Trong cùng một bọn, chỉ cần có một người khôn thì cả bọn đều khôn. Sự truyền nhiễm nó nhanh như thế đó.” Không có bất cứ giai cấp nào của xã hội có thể ngăn chặn sức truyền bá của cảm hóa về đạo đức.

    Chúng tôi có thể kể thao thao bất tuyệt cuộc tiến quân dành thắng lợi cho tự do của dân Anglo-Saxon, nhưng việc này ít khi được đại chúng thúc đẩy. Đằng nào đây cũng chỉ là sự nghiệp của các hương sĩ và gentlemen phải không? Taine rất đúng khi cho rằng: “Ba âm được dùng ở phía bên kia eo biển có thể tóm tắt lịch sử của xã hội nước Anh”. Đối với phát ngôn như thế đó, chủ nghĩa dân chủ sẽ đưa ra phản biện đầy tự tin, và chắc hẳn sẽ hỏi lại như sau: “Lúc Adam bới đất, Eve dệt vải, thì gentlemen ở đâu nhỉ?” Thật là đáng buồn vì gentleman không có ở Eden. Tổ tiên của nhân loại phải chịu đau khổ và phải trả giá đắt cho sự vắng mặt của gentleman. Nếu gentleman có ở đó thì thiên đường không những đầy hương vị, tổ tiên chúng ta không cần phải chịu đau khổ mà vẫn có thể học hỏi được rằng việc bất phục tùng đối với Jehovah (Thượng đế, ND) có nghĩa là bất trung và nhục nhã, là phản bội và phản nghịch.

    Nhật Bản của quá khứ có được là nhờ ơn của võ sĩ. Võ sĩ không những là cành hoa của quốc gia mà còn là gốc rễ nữa. Tất cả mọi ân huệ của Thượng đế đều thông qua họ đến với mọi người. Về mặt xã hội, võ sĩ đã tách mình ra khỏi quần chúng, nhưng họ đã lập ra tiêu chuẩn đạo đức cho quần chúng, tự mình thành mô phạm, hướng dẫn quần chúng. Tôi thừa nhận trong võ sĩ đạo có giáo huấn nội bộ và công khai. Giáo huấn công khai nhằm vào lợi ích chung, giữ gìn an ninh và hạnh phúc cho xã hội, giáo huấn nội bộ có tính đạo đức thuần túy, nhấn mạnh việc thực hành hành vi đạo đức.

    Thời kì kị sĩ đạo thịnh hành nhất ở Âu châu, kị sĩ cũng chỉ là một phần nhỏ trong dân số. Nhưng như Emerson đã nói “phân nửa kịch và tất cả tiểu thuyết trong văn học Anh quốc, từ thời Philip Sidney (thi sĩ thế kỉ 16, ND) đến thời Walter Scott (tiểu thuyết gia thế kỉ 18, ND) đều nhằm miêu tả nhân vật này (gentleman).” Nếu thay Sidney và Scott bằng Chikamatsu (1653-1724) và Bakin (1767-1848), các bạn sẽ thấy rõ đặc tính chủ yếu của văn học sử Nhật Bản.

    Dân chúng được giải trí và học hỏi qua nhiều hình thái - diễn kịch, kí tịch (tiếng Nhật là “Yose”: nghệ thuật kể chuyện gồm chuyện cười, chuyện vũ dũng v.v…, ND), kịch búp bê Joruri, tiểu thuyết – lấy chủ đề từ những câu chuyện của võ sĩ. Nông dân quây quần quanh bếp nghe kể đi kể lại chuyện của trung thần Benkei đối với chủ tướng Yoshitsune (1159-89), hoặc chuyện vũ dũng của hai anh em Soga (1172-93; 1174-93) mà không bao giờ thấy chán. Bên cạnh bếp, bọn trẻ nghịch ngợm há miệng, lắng tai nghe cho đến khi củi trong lò cháy hết mà lòng vẫn cứ rạo rực. Trong tiệm buôn, người giữ tiệm, thằng bé bán hàng, sau khi hết công việc trong ngày, đóng cửa tiệm, cùng nhau quây quần, nghe kể chuyện về Hideyoshi (1536-98), về Nobunaga (1534-82) cho đến khuya, mệt mỏi lim dim trong giấc mơ thoát khỏi những nỗi khổ nhọc của công việc hàng quán, và đưa họ vào cảnh đi tìm công danh trên chiến trường. Trẻ mới chập chững còn nói đớt, cũng được dạy kể lại chuyện mạo hiểm cổ tích Momo Taro đi chinh phạt đảo ông kẹ. Ngay cả những đứa con gái ái mộ sâu sắc lòng dũng cảm và đức độ của võ sĩ, cũng ham nghe những câu chuyện của võ sĩ, tựa như nàng Desdemona (trong bi kịch Othello của Shakespeares, ND).

    Võ sĩ đã trở thành lí tưởng cao đẹp của toàn thể dân tộc. Trong quần chúng có câu hát rằng “Hoa thì phải là hoa anh đào, con người thì phải là võ sĩ.” Giai cấp võ sĩ bị cấm tham gia thương nghiệp nên đã không trực tiếp giúp đỡ thương nghiệp. Thế nhưng không có phương thức hoạt động nào, không có cách suy nghĩ nào, trong một chừng mực nào đó, đã không nhận kích thích từ võ sĩ đạo. Võ sĩ đạo đã trực tiếp hay gián tiếp hun đúc nên tri thức và đạo đức của Nhật Bản.

    Ông Mallock (nhà văn người Anh, 1849-1923, ND), trong tác phẩm “Chủ nghĩa quí tộc và sự tiến hóa” có thật nhiều ám thị, đã hùng biện nói rằng “sự tiến hóa xã hội, chừng nào còn khác với sự tiến hóa của sinh vật, có thể được định nghĩa là kết quả không dự định, có được do ý chí của vĩ nhân.” Và ông còn nói rằng sự tiến bộ của lịch sử không phải do sự cạnh tranh sinh tồn của toàn thể xã hội, mà có được do sự cạnh tranh giữa một thiểu số người trong cộng đồng trong việc chỉ đạo, chi phối, mướn số đông đại chúng làm việc bằng cách làm tốt nhất. Không phải là không có chỗ để phê phán về sự thích đáng của nghị luận này nhưng những gì mà võ sĩ đã đóng góp cho sự tiến bộ xã hội của đế quốc chúng tôi, đủ để chứng thực cho lời nói trên.

    Tinh thần võ sĩ đạo đã thâm nhập vào mọi giai cấp trong xã hội như thế nào, điều này có thể thấy được qua sự phát triển của một giai cấp đặc biệt, được gọi là “otoko-date”, giai cấp của những đầu lãnh thiên phú của chủ nghĩa dân chủ. Họ là những con người cương nghị, hào hùng, thân thể tràn đầy sức mạnh. Đồng thời họ cũng là người đại biện bảo vệ quyền lợi của tầng lớp thứ dân. Họ có trong tay hằng trăm, hằng ngàn bộ hạ sẵn sàng hiến dâng thể xác cùng sinh mệnh, tài sản cũng như danh dự có trên đời, để phục vụ thủ lãnh, giống như những samurai phục vụ dai-myo. Được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng lao động hung hăng và liều lĩnh, những đầu lãnh thiên phú này đã tạo ra được một lực lượng đáng sợ, đủ sức ngăn chặn sự hoành hành của giai cấp cắm hai kiếm (để chỉ giai cấp võ sĩ, ND).

    Võ sĩ đạo bắt nguồn từ một giai cấp xã hội, chia ra nhiều ngả chảy xuống, tác dụng như một thứ gây men trong đại chúng, cung cấp tiêu chuẩn đạo đức cho toàn thể nhân dân. Võ sĩ đạo khởi đầu như là vinh quang của tầng lớp ưu tú (tầng lớp élite, tầng lớp được chọn lọc, ND), dần theo thời gian, võ sĩ đạo đã trở thành khát vọng và cảm ứng linh thiêng của toàn thể quốc dân. Quần chúng đã không thể đạt đến mức độ đạo đức cao của võ sĩ, nhưng “yamato-damashi”, có nghĩa là “hồn Yamato” (Yamato là tên cũ của nước Nhật, ND) đã trở thành từ ngữ tượng trưng cho tinh thần của dân tộc. Nếu tôn giáo, như Matthew Arnold định nghĩa, là “đạo đức phát sinh từ những cảm động do tình tự mang đến” thì ít có hệ thống đạo đức nào ngoài võ sĩ đạo được liệt vào hàng tôn giáo. Moto-ori (1730-1801) đã ngâm câu thơ sau đây, để biểu hiện lời nói không thành tiếng của dân tộc chúng tôi.

    Hồn Yamato của đảo quốc
    Người lạ hỏi ở đâu
    Hoa anh đào dại
    Thơm mùi trong sáng sớm.

    Vâng, “sakura” (anh đào, ND) là hoa mà quốc dân Nhật Bản yêu thích từ ngàn xưa, là tượng trưng cho khí chất dân tộc Nhật Bản. Hãy đặc biệt để ý câu thơ “hoa anh đào dại, thơm mùi trong sáng sớm”.

    Yamato-damashi không phải là một thứ hoa mềm yếu, đó là một thứ hoa dại – với ý nghĩa là tự nhiên, là loài hoa đặc hữu của đất nước chúng tôi. Ở nước khác cũng có thể có những loài hoa giống như vậy, nhưng về bản chất, nhất định đây là loại hoa tự sinh, chỉ có ở đất nước chúng tôi. Nhưng không phải chỉ vì được sinh ra đầu tiên ở nước Nhật mà chúng tôi yêu thích đâu. Không có loại hoa nào có vẻ đẹp tác động đến cảm giác thẩm mỹ của chúng tôi bằng vẻ đẹp cao nhã của hoa anh đào. Người Tây phương yêu thích hoa hồng, nhưng chúng tôi khác. Hoa hồng thiếu vẻ đơn thuần của hoa anh đào. Ngoài ra, còn nữa, hoa hồng giấu gai dưới vẻ đẹp dịu ngọt, cố bám díu vào cuộc sống, tựa như ghét sợ cái chết, thà tàn úa trên cành chứ nhất định không chịu rụng khi còn đang nở, màu sắc rực rỡ cùng mùi thơm nồng nàn - tất cả đều là những đặc chất khác hẳn với hoa anh đào. Hoa anh đào của chúng tôi không mang dao găm hay chất độc dưới vẻ đẹp của mình, lúc nào cũng sẵn sàng lìa đời theo tiếng gọi của tự nhiên, màu sắc không hoa lệ, mùi thơm dịu nhẹ không bao giờ chán. Vẻ đẹp của màu sắc và hình dạng giới hạn trong cái nhìn bề ngoài và đó là tính chất cố hữu của thực thể. Trong khi đó, mùi thơm bồng bềnh, nhẹ bay lên trời tựa như hơi thở của cuộc sống. Vì lẽ đó nên hương thơm, vị thuốc của nó có vai trò quan trọng trong tất cả mọi nghi thức tôn giáo. Có một cái gì đó linh thiêng trong mùi hương của hoa anh đào. Khi mặt trời mọc, chiếu sáng hòn đảo cực đông này, hoa anh đào tỏa mùi hương thơm dịu trong không khí ban mai, không có cảm giác nào thanh khiết, sảng khoái bằng cảm giác khi hít đầy ngực mùi thơm của một ngày tươi đẹp.

    Sau khi ngửi được mùi thơm ngọt dịu, ngay như đấng Tạo Hóa cũng đã có được quyết định mới ở trong lòng (Cựu ước – Sáng thế kỉ viii.21). Thế nên không có gì lạ khi hoa anh đào nở, thời tiết thơm tho kêu gọi tất cả nhân dân trong đất nước chúng tôi ra khỏi căn nhà chật hẹp của mình. Trong một thời gian ngắn, dẫu tay chân họ có quên mất khổ nhọc, dẫu lòng họ có quên mất đau buồn, thì cũng đừng quở trách họ. Khi niềm vui ngắn ngủi chấm dứt, họ sẽ quay lại với công việc hằng ngày với sức mạnh và quyết tâm mới. Với những lí do này, anh đào đúng là hoa của dân tộc chúng tôi.

    Thế nhưng, đẹp và dễ rụng, hoa bay theo chiều gió, tỏa một làn hương rồi tiêu tan vĩnh viễn. Hoa này tiêu biểu cho “hồn Yamato” hay hồn Yamato mỏng manh dễ tiêu tan giống như hoa?
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

Trang 2/3 đầuđầu 1 2 3 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •