>
Trang 2/13 đầuđầu 1 2 3 4 5 6 12 ... cuốicuối
kết quả từ 11 tới 20 trên 130

Ðề tài: [Truyện dài] Deception Point (Điểm dối lừa) - Dan Brown

  1. #11
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 13


    Dù không ưa thích sự xấu xí và bất tiện khi đi tắc xi, Thượng nghị sĩ Sedgewick Sexton đã học được cách chịu đựng những khoảnh khắc thiếu tiện nghi này để dọn đường đến vinh quang cho bản thân.
    Đưa ông đến điểm đỗ xe dưới tầng hầm của khách sạn Purdue, chiếc tắc xi Mayflower ọc ạch này mang lại một thứ mà chiếc Limusine sang trọng của ông không bao giờ đảm bảo được: sự kín đáo… Thượng nghị sĩ vui mừng nhận thấy bãi đỗ xe này khá vắng vẻ, chỉ vài chiếc xe bụi bặm đỗ giữa rừng cột bê tông. Đi bộ ngang qua bãi đỗ xe, Sexton liếc nhìn đồng hồ.
    11 giờ 15. Tuyệt hảo.
    Người mà Sexton sắp gặp rất coi trọng giờ giấc. Dĩ nhiên, vì những người mà ông ta đại diện, ông ta có thể coi trọng bất cứ chi tiết nhỏ chết tiệt nào mà chẳng được, Thượng nghị sĩ nhủ thầm.
    Sexton trông thấy chiếc xe thùng Ford Winstar màu trắng đỗ đúng chỗ y như trong những lần gặp trước - phía đông bãi đỗ xe, sau những thùng rác lớn. Dù muốn tiến hành cuộc gặp này trong dãy phòng của ông ở khách sạn, nhưng Sexton hiểu sự cẩn trọng của con người này. Những người bạn của ông ta không muốn đặt chân đến những nơi không đảm bảo.
    Tiến về phía chiếc xe thùng, Sexton cảm thấy bứt rứt khó chịu y như trong những lần gặp gỡ trước. Cố tạo cảm giác thư thái trong lòng, Sexton leo lên xe với vẻ mặt hồ hởi. Người đàn ông tóc đen ngồi sau tay lái không buồn mỉm cười. - ông ta trạc tuổi 70, và nước da săn chắc toát ra vẻ cứng rắn tàn bạo rất tương xứng với địa vị của ông ta: người cầm đầu một đạo quân gồm những doanh nhân nhìn xa trông rộng và tàn bạo.
    - Đóng cửa lại. - ông ta nói, giọng hiểm ác.
    Sexton làm theo một cách hoà nhã, cố bỏ qua thái độ cục cằn đó. Suy cho cùng thì ông ta là đại diện của những người đã đóng những khoản tiền khổng lồ vào quỹ tranh cử của Sexton, đã đưa ông đến ngưỡng của cơ quan quyền lực nhất thế giới. Sexton đã hiểu ra rằng những cuộc gặp này chẳng mang nhiều tính chiến lược chúng chỉ nhằm để nhắc cho ngài Thượng nghị sĩ nhớ rằng ngài phải chịu ơn họ mà thôi. Những người này muốn đảm bảo chắc chắn sẽ được đền đáp từ những khoản mà họ đã đầu tư. Ông buộc phải thừa nhận rằng khoản "đền đáp" mà họ yêu cầu quả là táo bạo; tuy nhiên, điều đó hoàn toàn nằm trong tầm tay của Sexton một khi ông ta đã đặt được chân vào Phòng bầu dục.
    Vốn biết ông già này thích đi thẳng vào vấn đề ngay, Sexton nói:
    - Tôi đoán là lại có người góp quỹ, đúng không?
    - Đúng thế. Và như thường lệ, anh chỉ được dùng khoản tiền này cho chiến dịch tranh cử mà thôi. Chúng tôi vui mừng nhận thấy anh liên tục được điểm trong các lần thăm dò dư luận, và những trợ lí của anh đã sử dụng đồng tiền của chúng tôi hiệu quả.
    - Uy tín của tôi đang tăng nhanh.
    - Như đã nói trên điện thoại, tôi đã thuyết phục thêm được sáu người đến gặp anh.
    - Tốt lắm. Tôi đã dành sẵn thời gian trống cho họ rồi.
    Ông ta đưa cho Sexton cặp tài liệu.
    - Đây là thông tin về họ. Nghiên cứu đi. Họ muốn đảm bảo rằng anh hoàn toàn thông cảm với họ và hiểu những mối quan tâm của họ. Theo tôi, anh nên gặp họ ở nhà riêng.
    - Nhà riêng à? Nhưng tôi thường tiếp khách ở...
    - Thượng nghị sĩ này, những người này sở hữu những công ty lớn hơn những người anh đã gặp rất nhiều. Họ là những con cá lớn, và rất thận trọng. Họ có thể được rất nhiều và cũng có nhiều cái để mất. Tôi đã phải kỳ công mới thuyết phục được họ. Họ đòi hỏi phải được đối xử đặc biệt. Phải tạo mối quan hệ gần gũi.
    Sexton gật đầu ngay.
    - Dĩ nhiên, tôi có thể thu xếp gặp họ ở nhà riêng cũng được.
    - Tốt lắm, họ muốn được hoàn toàn kín đáo.
    - Tôi cũng thế.
    - Chúc may mắn. Nếu suôn sẻ thì đây sẽ là cuộc gặp cuối cùng. Chỉ cần sáu người này là đủ để đưa chiến dịch tranh cử của ông đến thắng lợi.
    Sexton thích nghe thấy điều đó. Ông tự tin mỉm cười với ông già.
    - Nếu may mắn, chúng ta sẽ giành thắng lợi giòn giã trong kỳ bầu cử.
    - Thắng lợi à? - ông ta cau có nhoài người về phía Sexton với đôi mắt hiểm ác. - Đưa anh vào trong Nhà Trắng mới chỉ là bước đi đầu tiên thôi, Thượng nghị sĩ ạ! Tôi hi vọng anh không quên điều đó.


    Hết chương 13.
    thay đổi nội dung bởi: Shouri Yumi, 24-02-2009 lúc 07:17 PM

  2. #12
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 14


    Có lẽ Nhà Trắng chính là phủ Tổng thống nhỏ nhất trên thế giới với bề ngoài 170 foot, bề dọc 85 foot, và toạ lạc trên khu đất chỉ có 85 hecta. Các thẩm phán đã ca ngợi bản thiết kế của toà nhà này là "hấp dẫn, bề thế, linh hoạt" - và trong số tất cả những bản thiết kế được gửi đến dự thi, họ lựa chọn ý tưởng chẳng lấy gì làm độc đáo này của kiến trúc sư James Horban - mái nhà tầm thường, lan can nhàm chán, lại còn cả lối vào với hai hàng cột hai bên.
    Dù đã ở trong toà nhà này được ba năm rưỡi. Tổng thống Zach Herney rất hiếm khi cảm thấy khu mê cung với những đồ cổ, đèn chùm và lính thuỷ đánh bộ có vũ trang đứng gác này thực sự là ngôi nhà của mình. Lúc này ông đang sải bước về cánh trái của toà nhà trong tâm trạng vô cùng phấn khích, chân ông lướt nhẹ trên những tấm thảm trải sàn sang trọng.
    Một số nhân viên của Nhà Trắng ngẩng lên nhìn khi Herney đến gần. Ông gọi tên và chào từng người. Phản ứng của họ, dù vẫn lịch sự, không được nhiệt thành cho lắm, và những nụ cười đáp lễ đều có vẻ gượng gạo.
    - Chào Tổng thống ạ.
    - Rất vui được gặp Tổng thống.
    - Chúc Tổng thống một ngày tốt lành.
    Quay về Nhà Trắng, Tổng thống có thể cảm thấy những lời xì xào của họ. Bên trong Nhà Trắng đang có cuộc đảo chính ngầm.
    Mấy tuần nay sự thất vọng ở số nhà 1600 đại lộ Pensilvania đã lên cao đến mức Herney bắt đầu cảm thấy tình cảnh của mình chẳng khác gì tình cảnh của thuyền trưởng Bligh - chỉ huy một con tàu đang tham chiến trong khi thuỷ thủ trên tàu chuẩn bị nổi loạn chống lại chính thuyền trưởng của họ.
    Tổng thống không trách họ. Nhân viên của ông đã làm việc cật lực để hỗ trợ cho ông trong chiến dịch tranh cử này, và lúc này, đột nhiên ông tỏ ra muốn buông xuôi.
    Họ sẽ hiểu ra ngay thôi, ông thầm nghĩ, chẳng mấy chốc mình sẽ lại là người hùng.
    Ông không muốn giấu nhân viên của mình lâu như vậy, nhưng điều này cần phải tuyệt đối bí mật. Về chuyện giữ bí mật thì ai cũng biết rằng Nhà Trắng là con tàu có nhiều lỗ rò nhất Washington.
    Herney đến sảnh đợi ngoài phòng bầu dục và xởi lởi chào cô thư ký riêng.
    - Hôm nay trông cô đẹp lắm, Dolores ạ.
    - Sếp cũng thế ạ. - Cô ta nhìn bộ quần áo dân dã của Tổng thống với vẻ không vừa ý ra mặt.
    Herney hạ giọng:
    - Cô hãy thu xếp cho tôi một cuộc họp.
    - Với ai ạ?
    - Toàn bộ nhân viên Nhà Trắng.
    Cô thư ký ngước lên:
    - Tất cả ạ? Toàn bộ 145 người ạ?
    - Chính xác.
    - Ngay bây giờ ạ?
    - Sao lại không? Báo họ 4 giờ chiều nhé.
    Cô thư ký gật đầu, cố giữ điềm tĩnh.
    - Vâng, thưa Tổng thống, và nội dung của cuộc họp là… - Tối nay tôi có tin quan trọng để báo cho toàn nước Mỹ, và tôi muốn nhân viên của mình được biết trước điều đó.
    Vẻ thất vọng hiện rõ trên gương mặt của cô thư ký, như thế cô ta đã e sợ giây phút này từ lâu. Dolores hạ giọng:
    - Tổng thống định không tranh cử nữa sao?
    Herney phá lên cười:
    - Không đâu, Dolores ạ, tôi còn định tăng tốc lên ấy chứ.
    Cô vẫn chưa tin ngay. Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng đều cho rằng Tổng thống đang có ý định rút lui.
    Ngài Tổng thống nháy mắt nhìn Dolores khích lệ:
    - Dolores này, cô đã làm việc rất tốt cho tôi trong bốn năm qua, và cô sẽ tlếp tục làm việc cho tôi thêm bốn năm nữa. Tôi thề đấy.
    Cô thư ký có vẻ chưa tin hẳn. - Được ạ, thưa Tổng thống, tôi sẽ báo cho toàn bộ nhân viên có mặt vào bốn giờ chiều nay.
    Bước vào phòng bầu dục, Herney không thể nhịn được cười khi nghĩ đến cảnh tất cả nhân viên sẽ phải chen chúc trong căn phòng chật chội quái quỷ này.
    Trong số những tên tục của căn phòng này - nhà vệ sinh, hang ổ của Dick, phòng ngủ của Clinton - Herney thích nhất cái tên "bẫy bạch tuộc". Cái tên này có vẻ hợp hơn cả. Khi bước vào căn phòng này, người lạ sẽ ngay lập tức bị mất phương hướng. Đồ đạc được xếp đặt đối xứng nhau, những bức tường cong, những cửa phụ được bố trí kín đáo, tất cả dường như mang lại cho những người lạ cảm giác bị bịt mắt dẫn đi vòng tròn. Rất nhiều lần, sau khi tiếp kiến xong, các vị quyền cao chức trọng đứng lên, bắt tay Tổng thống và tiến thẳng đến chỗ tủ để đồ. Tuỳ thuộc vào kết quả cuộc hội kiến, Herney sẽ bảo người khách ấy dừng lại ngay, hoặc là khoái trá quan sát khách của mình lâm vào tình thế sượng sùng khó xử.
    Herney luôn luôn tin rằng chính phù điêu đại bàng đầy màu sắc được dệt trên tấm thảm hình bầu dục mới là vật có ảnh hưởng và quyền uy nhất trong căn phòng bầu dục này. Chân trái con đại bàng quắp nhành ôliu, chân phải quắp một nắm cung tên. Rất ít người ngoài biết rằng trong thời bình, con chim đại bàng quay đầu về bên trái, về phía cành ôliu. Nhưng trong thời chiến, nó quay mặt sang bên phải một cách đầy bí ẩn - quay về phía những mũi tên.
    Nhân viên trong Nhà Trắng vẫn thì thầm bàn tán về nguyên nhân của sự thay đổi đặc biệt này, vì theo truyền thống, bí mật này chỉ có hai người được biết - Tổng thống và tạp vụ trưởng. Tổng thống đã khá thất vọng khi biết rằng bí mật này hoá ra rất tầm thường và trần tục: Trong nhà kho bên dưới tầng hầm có tấm thảm thứ hai, và người ta chỉ thay thảm vào lúc đêm khuya khi tất cả mọi người đều đã ngủ.
    Lúc này, ngắm chú chim đại bàng thời bình đang quay đầu sang trái, Herney mỉm cười nghĩ có lẽ nên cho thay thảm để công bố cuộc chiến mà ông sắp phát động chống lại Thượng nghị sĩ Sedgewick Sexton.


    Hết chương 14.

  3. #13
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 15


    Delta là đơn vị lính chiến đấu duy nhất của Hoa Kỳ được miễn trừ mọi trách nhiệm hình sự.
    Chỉ thị số 25 của Tổng thống (PDD 25) đã đặc cách cho binh lính thuộc đội Delta quyền miễn trừ tất cả các trách nhiệm trước pháp luật, kể cả Luật về các hoạt động đặc nhiệm - một đạo luật quy định trách nhiệm hình sự đối với những ai lợi dụng quân đội nhằm tư lợi cá nhân, để tiến hành các hoạt động hành pháp trong nội địa nước Mỹ, và để tiến hành các chiến dịch bí mật chưa được phê chuẩn. Các thành viên của Delta được lựa chọn từ đội Lính tinh nhuệ, một biệt đội đặc biệt thuộc cơ số của Đơn vị các chiến dịch đặc biệt có đại bản doanh ở pháo đài Bragg, bắc Carolina.
    Những thành viên của Delta đều là những sát thủ được đào tạo bài bản - họ là những chuyên gia trong các chiến dịch SWAT, giải cứu con tin, tấn công chớp nhoáng và tiêu diệt các thế lực thù địch giấu mặt.
    Do những điệp vụ họ mà tham gia đều được liệt vào danh sách tối mật, thông lệ nhiều tầng chỉ huy đã được giản lược thành một đầu mối duy nhất - chỉ có một quan chức duy nhất chỉ huy mọi hoạt động của toàn đội. Vị chỉ huy đó thường là một sĩ quan cao cấp trong quân đội hoặc một nhân vật quyền thế nào đó trong nội các có đủ thẩm quyền điều khiến chiến dịch. Bất kể vị chỉ huy đó là ai thì các điệp vụ của đội Delta luôn được xếp vào loại tối quan trọng, và các đội viên của Delta không bao giờ kể lại những nhiệm vụ mà họ được giao và đã hoàn thành, với những thành viên khác của đội, cả với chỉ huy của đội lính tinh nhuệ.
    Bay đến. Chiến đấu. Quên hết.
    Đội lính Delta đang đóng quân phía trên vĩ tuyến 81 không hề bay, cũng chẳng phải chiến đấu. Họ đang quan sát.
    Delta-Một phải thừa nhận rằng đây là điệp vụ kỳ lạ nhất trong đời lính của mình, nhưng anh đã được huấn luyện để không bị ngạc nhiên trước bất kỳ nhiệm vụ nào. Trong vòng năm năm trở lại đây anh đã tham gia giải cứu con tin ở Trung Đông, theo dõi và tiêu diệt các nhóm khủng bố hoạt động trên đất Mỹ, và cả bí mật thủ tiêu một số phần tử nguy hiểm ở nước ngoài.
    Tháng trước, đội Delta của anh vừa dùng một robot bay siêu nhỏ để làm cho một trùm ma tuý khét tiếng ở Nam Mỹ bị nhồi máu cơ tim. Sử dụng vi robot được gắn một cây kim titan chỉ nhỏ bằng một sợi tóc, bên trong chứa loại hoá chất tạo cơn co mạch máu, Delta-Hai đã điều khiển cho con vi robot bay vào nhà qua cửa sổ để ngỏ trên tầng hai, tìm phòng ngủ của hắn, và châm kim vào vai khi hắn đang ngủ say. Vi robot thoát ra ngoài qua cửa sổ và trở thành "vô can" trước khi cơn đau trong ***g ngực khiến gã thức giấc. Khi vợ gã thức dậy gọi xe cấp cứu thì Delta-Hai đã điều khiển vi robot rút về căn cứ.
    Không cần đào tường khoét ngạch và đột nhập.
    Cái chết có lí do tự nhiên.
    Một điệp vụ hoàn mỹ.
    Mới đây, một vi robot được cài vào trong văn phòng của một Thượng nghị sĩ tên tuổi đã truyền về những hình ảnh của cuộc truy hoan thác loạn. Đội Delta vẫn gọi đùa điệp vụ đó là "thọc sâu vào sau lòng địch".
    Giờ đây, sau mười ngày nằm tại chiếc lều này để làm nhiệm vụ do thám, Delta-Một cảm thấy điệp vụ này sắp kết thúc.
    Nguỵ trang và giữ bí mật.
    Điều khiển thiết bị bay vào trong và ra ngoài.
    Báo cáo chỉ huy nếu thấy có dấu hiệu bất thường.

    Delta-Một đã được tôi luyện để không cho tình cảm xen vào chuyện công việc. Tuy nhiên, khi nghe thông báo vắn tắt nhiệm vụ lần này, tim anh đã thoáng loạn nhịp. Người ra lệnh cho họ hoàn toàn "nặc danh" - mọi liên lạc đều diễn ra thông qua những kênh điện tử an toàn. Delta-Một chưa một lần giáp mặt chỉ huy điệp vụ này.
    Delta-Một đang chuẩn bị bữa ăn gồm những loại thực phẩm sấy khô cho cả đội thì chiếc đồng hồ trên tay anh và cả của hai người kia cùng kêu bíp bíp. Sau chốc lát, thiết bị liên lạc điện tử cạnh anh nhấp nháy đèn. Anh bỏ túi lương khô xuống và nhấc thiết bị liên lạc lên. Hai người kia im lặng quan sát.
    - Delta-Một đây. - Anh nói vào chiếc micro điện tử.
    Ba âm tiết ấy lập tức được phần mềm nhận dạng giọng nói cài đặt trong hệ thống xử lý. Từng từ một được đánh số, rồi được mã hoá và truyền đến người nghe qua vệ tinh nhân tạo. Tại đầu máy của người gọi, với thiết bị y chang, những con số được giải mã, rồi được chuyển qua từ điển phát âm điện tử. Những từ này được phát ra với chất giọng điện tử. Tổng thời gian của toàn bộ chu trình này là 80 phần ngàn của một giây đồng hồ.
    - Chỉ huy đây - người điều khiển điệp vụ nói. Giọng nói từ CrypTalk phát ra nghe lạ lùng, khác thường và phi giới tính. - Tình hình thế nào?
    - Tất cả diễn ra đúng kế hoạch. - Delta-Một trả lời.
    - Tuyệt. Có thay đổi trong chương trình hoạt động. Tám giờ tối nay, giờ miền Đông, dân chúng sẽ được thông báo toàn bộ sự việc.
    Delta-Một xem lại thời gian biểu. Chỉ còn tám giờ nữa. Nhiệm vụ của anh ở nơi này sẽ sớm kết thúc. Thật dễ chịu.
    - Thêm một thay đổi nữa. - Vị chỉ huy nói tiếp. - Thêm một đấu thủ nữa lên sới.
    - Đấu thủ nào vậy?
    Delta-Một chăm chú lắng nghe. Trò đỏ đen này hay đây. Lúc nào chả có một đấu thủ đợi sẵn bên ngoài sới, - Chúng ta có thể tin tưởng cô ta không?
    - Cần phải theo dõi sát người này.
    - Nếu có sự cố thì sao ạ?
    Giọng người chỉ huy không chút do dự:
    - Thì làm theo đúng phận sự của các anh.


    Hết chương 15.

  4. #14
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 16


    Rachel Sexton đã bay theo hướng bắc được hơn một giờ đồng hồ.
    Trong suốt hành trình, thay vì thấy quang cảnh của New Foundland, cô chỉ nhìn thấy duy nhất một thứ dưới cánh chiếc máy bay F14: nước.
    Tại sao lại phải là nước nhỉ? Rachel nhăn nhó thầm hỏi. Hồi lên bảy, Rachel đã bị ngã nhào xuống hồ nước đóng băng trong khi chơi trượt băng. Bị làn nước giá buốt bao trùm, cô nghĩ mình chắc chắn sẽ phải chết. Nhưng rồi nhờ đôi cánh tay mạnh mẽ của mẹ cô, thân thể ướt mèm của Rachel đã được kéo lên bờ. Kể từ sự kiện hãi hùng đó, Rachel luôn phải đấu tranh với cảm giác sợ hãi vô cớ - sợ những vùng nước rộng, đặc biệt là nước lạnh. Hôm nay, khi trong tầm mắt không có gì ngoài cực bắc tít tận cuối chân trời, nỗi sự ấy đang bủa vây cô.
    Đến khi viên phi công kiểm tra lại vị trí của chiếc máy bay bằng liên lạc với sân bay Thule thì Rachel mới biết mình đã đi xa đến mức nào. Qua cả vòng chí tuyến rồi cơ ư? Biết sự thật, cô càng cảm thấy bất an hơn. Họ đưa mình đi đâu thế nhỉ? NASA đã tìm thấy cái gì?
    Một lúc sau, trên mặt nước màu xanh xám bên dưới đã thấy có muôn vàn chấm trắng ảm đạm.
    Lần duy nhất trong đời Rachel trông thấy núi băng là sáu năm trước, khi mẹ cô ra sức thuyết phục cô cùng bà tham gia chuyến thám hiểm Alaska. Rachel đã lựa chọn không biết bao nhiêu khu nghỉ mát trên đất liền, nhưng mẹ cô vẫn nhất mực không đổi ý. Bà nói: "Rachel, con yêu của mẹ, hai phần ba hành tinh này là nước, cho nên sớm hay muộn gì con sẽ phải tập đối mặt với nó". Bà Sexton vốn là một thiếu phụ kiên định của vùng New Engiand, thuộc kiểu người luôn muốn con cái họ lớn lên phải kiên cường và mạnh mẽ.
    Chuyến thám hiểm ấy là dịp cuối cùng hai mẹ con được ở bên nhau.
    Katherine Wenworth Sexton. Rachel chợt cảm thấy mình đơn côi biết mấy. Bao ký ức chợt ào ạt ùa về, như những cơn gió quất bên ngoài ca bin máy bay, như bao lần trước, lại một lần nữa kỷ niệm đay ắp trong tâm trí Rachel. Lần cuối cùng hai mẹ con cô nói chuyện với nhau là trên điện thoại. Sáng sớm ngày lễ Tạ ơn.
    - Con xin lỗi mẹ, - cô gọi về từ sân bay O Hare tuyết phủ - con biết gia đình mình bao giờ cũng sum họp vào ngày lễ Tạ ơn, nhưng hôm nay chắc sẽ là lần đầu tiên không được như vậy.
    Giọng mẹ cô đầy đau khổ:
    - Mẹ mong được gặp con biết chừng nào. Rachel của mẹ.
    - Con cũng thế mẹ ạ. Mẹ hãy tưởng tượng con phải ăn đồ ăn liền ở sân bay trong khi mẹ và bố đang thưởng thức món gà tây.
    Mẹ cô lặng đi một lúc trên điện thoại.
    - Rachel, mẹ định đợi con về nhà mới nói, nhưng cha con nói rằng ông ấy bận quá nên năm nay không về nghỉ ở nhà được. Ông ấy sẽ ở lại khách sạn của mình ở D.C, trong suốt kỳ nghỉ.
    - Sao cơ? - Sự ngạc nhiên của Rachel ngay lập tức chuyển thành phẫn nộ. - Nhưng hôm nay là ngày lễ Tạ ơn, Thượng nghị viện có họp đâu! Bố chỉ cách nhà có hai giờ lái xe thôi mà. Bố phải về với mẹ mới đúng chứ!
    - Mẹ biết. Nhưng ông ấy nói là mệt lắm nên không thể lái xe được ông ấy đã quyết định sẽ dành kỳ nghỉ để giải quyết những công việc tồn đọng.
    Công việc ư? Rachel thấy nghi ngờ. Rất có thể là ngài Thượng nghị sĩ đang hú hí với người đàn bà nào đó. Sự không chung thuỷ của ông ta, dù kín đáo, vẫn kéo dài từ nhiều năm nay. Bà Sexton không phải là người không biết gì, nhưng tất cả những vụ tình ái của ông ta đều được sắp xếp với những chứng cứ ngoại phạm và thái độ phẫn nộ sâu sắc khi có ai đả động đến chuyện ông ta là người chồng không chung thuỷ. Cuối cùng, bà Sexton chẳng còn bỉết làm gì khác ngoài việc nhắm mắt làm ngơ và gắng chôn chặt nỗi đau của mình. Dù Rachel vẫn khuyến khích mẹ cô tiến hành thủ tục li dị, nhưng Katherin Wenworth Sexton là người đã nói là làm. Bà nói với Rachel: Chỉ cái chết mới chia lìa được mẹ và ông ấy. Nhờ ông ấy mẹ mới có được con - cô con gái vô cùng kiều diễm - mẹ chịu ơn ông ấy. Sẽ có ngày ông ấy phải sám hối trước Đấng tối cao về điều đó.
    Lúc ấy, tại sân bay, Rachel giận sôi lên.
    - Nhưng thế thì mẹ sẽ phải cô đơn trong ngày lễ Tạ ơn!
    Cô cảm thấy kinh tởm. Việc Thượng nghị sĩ bỏ bê gia đình trong ngày lễ Tạ ơn là một bước suy đồi so với sự tồi tệ trước đó của ông ta.
    - Không sao. - Giọng mẹ cô buồn nhưng cương quyết. - Không thể để những đồ ăn này bị hỏng được. Mẹ sẽ lái xe đến nhà dì Ann. Năm nào dì ấy cũng mời nhà mình đến dự lễ Tạ ơn Mẹ gọi cho dì ấy ngay đây.
    Rachel vẫn chẳng cảm thấy bớt áy náy được là bao.
    - Thôi được. Con sẽ về nhà ngay lập tức đây. Con yêu mẹ lắm.
    - Chúc con yêu bay an toàn.
    Mười giờ rưỡi đêm hôm ấy, cuối cùng thì chiếc tắc xi cũng đưa Rachel ngoặt lên, con đường rải sỏi và tiến vào ngôi biệt thự sang trọng của nhà Sexton. Rachel biết ngay đã có chuyện chẳng lành.
    Xe cảnh sát đỗ trên lối vào. Có cả xe hòm của báo chí. Cả ngôi nhà sáng trưng. Rachel lao vào nhà, lòng đau như xé.
    Một nhân viên cảnh sát bang Virginia gặp cô ở ngưỡng cửa. Trông anh ta đầy vẻ hệ trọng. Nhưng chẳng cần anh ta phải nói gì hết. Rachel biết đã có một vụ tai nạn.
    - Do mưa và băng tuyết nên tuyến đường 25 trở nên rất trơn. - Anh ta nói. - Xe của mẹ cô bị văng vào khe núi. Bà mất ngay tại chỗ do va đập mạnh.
    Rachel thấy toàn thân tê dại. Cha cô đã về nhà ngay khi nhận được tin và giờ đang tổ chức cuộc họp báo nhỏ trong phòng khách.
    Với vẻ mặt đau khổ, ông ta tuyên bố rằng phu nhân của mình đã gặp tai nạn trên đường về nhà sau khi cùng gia đình đi dự tiệc nhân ngày lễ.
    Đứng ở một bên chái nhà, Rachel khóc ròng rã.
    - Ước nguyện duy nhất của tôi là - nước mắt lưng tròng, cha cô tuyên bố với các nhà báo - là tôi có thể về nhà với bà ấy trong kỳ nghỉ này. Đáng ra tôi đã không bao giờ được để điều này xảy ra.
    Đáng ra ông phải nghĩ được điều đó từ nhiều năm trước rồi kia. Rachel khóc nức lên, và mỗi lúc một thêm căm ghét cha mình. Từ đó trở đi, Rachel sống tách biệt hẳn. Nhưng ngài Thượng nghị sĩ dường như chẳng nhận ra điều đó. Ông mải bận rộn biến cái chết của vợ mình thành một cơ hội để trở thành ứng cử viên Tổng thống của đảng. Những lá phiếu giành được nhờ sự cảm thông hoá ra không hề ít.
    Tai ác thay, ba năm sau sự kiện ấy, dù ở cách rất xa, ngài Thượng nghị sĩ vẫn khiến cho con gái mình cảm thấy côi cút. Do chiến dịch tranh cử Tổng thống của cha cô, Rachel buộc phải gác lại giấc mơ tìm người đàn ông phù hợp và gây dựng mái ấm gia đình. Cô thà sống tách biệt hẳn khỏi xã hội còn hơn trở thành đối tượng săn đón của vô số những kẻ khát quyền lực đang săn lùng cơ hội trở thành vị hôn thê của cô con gái âu sầu của ngài Tổng thống tiềm năng.
    Bên ngoài cửa sổ chiếc phản lực F14, bóng đêm đang từ từ dâng lên. Giờ đang là cuối mùa đông ở vùng cực - mùa của đêm đen.
    Rachel nhận thấy chiếc phản lực đang bay vào vùng bóng đêm vĩnh cửu.
    Chỉ vài phút sau, Mặt trời đã biến mất hẳn phía sau đường chân trời. Họ tiếp tục bay về phương Bắc, và mảnh trăng lưỡi liềm vằng vặc hiện ra, lơ lửng trên bầu trời Bắc cực lạnh giá. Tít bên dưới, là những con sóng bạc đầu mờ ảo, những tảng băng trôi trông như những viên kim cương được đính trên tấm lưới mắt cáo màu sẫm.
    Cuối cùng thì Rachel cũng lờ mờ nhìn thấy đất liền. Nhưng nó rất khác những gì cô tưởng tượng. Xa xa dưới cánh máy bay là một dải núi tuyết phủ.
    Núi Rachel băn khoăn tự hỏi.
    - Phía bắc đảo Greenland có núi hay sao?
    - Dĩ nhiên rồi. - Viên phi công trả lời, anh ta cũng có vẻ ngạc nhiên chẳng kém gì cô.
    Khi chiếc F14 chúi đầu xuống đất, Rachel rơi vào cảm giác không trọng lượng vô cùng khó chịu. Dù hai tai gần như ù đặc, cô vẫn nghe thấy tiếng thiết bị điện tử kêu bíp bíp trong khoang lái. Rõ ràng là viên phi công đã bắt được liên lạc với thiết bị dẫn đường và đang làm theo chỉ dẫn từ mặt đất.
    Xuống đến dưới độ cao ba ngàn foot, Rachel chăm chú nhìn quang cảnh mặt đất dưới ánh trăng. Dưới chân rặng núi là một dải đất phẳng khá rộng. Dải đất này kéo dài khoảng mười dặm về phía biển. ở tận cùng của dải đất bằng ấy là mỏm băng dựng đứng nhô ra biển.
    Lần đầu tiên Rachel nhìn thấy kiểu địa hình này. Thật đặc biệt.
    Lúc đầu cô tưởng mình bị ảo giác do ánh trăng. Rachel nhìn những mỏm tuyết, không dám tin vào mắt mình. Càng xuống thấp, cảnh vật càng hiện ra rõ ràng hơn.
    Lạy Chúa, đây là đâu?
    Dải đất bằng bên dưới có những đường sọc, như thế người ta đã dùng sơn màu bạc để vẽ trên tuyết ba đường sọc thật lớn.
    Những vệt sáng lấp lánh này chạy song song với mỏm đá dọc theo bờ biến. Xuống đến độ cao năm trăm foot thì ảo giác ấy mới biến mất. Trong lòng ba con mương sâu với bề ngang rộng khoảng ba mươi mét, nước đóng băng. Chúng nằm vắt ngang dải đất bằng.
    Những dải màu trắng giữa những dòng kênh ấy trông chẳng khác gì những con đê bằng tuyết.
    Bay đến dải đất bằng đó, máy bay bắt đầu hạ độ cao và lắc.
    Rachel nghe thấy tiếng phanh rít nhưng chẳng nhìn thấy đường băng nào cả. Trong khi viên phi công đang tập trung điều khiển máy bay, Rachel nhòm ra ngoài và trông thấy hai dải sáng lấp lánh hai bên dòng kênh băng trong cùng. Cô kinh hãi khi hiểu ra ý định của viên phi công.
    - Chúng ta hạ cánh xuống băng à? - Cô hỏi.
    Viên phi công không trả lời. Anh ta còn mải vật lộn với những cơn gió giật. Rachel thấy bụng dạ bị lộn tung lên khi chiếc máy bay giảm tốc độ và hướng về phía con kênh băng. Hai dải đê tuyết hiện ra hai bên thân máy bay, Rachel nín thở. Cô hiểu rằng chỉ một nhầm lẫn nhỏ trong con kênh hẹp này cũng có thể gây ra sự cố chết người.
    Chiếc máy bay lắc lư hạ cánh xuống giữa hai dải đê bằng tuyết, và đột ngột ngừng rung lắc. Được dải đê chắn gió, nó tiếp đất êm ái.
    Chiếc phi cơ chạy chậm dần. Rachel thở phào. Máy bay chạy thêm khoảng một trăm mét nữa và dừng hẳn ngay trước vệt sơn đỏ chói trên mặt băng.
    Chẳng nhìn thấy gì ở bên phải ngoài bức tường tuyết dưới ánh trăng - sườn của con đê tuyết. Bên trái cũng y như vậy. Chỉ có thể nhìn qua cửa chắn gió ở phía trước… và thấy băng hà trải dài vô tận. Cảm tưởng như họ vừa hạ cánh xuống hành tinh chết. Trừ vệt sơn đỏ trên tuyết, không có bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống.
    Rồi Rachel nghe thấy từ đằng xa, một chiếc xe đang tiến lại.
    Tiếng động cơ inh ỏi. Tiếng ồn mỗi lúc một to dần cho đến khi chiếc xe xuất hiện. Đó là chiếc máy kéo lớn có nhiều bánh đang đi dọc theo con mương về phía họ. Cao và trần trụi, chiếc xe chẳng khác gì một côn trùng phàm ăn to lớn với những cái chân quay trong truyện khoa học viễn tưởng. Ca bin được bố trí cách khá xa khung gầm xe. Rất nhiều đèn pha dưới gầm xe rọi sáng mặt đất.
    Chiếc xe lắc mạnh rồi dừng lại ngay cạnh máy bay. Cửa ca bin mở ra, rồi một người bước xuống. Anh ta mặc bộ áo liền quần màu trắng phồng to tướng che kín từ đầu đến chân. Trông chẳng khác gì quả bóng.
    Max điên sắp sửa gặp Pillsbury Dough rồi đây. Rachel thầm nghĩ, nhẹ nhõm nhận thấy có người sống ở mảnh đất này.
    Anh ta ra hiệu cho viên phi công mở cửa sập.
    Viên phi công làm theo.
    Ngay khi cửa vừa mở, luồng gió buốt giá thốc vào trong ca bin. Rachel thấy lạnh thấu xương.
    Đóng cửa lại cho tôi nhờ.
    - Cô Sexton phải không ạ? - Người lái xe gọi với lên, giọng Mỹ. - Thay mặt cho NASA, xin chào đón cô.
    Rachel run lập cập. Xin đa tạ.
    Cô tháo mặt nạ, mũ bay và dây an toàn ra.
    - Hãy bước xuống bậc thang bên hông máy bay. Cô có gì cần hỏi không ạ?
    - Có đấy. - Rachel gào lên trả lời. - Tôi đang ở chỗ quái quỉ nào đây?


    Hết chương 16.
    thay đổi nội dung bởi: Shouri Yumi, 27-02-2009 lúc 02:04 PM

  5. #15
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 17


    Marjorie Tench - cố vấn cao cấp của Tổng thống - có dáng người của một bộ khung xương bị khòm. Thân mình gầy guộc cao sáu foot của bà ta trông giống một kết cấu dựng đứng được lắp đủ cả tay và chân. Bên trên thân thể ọp ẹp ấy là khuôn mặt vàng ệch. Nước da của Marjorie trông như mảnh giấy da cừu bị chọc thửng bởi hai con mắt vô hồn. Mới năm mốt tuổi, trông bà ta như bẩy mươi.
    Ở Washington, người ta tôn sùng Tench như một nữ thần trên chính trường. Họ xì xào rằng bà ta có kỹ năng phân tích của chiếc máy tính đời mới nhất. Suốt mười năm phụ trách phòng phân tích tin tình báo của Chính phủ, bà ta đã tôi luyện được cho mình bộ óc cực kỳ sắc sảo và nhậy bén. Đáng tiếc, hiểu biết về chính trị của Tench lại đi kèm với tính cách lạnh lùng đến nỗi không ai có thể chịu đựng được bà ta quá dăm phút. Marjorie Tench được trời phú cho bộ não của một siêu máy tính - và cả sự hồn hậu cũng của một siêu máy tính. Tuy nhiên ngài Tổng thống Zach Herney thì có thể dễ dàng dung hoà được sự trái tính này; bộ óc sắc sảo và sự cần cù của người đàn bà này chính là hai thế lực chủ chốt dọn đường cho Herney vào Nhà Trắng.
    - Marjorie. - Tổng thống đứng dậy chào đón khi bà ta vào phòng bầu dục. - Tôi giúp gì được cho chị nào? - Ngài Tổng thống không mời bà ta ngồi. Những phép tắc xã giao thông thường đều là thừa đối với một người như Marjorie Tench. Nếu muốn ngồi, tự khắc bà ta sẽ ngồi.
    - Tôi thấy anh báo toàn bộ nhân viên bốn giờ chiều nay đi họp.
    Tench cất lên giọng khê đặc rin rít của người nghiện thuốc lá.
    - Tuyệt lắm.
    Tench đi đi lại trong phòng, và Herney có thể cảm nhận được những bánh răng và khớp nối bên trong bộ óc của bà ta đang lật đi lật lại vấn đề. Ngài Tổng thống thầm tạ ơn Chúa. Marjorie Tench là một trong số ít cộng sự của ông được phép biết đến phát minh của NASA. Và với tầm hiểu biết siêu việt của mình, bà ta đang giúp Tổng thống hoạch định những nước cờ chiến lược.
    Tench vừa nói vừa ho sù sụ:
    - Anh định cử ai đi đấu khẩu với Sexton một giờ chiều nay trên đài CNN?
    Herney mỉm cười:
    - Một phát ngôn viên làng nhàng của chiến dịch tranh cử. - Làm cho "kẻ săn mồi" cáu tiết bằng cách không bao giờ cho hắn có cơ hội tỉ thí với đối thủ ngang tầm là chiến thuật xưa như trái đất.
    - Tôi có một ý hay hơn. - Tench nói, cặp mắt vô hồn nhìn thẳng vào Tổng thống - - Để tôi đi cho.
    Zach Herney ngẩng phắt lên:
    - Chị á? - Bà ta đang nghĩ cái quái quỉ gì vậy? - Marjorie ơi, chị đâu có hợp với ánh đèn trường quay! Hơn nữa đây chỉ là chương trình truyền hình cáp buổi trưa mà thôi. Nếu chỉ phái một phát ngôn viên lèng mèng thì chúng ta sẽ chuyển tải được thông điệp gì nào? Cử tri có thể cho rằng chúng ta đang hoảng hốt.
    - Chính xác.
    Herney quan sát cố vấn của mình. Dù bà ta có diệu kế gì trong đầu đi nữa thì Tổng thống cũng không thể cho phép nhân vật này xuất hiện trên CNN. Bất kỳ ai đã từng gặp Marjorie Tench đều hiểu ngay vì sao bà ta chỉ hoạt động phía sau hậu trường. Trông Tench xấu xí kinh khủng - đây không phải là khuôn mặt mà Tổng thống có thể lựa chọn làm sứ giả cho Nhà Trắng.
    - Lần này tôi sẽ tranh luận trên CNN. - Tench nhắc lại - đây không còn là một câu hỏi nữa.
    - Chị Marjorie này. - Ngài Tổng thống ra sức chèo chống, bắt đầu cảm thấy khó chịu. - Đội quân tranh cử của Sexton sẽ rêu rao ầm lên rằng sự xuất hiện của chị trên CNN cho thấy chúng ta đang sợ hãi. Chưa chi đã mang đại đao đi giết gà sẽ khiến thiên hạ tưởng rằng chúng ta đã sớm lâm vào cảnh cùng đường.
    Bà ta lặng lẽ gật đầu rồi châm một điếu thuốc.
    - Chúng ta càng làm ra vẻ cùng quẫn thì càng có lợi đấy.
    Trong vòng sáu mươi giây tiếp theo, Marjorie Tench đã vạch ra những lí do vì sao Tổng thống nên phái bà ta đến đấu khẩu trên kênh CNN thay vì một nhân viên cà tàng nào khác. Tench nói xong, Tổng thống tròn mắt kinh ngạc.
    Lại một lần nữa, Marjorie Tench chứng tỏ tài năng chính trị thiên bẩm của mình.


    Hết chương 17.

  6. #16
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 18


    Milne Ice Shelf là tảng băng trôi lớn nhất trên toàn Bắc bán cầu.
    Nằm phía trên đường vĩ tuyến 82 bên bờ biển cực bắc của đảo Ellesmere thuộc Bắc cực, tảng băng trôi này có bề rộng ba dặm và chiều dày đến gần hai trăm mét.
    Lúc này, Rachel đang leo lên ca bin Plexiglas của chiếc máy kéo, và đầy cảm kích vì chiếc áo khoác kiểu exkimo, đôi găng tay để sẵn trên ghế cho cô và luồng hơi ấm phả ra từ những chiếc quạt thông gió trên đầu. Bên ngoài, trên con kênh tuyết, chiếc trực thăng F14 đã khởi động xong và bắt đầu lăn bánh.
    Rachel sửng sốt ngước nhìn lên:
    - Anh ta đi ngay à?
    Người đàn ông trèo lên ca bin và gật đầu:
    - Chỉ các nhà khoa học và nhân viên NASA trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ mới được phép có mặt ở đây.
    Chiếc F14 lao lên xé toạc bầu trời đêm, Rachel chợt cảm thấy như vừa bị bỏ rơi.
    - Chúng ta sẽ lập tức lên đường đến IceRover. - anh ta nói - chỉ huy đang đợi.
    Rachel trân trối nhìn con đường băng giá màu bạc trải dài trước tầm mắt và cố tưởng tượng xem Giám đốc NASA đang làm gì ở nơi này.
    - Ngồi cho chắc vào nhé. - Anh chàng nhân viên NASA nói to và gạt mấy cái cần. Chiếc máy kéo gầm gừ và quay một góc 90 độ tại chỗ y như xe tăng xích sắt. Giờ đây, cỗ máy đối diện với bức tường tuyết cao ngất.
    Rachel chột dạ nhìn bức tường dốc đứng. Không lẽ anh ta định…
    - Nhảy điệu Rock and Roll nhé! - Anh ta nhả côn, và chiếc máy chồm thẳng về phía con dốc. Rachel bám chặt thành ghế, kêu không thành tiếng. Khi chạm đến con dốc, xích sắt nghiến lên tuyết và chiếc máy kỳ quặc bắt đầu leo lên. Rachel tưởng họ sẽ bị hất ngược lại đằng sau, nhưng ca bin vẫn giữ nguyên phương thẳng đứng một cách thần kỳ trong khi chiếc máy leo lên dốc. Khi đã lên đến đỉnh gờ tuyết, người lái xe cho xe dừng lại một lúc và cười rất tươi với hành khách đang tròn mắt bái phục:
    - Cô thấy chiếc máy này thế nào? Chúng tôi đã lấy cơ chế giảm xóc của chiếc xe tự hành cho sao Hoả và lắp vào đây đấy! Thần kỳ không?
    Rachel yếu ớt gật đầu:
    - Quả là thần kỳ.
    Lúc này, ngồi trên đỉnh gờ tuyết, Rachel thấy quang cảnh phi thường trải ra trước mắt, ngay trước họ là gờ tuyết cao ngất, và phía sau nó không thấy một gợn nhấp nhô nào nữa. Trước mặt họ, băng tuyết trải rộng thành sườn dốc thoải vô cùng bằng phẳng.
    Dưới ánh trăng, dải băng trải dài vút ra cho đến khi nó thót lại và uốn lượn thành những mỏm núi.
    - Sông băng Milne đấy! - Người lái xe giơ tay chỉ rặng núi. - Nó bắt nguồn từ bên kia và chảy xuống dải đồng bằng rộng mà chúng ta đang đứng đây này.
    Người lái xe lại ấn nút một lần nữa và Rachel bám thật chặt thành ghế trong khi chiếc xe xuống dốc. Đến chân dốc, họ băng qua con sông băng nữa, rồi lại leo qua một gờ tuyết khác. Lên đến đỉnh rồi lạo, xạo đi xuống dọc sườn dốc thoải, họ trượt qua tảng băng rất phẳng và lại bắt đầu lạo xạo vượt qua một sông băng nữa.
    - Còn xa nữa không? - Ngoài tuyết, Rachel không nhìn thấy bất kỳ thứ gì ở phía trước.
    - Còn khoảng hai dặm nữa.
    Rachel có cảm giác chặng đường dài hơn thế. Ngoài trời, những cơn gió tàn nhẫn quất vào chiếc xe đi tuyết IceRover, đập phành phạch vào ca bin plexiglas như thế muốn thổi bật họ ra ngoài đại dương.
    - Gió từ đỉnh thổi xuống đấy. - Người lái xe gào vào tai Rachel. - Cô nên làm quen với nó đi!
    Anh ta giải thích rằng ở vùng này luôn luôn có loại gió thổi ra biển. Cơn gió tàn nhẫn này hẳn phải là sản phẩm của luồng khí lạnh buốt và rất nặng từ trên sông băng đố xuống y như dòng nước hung dữ của chính dòng sông này. Người lái xe cười lớn:
    - Đây là nơi duy nhất trên trái đất mà địa ngục cũng phải đông cứng lại đấy!
    Vài phút sau, Rachel lờ mờ trông thấy một hình khối xa xa phía trước - bóng của toà nhà mái vòm màu trắng khổng lồ nhô lên giữa băng tuyết. Rachel dụi mắt, cái gì thế này nhỉ…?
    - Lều lớn của người Exkimo phải không?
    Anh ta đùa.
    Rachel cố nhìn cho rõ hình khối ấy. Trông giống như nhà vòm Houston thu nhỏ.
    - NASA mới dựng lên cách đây một tuần rưỡi đấy. - Nhà được bơm hơi bằng chất tổng hợp. Bơm từng phần nhỏ lên, dán đính vào nhau rồi dùng pít-tông và dây thép cố định trên băng. Trông giống như lều cắm trại cỡ lớn, thực ra đó là hình mẫu cho một sinh quyển di động mà NASA hy vọong sẽ có ngày mang lên sao Hoả để sử dụng. Chúng tôi gọi nó là "bán sinh quyển".
    - Bán sinh quyển à?
    - Đúng vậy, cô hiểu không? Vì nó không phải là toàn bộ sinh quyển, nên chỉ là bán sinh quyển thôi.
    Rachel cười mỉm và đưa mắt nhìn toà nhà kỳ dị nhô lên trên dải băng hà.
    - Và bởi vì NASA chưa lên được sao Hoả nên các anh tổ chức cắm trại ở nơi này chứ gì?
    Người đàn ông cười lớn:
    - Thực ra thì tôi thích Tahiti hơn. Nhưng định mệnh đã chọn địa điểm này.
    Rachel chăm chú nhìn ngôi nhà. Vòm mái màu trắng của nó tạo thành những đường nét ma quái trên nền trời đêm. Chiếc xe IceRover đến gần hơn, rồi họ dừng lại trước cánh cửa nhỏ bên hông ngôi nhà, cửa không đóng. Ánh sáng từ trong nhà hắt ra ngoài nền tuyết. Một bóng người bước ra. Anh ta có vóc người rất to cao và lại mặc chiếc áo khoác lông cừu màu đen nên trông chẳng khác gì con gấu. Anh ta tiến lại bên chiếc xe IceRover.
    Rachel biết rất rõ người đàn ông to cao này: Lawrence Ekstrom, Giám đốc NASA.
    Người lái xe cười nhăn nhở:
    - Cô đừng sợ vóc người to lớn của ông ấy: ông ta chẳng khác gì mèo cảnh đâu.
    Giống hổ thì đúng hơn, Rachel thầm nghĩ. Cô đã nghe nói Ekstrom có tiếng là tàn bạo với tất cả những ai dám ngăn cản không cho ông ta thực hiện những giấc mơ của mình.
    Khi Rachel xuống xe, gió mạnh như muốn đẩy bật cô về phía sau. Cô cuộn chặt chiếc áo khoác quanh người và tiến về phía ngôi nhà.
    Đi được nửa đường thì Rachel giáp mặt Giám đốc NASA. Ông ta chìa bàn tay đeo găng to xù:
    - Cô Sexton, cảm ơn cô đã đến đây.
    Rachel gật đầu chào lại và gào to để át tiếng gió hú:
    - Thưa ông, thật ra thì tôi đâu có cơ hội để lựa chọn.
    Xa hơn nữa về phía thượng nguồn dòng sông băng, cách đó một ngàn mét, Delta-Một đang dùng ống nhòm hồng ngoại để theo dõi ngài Giám đốc NASA dẫn Sexton vào trong ngôi nhà.


    Hết chương 18.

  7. #17
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 19


    Giám đốc NASA Lawrence Ekstrom có vóc người cao lớn, nước da đỏ au và giọng nói cộc cằn, y như một vị thần trong truyền thuyết Na Uy. Mái tóc vàng của ông được cắt ngắn theo kiểu nhà binh để lộ ra những nếp nhăn trên trán và trên sống mũi hình củ hành, mạch máu chạy ngoằn ngoèo. Lúc này, đôi mắt lạnh lùng của ông đang rũ xuống vì biết bao đêm không ngủ. Trước khi được bổ nhiệm vào vị trí này ở NASA, ông đã từng là chuyên viên về chiến lược vũ trụ và cố vấn điều hành nặng ký ở Lầu Năm Góc; và rất nhiều người đã biết tiếng Ekstrom là người luôn cáu kỉnh nhưng hết sức tận tâm với bất cứ nhiệm vụ nào được giao.
    Theo Lawrence Ekstrom vào trong bán sinh quyển, Rachel Sexton đi ngang qua một mê cung kỳ dị với những hành lang sáng mờ. Những mảng nhựa sáng mờ được treo trên những sợi dây căng ngang là phong cách thiết kế của kiến trúc lạ lùng này. Không có nền nhà - chỉ một tảng băng cứng lớn, bên trên được trải những dải cao su mỏng chống trơn. Họ băng qua khu sinh hoạt rất thô sơ gồm những chiếc võng và những toa lét hoá học.
    Thật may, bên trong bán sinh quyển khá ấm áp, mặc dù có một phức hợp những thứ mùi đặc trưng của những chỗ ở quá kín mà lại đông người. Đâu đó vẳng tới tiếng máy phát điện kêu vo vo, có vẻ như đó là nguồn điện dùng để thắp sáng những bóng đèn đỏ lơ lửng trên đầu họ trong hành lang.
    - Thưa cô Sexton. - Ekstrom vừa càu nhàu vừa nhanh nhẹn dẫn cô đến một nơi chỉ mình ông ta biết. - Cho phép tôi được nói thẳng với cô ngay từ đầu. - Giọng ông ta có vẻ hồ hởi khi có cơ hội được đón khách. - Cô có mặt ở đây bởi vì Tổng thống muốn thế. Zach Herney là bạn thân của tôi, đồng thời là người luôn ủng hộ NASA. Tôi kính trọng ông ấy. Tôi chịu ơn ông ấy. Và tôi tin ông ấy. Khi ông ấy đã ra lệnh thì tôi không bao giờ hỏi lại, dù trong lòng không đồng thuận. Vì thế tôi muốn nói rõ rằng tôỉ không có cùng quan điểm với Tổng thống frong việc để cô can dự vào chuyện này.
    Rachel trân trối nhìn ông ta. Tôi đã vượt ba ngàn dặm để được đón tiếp thế này sao? Gã này thật chẳng biết điều.
    - Với tất cả lòng kính trọng, thưa ngài, - cô trả miếng - tôi cũng làm theo lệnh Tổng thống mà thôi. Tôi còn chưa được biết sẽ phải làm gì. Tôi đã đến nơi này chỉ vì tin Tổng thống.
    - Tốt lắm. - Ekstrom nói. - Thế thì tôi sẽ nói thẳng.
    - Ngài bắt đầu như thế được đấy.
    Phản ứng rắn rỏi của Rachel hình như làm ông Giám đốc hơi choáng váng. Ông ta chợt đi chậm lại, chăm chú quan sát cô. Sau đó, như con rắn đang duỗi dài thân ra, ông ta thở dài một tiếng rồi lại rảo bước.
    - Theo tôi hiểu thì… - Ông ta nói tiếp - cô đến đây là để đưa ra nhận xét khách quan về một dự án quan trọng của NASA. Cô không những là người của NRO, một cơ quan xưa nay vẫn dè bỉu người của tôi là không biết giữ mồm giữ miệng; cô còn là con gái của người đang tự đặt ra cho cá nhân mình mục tiêu xóa sổ cơ quan của tôi. Giờ vàng của NASA sắp đến. Nhân viên của tôi đã phải chịu nhiều lời công kích trong thời gian vừa qua, họ đáng được hưởng giây phút vinh quang này. Tuy nhiên, do hàng loạt những lời chỉ trích mà cha cô đã ném thẳng vào mặt chúng tôi. NASA đang lâm vào tình thế khá tế nhị về mặt chính trị. Vì thế cho nên chúng tôi buộc phải chia sẻ những giây phút vinh quang này cùng với một số nhà khoa học dân sự và con gái của chính kẻ đang muốn làm hại chúng tôi.
    Tôi không phải là cha tôi, Rachel muốn hét vào mặt ông ta, nhưng đây không phải là lúc thảo luận những vấn đề chính trị với người đứng đầu NASA.
    - Tôi đến đây không phải vì thèm khát thứ vinh quang đó, thưa ngài.
    Ekstrom lừ mắt.
    - Rồi cô sẽ thấy là cô chẳng có lựa chọn nào khác đâu.
    Lời nhận xét khiến Rachel ngạc nhiên. Dù Tổng thống Herney không đả động gì đến việc cô sẽ hỗ trợ ông ta theo kiểu này thì William Pickering cũng đã lên tiếng trước rằng cô có thể bị biến thành một con tốt thí trên chính trường.
    - Tôi muốn biết rõ mình sẽ làm gì ở đây. - Rachel yêu cầu.
    - Cả tôi cũng thế. Ngay cả tôi cũng chẳng biết gì hơn.
    - Gì cơ?
    - Tổng thống lệnh cho tôi thông báo vắn tắt với cô về phát hiện mới ngay khi cô đến đây. Còn việc cô sẽ đóng vai trò gì trong gánh xiếc rong chính trị thì là chuyện riêng giữa cô và ông ấy.
    - Tổng thống nói rằng Hệ thống quan sát địa cầu của các ông đã phát hiện ra một thứ gì đó.
    Ekstrom lại nhìn Rachel:
    - Cô biết gì về Hệ thống quan sát địa cầu?
    - Đó là một chùm vệ tinh nhân tạo của NASA nhằm quan sát trái đất theo những cách khác nhau - vẽ bản đồ đại dương, phân tích địa tầng, quan sát hiện tượng băng tan ở địa cực, tìm nhiên liệu hoá thạch.
    - Tốt. - Ekstrom nói, mặt tỉnh bơ. - Chắc là cô cũng biết thiết bị mới được bổ sung vào hệ thống đó? Được gọi là PODS.
    Rachel gật đầu.
    - Thiết bị soi đáy địa cực (PODS) đã được chế tạo để đo đạc hậu quả của hiện tượng ấm lên của trái đất. - Theo tôi được biết thì PODS đo đạc kích thước và độ cứng của chỏm băng của hai địa cực
    - Nôm na là như thế. Thiết bị này sử dụng các dải quang phổ để quét và tìm hiểu phần ngầm dưới lớp băng ở những khu vực rộng nhằm phát hiện ra những dị thường - những điểm tuyết tan mềm, băng tan ngầm, những khe nứt lớn - những chỉ số của hiện tượng ấm lên trên toàn cầu.
    Rachel hiểu rõ về kỹ thuật soi đáy đậm đặc phức hợp. Kỹ thuật này cơ bản giống như siêu âm lòng đất. Các vệ tinh nhân tạo của NRO vẫn thường dùng một kỹ thuật tương tự để phát hiện những vùng có độ đậm đặc khác biệt ở Đông Âu và đã tìm ra những nấm mộ tập thể, nhằm chứng minh rằng hiện tượng thanh lọc sắc tộc hiện vẫn đang tiếp diễn.
    - Cách đây hai tuần, - Ekstrom nói, - PODS đã rà soát dải băng này và phát hiện ra một điểm có độ đậm đặc khác biệt. Ở độ sâu hai trăm foot dưới lòng đất, ngay giữa một vùng băng cứng, PODS đã phát hiện ra một vật thể giống như túi nước không định hình có đường kính khoảng mười foot.
    - Một túi nước? - Rachel hỏi.
    - Không phải chất lỏng. Kỳ lạ ờ chỗ vật thể này cứng hơn băng đá xung quanh nó.
    - Thế thì…là một tảng đá hay đại loại như thế phải không? - Rachel hỏi.
    Ekstrom gật đầu:
    - Về cơ bản là thế.
    Rachel đợi một kết luận hùng hồn. Nhưng chẳng thấy gì. Chẳng lẽ tôi phải đến tận đây chỉ vì NASA tìm thấy hòn đá ư?
    - Đến khi PODS tính toán xong độ đậm đặc của tảng đá này thì... Chúng tôi thực sự thật phấn khích. Ngay lập tức, một đội đã được cử lên đây để phân tích thông tin. Hoá ra tảng đá nằm dưới lớp băng đó có độ đậm đặc lớn hơn bất cứ loại đá nào trên hòn đảo Ellesmere này. Và đậm đặc hơn các loại đá trong phạm vi bốn trăm dặm.
    Rachel chăm chú nhìn mặt băng dưới chân, cố mường tượng hòn đá đang nằm đâu đó dưới chân mình.
    - Ngài nói rằng có người mang nó đến đây?
    Ekstrom có vẻ không nhịn được cười.
    - Hòn đá này nặng hơn tám tấn. Và nó nằm dướỉ những hai trăm foot băng đá, có nghĩa là nó đã nằm im ở đó được hơn ba trăm năm rồi.
    Đi theo ngài Giám đốc NASA vào sâu trong một hành lang dài và hẹp, đi qua hai nhân viên NASA đang đứng gác. Rachel chợt thấy mệt mỏi. Cô liếc nhìn Ekstrom
    - Tôi đoán rằng có cách giải thích logic cho sự có mặt của hòn đá ở đây... Và đó chính là bí mật phải không?
    - Một điều rất chắc chắn, ông ta nói tiếp - đó là một thiên thạch.
    Rachel đứng sững trong hành lang và nhìn chằm chằm ngài Giám đốc.
    - Một tảng thiên thạch ư? - Cô chợt cảm thấy tràn trề thất vọng. Một tảng thiên thạch quả không hề thích hợp chút nào với những lời úp mở vòng vo của ngài Tổng thống. Chỉ riêng phát hiện này thôi cũng đủ để bù lại cho tất cả những chi phí của NASA trước đây và những sai lầm của cơ quan này. Không hiểu Herney đang nghĩ gì nhỉ? Thiên thạch dĩ nhiên là loại đá hiếm nhất, nhưng NASA vẫn thường xuyên tìm thấy thứ này từ bao lâu nay rồi.
    - Đây là tảng thiên thạch lớn nhất từ trước tới nay. - Ekstrom nói tiếp, ông ta đứng sừng sững ngay trước mặt Rachel. - Chúng tôi tin rằng đây là mảnh vỡ của một tảng thiên thạch được ghi nhận là rơi xuống Bắc Cực vào thế kỷ 17. Có thể là do tác động của đại dương, tảng đá này đã bị đẩy tới tận đây, tới sông băng Milne, và suốt ba trăm năm qua, nó đã bị chôn vùi trong băng tuyết.
    Rachel thấy cáu. Phát hiện này chẳng làm thay đổi bất kỳ thứ gì trên đời. Cô bắt đầu ngờ rằng đây chỉ là động thái thổi phồng quá đáng của NASA lẫn Nhà Trắng trong cơn cùng quẫn mà thôi. Họ đang cố gắng tô vẽ một phát hiện tầm thường thành một thắng lợi vang dội và vĩ đạl.
    - Cô có vẻ chưa thấy có gì thuyết phục cho lắm thì phải.
    - Tôi cứ tưởng có điều gì... hơn thế nữa.
    Ekstrom lừ mắt.
    - Một tảng thiên thạch với kích cỡ thế này là hiếm lắm đấy, thưa cô Sexton. Trên khắp trái đất chỉ có một vài tảng lớn hơn thế này thôi.
    - Tôi nhận thấy là...
    - Nhưng kích cỡ của tảng đá này không phải là điều quan trọng nhất.
    Rachel ngước mắt lên.
    - Nếu cô cho phép tôi được nói nốt. - Ekstrom nói, - cô sẽ được biết rằng tảng thiên thạch này cho thấy có những đặc điểm chưa bao giờ được phát hiện ở bất kỳ một tảng thiên thạch nào khác. Bất kể thuộc cỡ nào. - ông ta đưa tay chỉ một lối nhỏ. - Mời cô theo tôi, tôi sẽ giới thiệu cô với một số nhà khoa học rất công tâm có đủ khả năng hơn tôi để thảo luận thêm về phát hiện này.
    Rachel không hiểu. "Liệu còn ai có thể có khả năng hơn cả Giám đốc NASA đây?
    Đôi mắt điển hình của người Bắc Âu của Ekstrom nhìn xoáy vào Rachel.
    - Cô Rachel ạ, có khả năng hơn ở đây có nghĩa họ là những nhà bác học dân sự. Là chuyên viên phân tích tin, tôi đoán rằng cô muốn được thu nhận dữ liệu từ những người vô tư, không thiên kiến.
    Lâm ly thật. Rachel thầm nghĩ.
    Rachel theo ông ta vào lối đi hẹp, và cả hai đột ngột dừng ngay trước tấm mành đen rất dày. Từ đằng sau tấm rèm vọng ra những âm thanh của một nhóm người đang tranh cãi, tiếng rõ mồn một như thế họ đang tranh luận giữa thanh thiên bạch nhật.
    Không nói không rằng, ông Giám đốc bước tới và kéo rèm ra
    Rachel bị chói mắt vì luồng ánh sáng chói loà. Cô ngập ngừng rồi tiến lên phía trước, hấp háy mắt nhìn căn phòng sáng loá. Khi đã quen với ánh sáng. Rachel ngỡ ngàng nhìn căn phòng rộng mênh mông trước mắt và cảm thấy ngộp thở.
    - Lạy Chúa tôi! - Cô thì thầm. Đây là đâu thế này?


    Hết chương 19.
    thay đổi nội dung bởi: Shouri Yumi, 03-03-2009 lúc 02:45 PM

  8. #18
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 20


    Trường quay ở ngoại vi thủ đô Washington của CNN là một trong số 212 trường quay trên toàn thế giới được kết nối với đại bản doanh hệ thống truyền hình của Turner tại Atlanta.
    Đúng một giờ 45 phút, chiếc xe limousine của Thượng nghị sĩ Sedgewick Sexton vào đến bãi đỗ xe. Sải bước tới lối vào, Sexton cảm thấy đầy tự mãn. Một nhân viên CNN béo phệ với nụ cười rất tươi chào ông và Gabrielle.
    Nhân viên này nói:
    - Chào Thượng nghị sĩ. Có một tin hay lắm.
    - Chúng tôi vừa mới biết người được Nhà Trắng cử tôi đến đối thoại với ông. - Anh ta lại cười nhăn nhở - Tôi hy vọng ngài sẽ lại thắng lợi giòn giã. - Anh ta đưa tay chỉ về phía trường quay đằng sau lớp kính mờ.
    Sexton nhìn xuyên qua tấm kính và suýt té ngửa. Ngồi giữa đám khói thuốc lá mịt mù trong trường quay là người có khuôn mặt xấu xí nhất trên chính trường.
    - Marjorie Tench à? - Gabrielle thốt lên - Bà ta đến đây làm gì nhỉ?
    Sexton không biết, nhưng bất kể vì lý do gì, sự có măt của bà ta ở đây là tin hết sức tốt lành - dấu hiệu rõ ràng cho thấy Tổng thống đang tuyệt vọng. Nếu không thì tại sao ông ta lại phải đẩy cố vấn cao cấp của mình ra trước đường tên mũi đạn? Tổng thống Zach Herney đang phải dùng đến trọng pháo, và Sexton thấy đây quả là một dịp may…
    Càng là đối thủ ở tầm cao thì càng dễ bị ngã đau.
    Ngài Thượng nghị sĩ hiểu rất rõ rằng Tench là đối thủ quỷ quyệt nhưng khi ngắm người đàn bà này, Sexton không thể không nghĩ rằng ngài Tổng thống đã phạm sai lầm. Marjorie Tench trông thật gớm guốc. Lúc này, bà ta đang ngả lưng trên ghế, miệng phì phèo điếu thuốc, cánh tay phải đang uề oải cầm điếu thuốc đặt lên môi rồi lại lấy ra, trông chẳng khác gì quái vật khổng lồ đang nhấm nháp con bọ ngựa.
    Lạy Chúa tôi, Sexton thầm nghĩ, mặt mũi gớm ghiếc thế kia thì chỉ nên đăng đàn diễn thuyết trên đài phát thanh thôi.
    Đã vài lần Sedgewick Sexton nhìn thấy khuôn mặt nhăn nhúm, vàng ệch của bà cố vấn cấp cao này trên tạp chí, và ông không tài nào tin được rằng đó là diện mạo của người quyền thế nhất Washington.
    - Tôi không thích thế này chút nào. - Gabrielle thì thào.
    Sexton chẳng nghe thấy gì. Càng nghĩ, ông càng thấy khoái tình huống này. Thật tình cờ, khuôn mặt không ăn hình của Tench còn đi liền với những lời đồn về một vấn đề vô cùng quan trọng: Marjorie Tench luôn lớn tiếng rằng vai trò lãnh đạo của người Mỹ trong tương lai cần được khẳng định bằng sự vượt trội về khoa học kỹ thuật. Bà ta đã ra sức ủng hộ những chương trình số hoá Chính phủ, đặc biệt là NASA. Nhiều người cho rằng chính vì áp lực phía sau hậu trường của Tench mà Tổng thống mới hậu thuẫn cho cơ quan vũ trụ bí bét ấy.
    Sexton băn khoăn không hiểu có phải vì những lời khuyên tồi tệ của bà ta về NASA mà Tổng thống đẩy bà ta ra trước công luận hay không. Phải chăng Tổng thống muốn quẳng cố vấn cao cấp của mình vào giữa bầy sói?
    Gabrielle Ashe trân trối nhìn Marjorie Tench ngồi sau bức tường kính, càng nhìn càng thấy bất an. Người đàn bà này vô cùng thông minh và lại còn nhiều tiểu xảo. Chỉ hai điều ấy thôi cũng đủ khiến cho cô thấy mơ hồ e sợ. Xét đến quan điểm của bà ta về NASA, ngài Tổng thống thật không sáng suốt khi cử Tench đến cuộc khẩu chiến này với Thượng nghị sĩ Sexton. Nhưng Tổng thống không phải tay khờ. Bản năng mách bảo Gabrielle rằng có điều gì đó phải đề phòng.
    Gabrielle nhận thấy rằng Thượng nghị sĩ hơi quá tự tin, vì thế cô càng lo lắng. Sexton có thói quen trở nên nhiệt tình thái quá mỗi khi cảm thấy tự tin. Vấn đề NASA gần đây đã giúp ông tăng điểm tín nhiệm, nhưng dạo này Sexton đang công kích cơ quan này quá gay gắt. Rất nhiều ứng cử viên đã thất bại vì quá nôn nóng muốn hạ gục đối thủ ngay tức thì.
    Tay nhân viên đài CNN có vẻ nôn nóng muốn được xem trận quyết đấu:
    - Ta bắt đầu chứ, Thượng nghị sĩ?
    Sexton bắt đầu bước vào trường quay thì Gabrielle túm tay áo ông:
    - Tôi biết ngài đang nghĩ gì. - Cô thì thào. - Ngài hãy thận trọng, đừng để hở sườn nhé.
    - Hở sườn à? Tôi ấy à? - Sexton cười nhăn nhở.
    - Thượng nghị sĩ hãy nhớ rằng bà ta làm gì cũng giỏi lắm.
    Sexton cười mỉm khích lệ:
    - Tôi cũng thế chứ sao.


    Hết chương 20.

  9. #19
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 21


    Ngôi nhà kỳ dị nhiều ngóc ngách này của NASA sẽ là cảnh tượng kỳ lạ nếu nó được dựng lên ở bất kỳ nơi nào trên mặt đất, và sự hiện diện của nó trên băng hà Bắc cực càng khiến cho Rachel Sexton thấy khó hiểu.
    Nhìn mái vòm rất hiện đại gồm những mảnh hình tam giác dán lại với nhau, Rachel tưởng như đang đi vào viện điều dưỡng khổng lồ. Các bức tường của toà nhà được dựng lên ngay trên nền băng cứng; xung quanh gian phòng là hàng loạt cây đèn halogien hắt lên trần nhà thứ ánh sáng mờ ảo. Những dải trải sàn bằng bọt biển chạy ngang dọc khắp trụ sở nghiên cứu di động của NASA. Giữa những thiết bị điện tử ngồn ngang là khoảng ba, bốn chục nhân viên da trắng của NASA đang hăng say làm việc, sôi nổi bàn bạc, hào hứng trao đổi chuyên môn.
    Rachel lập tức cảm nhận thấy luồng điện của sự phấn khích tràn ngập căn phòng.
    Chỉ có thể có trạng thái phấn khích khi người ta có một phát kiến mới.
    Theo ông Giám đốc đi vòng quanh ngôi nhà, Rachel nhận ra những ánh mắt ngạc nhiên và khó chịu của những người nhận ra cô. Trong ngôi nhà này, tiếng thì thào của họ vang lên rõ mồn một.
    - Có phải con gái của Thượng nghị sĩ Sexton đó sao?
    - Cô ta làm cái quái gì ở đây nhỉ?
    - Không thể tưởng tượng được! Giám đốc lại thèm nói chuyện với cô ta cơ đấy.

    Nếu thậm chí có nhìn thấy những hình nộm của cha cô treo lủng lẳng để yểm bùa ở đây thì Rachel cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên. Tuy thế, sự thù địch không phải là điều duy nhất cô cảm nhận được ở nơi này; Rachel cảm nhận rõ ràng tâm lí tự mãn - như thế NASA biết chắc chiến thắng chung cuộc sẽ thuộc về họ.
    Ông Giám đốc dẫn Rachel đến dãy bàn dài, ở đó có người đã một mình điều khiển cả dàn máy tính. Ông ta mặc chiếc áo cao cố bằng nhung kẻ, đi giày cao cổ, khác hẳn bộ đồng phục mà tất cả mọi người ở đây đang mặc. Ông ta đang quay lưng lại phía họ.
    Giám đốc NASA bảo cô chờ và tiến đến nói chuyện với người đàn ông. Vài giây sau, người mặc áo cao cổ gật đầu đồng ý và tắt máy tính. Ông Giám đốc quay trở lại.
    Từ bây giờ ông Tolland sẽ dẫn cô đi. - ông ta nói. - Ông ấy cũng là người mà Tổng thống mới tuyển mộ, chắc hai người sẽ hợp nhau. Tôi sẽ quay lại sau.
    - Cảm ơn ngài.
    - Tôi đoán là cô đã nghe nói đến Micheal Tolland rồi.
    Rachel nhún vai, tâm trí vẫn còn đang bận bịu với quang cảnh xung quanh.
    - Cái tên gọi này không tạo ra ấn tượng gì hết.
    Người đàn ông mặc áo cao cổ tiến lại, vừa đi vừa cười nhăn nhở.
    - Không tạo ra ấn tượng gì à? - Giọng ông ta vang và thân thiện. Tôi lại phải nghe tin xấu rồi đây. Có vẻ như tôi không còn khả năng gây ấn tượng mạnh nữa rồi.
    Ngước mắt lên nhìn người vừa tới cạnh mình, Rachel như chết sững. Cô nhận ra ngay khuôn mặt điển trai của ông ta. Cả nước Mỹ đều nhận ra.
    - Ồ, - cô nói trong khi bắt tay ông ta - hoá ra ông là ông Micheal Tolland đó.
    Nghe Tổng thống nói đã mời những nhà khoa học tiếng tăm bậc nhất xác minh lại phát minh của NASA. Rachel đã hình dung ra những ông già nhăn nheo cặm cụi bên máy tính. Micheal Tolland thì hoàn toàn ngược lại. Với tư cách là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất Hoa Kỳ, ông chủ biên tạp chí khoa học nổi tiếng phát hành hàng tuần có tên là Đại dương ký thú trong đó đề cập đến những hiện tượng rất đáng chú ý trong lòng đại dương - núi lửa ngầm dưới mặt nước, những con sâu biển dài mười foot, những đợt sóng thần chí tử. Giới truyền thông ca tụng Tolland là người cùng đẳng cấp với Lacques Cousteau và Carl Sagan, bởi ông có tầm hiểu biết vô song, nhiệt huyết cháy bỏng, và lòng ham mê các chuyến thám hiểm. Tất cả những cái đó hợp lại đã đưa Đại dương ký thú lên vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng.
    Dĩ nhiên, các nhà bình luận còn đồng ý với nhau rằng cặp mắt trìu mến và cung cách khiêm tốn của ông đã làm say lòng không ít phụ nữ.
    - Xin chào ông Tolland… - Rachel hơi líu lưỡi. - Tôi là Rachel Sexton.
    Tolland mỉm một nụ cười tinh nghịch và dễ chịu:
    - Chào Rachel, hãy gọi tôi là Mike.
    Rachel thấy mình bối rối một cách rất khác thường. Vô số các thiết bị cảm biến chất đầy bên trong bán sinh quyển, tảng thiên thạch, những bí mật, và rồi còn bất ngờ giáp mặt một ngôi sao truyền hình.
    - Tôi rất ngạc nhiên được gặp ông ở đây. - Rachel cố gắng lấy lại tự tin. - Khi nghe Tổng thống nói đã mời những chuyên gia hàng đầu đến xác minh phát kiến của NASA, tôi tưởng... Rachel ngập ngừng.
    - Là những nhà khoa học thứ thiệt chứ gì? - ông ta cười toe toét.
    Rachel ngượng đỏ mặt:
    - Tôi không có ý đó.
    - Đừng bận tâm làm gì. - Tolland nói. - Mấy ngày ở đây tôi đã nghe nói thế nhiều lắm rồi.
    Ông Giám đốc có việc phải đi, hẹn sẽ gặp lại họ sau. Lúc này Tolland tò mò quay sang hỏi Rachel:
    - Ngài Giám đốc nói cha cô chính là Thượng nghị sĩ Sexton.
    Rachel gật đầu. Đáng tiếc là đúng thế.
    - Một gián điệp của ngài Sexton ở bên kia chiến tuyến đấy?
    - Chiến tuyến đôi khi lại là những nơi ta không thể ngờ tới đâu.
    Im lặng gượng gạo.
    Rachel nhanh nhảu nói:
    - Xin ông hãy cho tôi biết vì lẽ gì mà một nhà hải dương học lừng danh như ông lại đến làm việc bên những nhà khoa học tên lửa của NASA thế này?
    Tolland cười khùng khục.
    - Thật ra thì có một gã trông rất giống ngài Tổng thống đã xin tôi một đặc ân. Tôi đã hé môi định bảo hắn ta: "Quên đi!" - Rồi chả biết thế nào lại nói thành "Vâng, thưa ngài".
    Rachel cười lớn, lần đầu tiên từ sáng sớm đến giờ.
    - Chào mừng cô đã đến nhập bọn với chúng tôi.
    Dù tất cả những người nổi tiếng dường như đều có vóc người bé nhỏ, Rachel thấy ông Tolland khá cao. Cặp mắt của ông ta nhiệt thành và thận trọng đúng như cô vẫn thấy trên tivi, chất giọng của ông ta thật ấm áp và sôi nổi. Ở tuổi 45, ông có vẻ dạn dày và cường tráng, với mái tóc đen, dày và cứng, những chỏm tóc bị gió thổi tung xoà xuống trán. Cái cằm mạnh mẽ và dáng vẻ vô lo của ông toát lên sự tự tin tràn trề. Khi Tolland bắt tay Rachel, đôi bàn tay chai sần của ông nhắc cô nhớ rằng đây không phải típ người ẻo lả vẫn thường trở nên nổi tiếng trên tivi, mà là nhà khoa học thực nghiệm và là một ngư ông hoàn thiện.
    - Thật ra mà nói thì, - Tolland thú thật, vẻ rất chân chất - tôi cho rằng mình được mời tới đây chủ yếu vì những mối quan hệ với công chúng trên tivi chứ không phải vì tôi là nhà khoa học thực thụ. Tổng thống nhờ tôi đến đây để làm phim tài liệu… - Phim tài liệu về… một tảng thiên thạch à? Ông là nhà hải dương học kia mà.
    - Tôi cũng đã nói với Tổng thống y như thế đấy! Nhưng ông ấy nói không biết một nhà làm phim nào chuyên các thiên thạch. Ông ấy nói sự tham gia của tôi sẽ mang lại uy tín khoa học cho phát kiến này. Chắc ông ấy có ý định cho chiếu bộ phim của tôi ngay trong buổi họp báo quy mô tối nay khi công bố phát kiến này.
    Một phát ngôn viên nổi tiếng. Rachel cảm nhận được ngay tài thao lược về chính trị của Zach Herney. NASA vốn bị quy kết là nói những điều quá khó hiểu đối với công chúng. Lần này thì khác.
    Họ đã mời được một nhà truyền thông chuyên về khoa học, một gương mặt mà mọi người Mỹ đều quen thuộc và tin tưởng trong lĩnh vực khoa học.
    Tolland đưa tay chỉ góc xa của ngôi nhà, nơi người ta đang bố trí thành một trung tâm báo chí. Một tấm thảm xanh đã được trải trên nền băng đá, các camera truyền hình, đèn trường quay, chiếc bàn dài và mấy cái micro. Có người đang treo bức phông nền in hình lá cờ Mỹ.
    - Chuẩn bị cho tối nay đấy. - ông ta nói. - Giám đốc NASA và một số nhà khoa học chủ chốt sẽ nối cầu truyền hình với Nhà Trắng thông qua vệ tinh để tham gia vào chương trình truyền hình của Tổng thống lúc tám giờ.
    Hợp lý, Rachel thầm nghĩ, hài lòng khi thấy Tổng thống không định tách hẳn NASA khỏi buổi công bố.
    Cô thở dài nói:
    - Không biết ai sẽ nói cho tôi biết tảng thiên thạch đó có gì đặc biệt nào?
    Tolland nhướn đôi lông mày và cười với Rachel đầy vẻ bí hiểm.
    - Thật ra điều đặc biệt về tảng thiên thạch này nên được xem, không nên giải thích gì hết. - ông ta ra hiệu bảo Rachel đi sang khu phòng bên cạnh. - Anh chàng đang làm ở đây có vô số mẫu để cô có thể xem được đấy
    - Mẫu à? Các vị có mẫu của tảng thiên thạch đó à?
    - Dĩ nhiên. Chúng tôi đã khoan thăm dò. Chính những mẫu đá đầu tiên đã khiến cho NASA hiểu được tầm quan trọng của phát kiến này.
    Không biết sẽ được thấy điều gì. Rachel theo Tolland sang phòng làm việc kề bên. Có vẻ không có người. Có một li cà phê trên tấm bàn la liệt mẫu đá, com-pa và các dụng cụ khác. Li cà phê bốc hơi nghi ngút.
    - Marlinson! - Tolland gọi to và tìm xung quanh. Không ai trả lời ông ta thở dài cáu kỉnh và quay lại Rachel - Chắc ông ta đang bận đi tìm kem để cho vào cà phê. Nói thật với cô, ngày xưa tôi đã cùng học khoá sau đại học với gã này; gã có thói quen biến mất trong phòng ngủ của mình. - Này, có huân chương quốc gia về vật lí học thiên thể đây, ra mà nhận nào.
    Rachel hỏi:
    - Marlinson? Ông không nhắc đến ông Corky Marlinson nổi tiếng đấy chứ?
    Tolland cười vang.
    - Chính ông ta chứ còn ai?
    Rachel sững sờ:
    - Corky Marlinson cũng đến đây sao?
    Những quan điểm của Marlinson về trường hấp dẫn vốn được các kỹ sư của NRO hết lời ca tụng.
    - Marlinson là một trong những nhà khoa học mà Tổng thống đã mời tới đây sao?
    - Phải, một trong những nhà khoa học thứ thiệt!
    Đúng là thứ thiệt, Rachel thầm nghĩ. Corky Marlinson quả là kiệt xuất và được kính trọng.
    Corky có một đặc điểm hết sức ngược đời. Anh ta có thể tức thời đọc ra chính xác đến từng milimet khoảng cách đến hành tinh Alpha Centauri, nhưng lại không tự thắt được cà vạt.
    - Tôi đeo nơ cổ đấy chứ! - Giọng nói nghèn nghẹt của Corky - một người tốt tính - vang lên ngay gần họ. - Tiện lợi hơn cà vạt nhiều, Mike. Những ngôi sao Hollywood nhà anh làm sao mà hiểu nổi điều đó!
    Rachel và Tolland quay sang người đàn ông vừa xuất hiện từ sau một đống to những dụng cụ. Người này thấp lùn, béo tròn quay, trông giống loài chó pug mặt ngắn tũn với đôi mắt long sòng sọc và mái tóc mỏng húi sát đầu. Thấy Tolland đang đứng cùng với Rachell ông ta hơi sững lại.
    - Lạy Chúa tôi. Mike! Ở tận cực Bắc khỉ ho cò gáy này mà anh vẫn kiếm được những cô gái chân dài. Biết thế này tôi cũng sang làm bên truyền hình cho xong.
    Micheal Tolland ngượng:
    - Cô Sexton, đừng chấp tiến sĩ Marlinson. Ông ấy không giỏi xã giao, nhưng bù lại, lại có khối kiến thức đồ sộ vô bờ về vũ trụ đấy.
    Corky tiến lại gần.
    - Rất hân hạnh, tôi chưa được biết tên cô.
    - Rachel, - cô đáp - Rachel Sexton.
    - Sexton à? - Corky ranh mãnh thở gấp - Hi vọng cô không có quan hệ gì với cái ông Sexton cận thị truỵ lạc đó!
    Tolland nháy mắt:
    - Thật ra thì Thượng nghị sĩ Sexton là cha của Rachel đấy, Corky ạ.
    Corky thôi cười, ngồi thụp xuống ghế.
    - Cậu biết không, Mike, chả trách tôi chẳng bao giờ gặp may với cánh phụ nữ cả.


    Hết chương 21.

  10. #20
    Retired Mod


    Thành Viên Thứ: 41695
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 489
    Thanks
    137
    Thanked 58 Times in 35 Posts
    CHƯƠNG 22


    Nhà thiên thạch học Corky Marlinson được giải Nobel kéo Tolland và Rachel vào phòng làm việc của ông ta và bắt đầu lúi húi bên những mẫu đá và dụng cụ. Ông ta tíu tít đi lại y như cái lò xo bị nén chặt lại sắp sửa bung ra đến nơi.
    - Xong rồi. - ông ta run run người phấn khích. - Thưa cô Sexton, cô sắp được chứng kiến màn siêu biểu diễn thiên thạch kéo dài ba mươi giây đấy.
    Tolland nháy mắt ra hiệu bảo Rachel kiên nhẫn đợi.
    - Đợi ông ta một chút, anh chàng này thực sự muốn được làm diễn viên đấy.
    - Đúng thế, cũng như Mike thèm khát được trở thành nhà khoa học được kính nể ấy mà.
    Corky cúi xuống chiếc hộp đựng giầy của ông và lôi ra ba mẫu đá. Cả thảy đều là những vật hình cầu xấu xí to bằng quả bóng gôn, và đều được cưa ngang, lộ ra mặt trong của chúng.
    - Mọi thiên thạch, - Corky nói. - đều chứa một hàm lượng hợp kim niken - sắt, silicat, và sulfide. Người ta phân loại chúng đựa trên những tỉ lệ sắt trên silicat.
    Rachel bắt đầu cảm thấy màn biểu diễn thiên thạch của Corky không thể chỉ có ba mươi giây.
    - Mẫu đá đầu tiên này, - ông ta nói, tay chỉ một hòn đá đen bóng, là loại thiên thạch gốc sắt, rất nặng. Anh chàng nhỏ con này đã rơi xuống Atlanta cách đây mấy năm.
    Rachel xem xét hòn thiên thạch. Hiển nhiên là trông nó có vẻ khác thường - đó là viên đá hình tròn, vỏ ngoài bị nung thành màu đen.
    - Lớp ngoài bị cháy đó có tên là vỏ bị nung chảy. - Corky nói. - Đó là kết quả cửa nhiệt độ siêu cao khi tảng thiên thạch rơi vào tầng khí quyển của chúng ta. Thiên thạch nào cũng có vỏ ngoài bị nung cháy như thế cả. - ông ta nhanh nhẹn chuyển sang mẫu đá thứ hai.
    - Mẫu này người ta gọi là thiên thạch đá-sắt.
    Rachel xem xét mẫu đá, thấy hòn này cũng có lớp vò bị nung cháy. Tuy nhiên, mẫu đá này có ánh xanh nhạt và lát cắt ngang trông như tác phẩm cắt dán ảnh với những mảnh góc cạnh nhỏ sặc sỡ tương tự kính vạn hoa.
    - Hay thật. - Cô nhận xét.
    - Cô nói đùa đấy à? Tuyệt diệu chứ! - Corky nói một hơi về hàm lượng chất olivin cao trong đó đã tạo ra sắc xanh đẹp lộng lẫy của hòn đá, rồi ông ta với tay lấy mẫu đá thứ ba, mẫu cuối cùng, đưa cho Rachel.
    Rachel cầm mẫu đá trong tay. Hòn này có màu nâu xám, hơi giống đá granit. Có vẻ hơi nặng hơn đá trên mặt đất một chút, chỉ một chút xíu. Dấu hiệu duy nhất cho thấy nó không phải là hòn đá thông thường, ngoài lớp vỏ bị nung cháy là bề mặt có những cấu trúc hình kim.
    - Mẫu này! - Corky quả quyết nói - được đặt tên là thiên thạch. Đây là loại thiên thạch phố biến nhất. Khoảng hơn 90% thiên thạch trên trái đất thuộc loại này"
    Rachel ngạc nhiên. Cô vẫn tưởng thiên thạch phải giống với mẫu đá thứ nhất hơn - những vật tròn có kết cấu kim loại kì dị.
    Mẫu đá trên tay cô trông chẳng có gì khác thường. Không kể lớp vỏ bị cháy, trông nó cũng như hòn đá ai cũng có thể bắt gặp trên bãi biển.
    Lúc này, mắt của Corky mở to đầy phấn khích.
    - Tảng thiên thạch bị chôn vùi trong băng hà ở Milne thuộc loại thiên thạch đá - khá giống mẫu cô đang cầm trên tay. Thiên thạch đá gần như giống hệt các loại đá do lửa tạo thành trên trái đất, nên rất khó phát hiện. Thường chúng có kết cấu gồm chất feldspar, olivine và pyroxyne. Không có gì đặc biệt.
    Mình sẽ nói, Rachel thầm nghĩ, trả lại ông ta mẫu đá.
    - Hòn này trông như bị cho vào lò nung.
    Corky phá lên cười.
    - Lò quái nào cơ chứ? Lò hiện đại và tối tân nhất cho đến thời điểm này cũng không thể đạt được đến nhiệt độ mà một tảng thiên thạch đạt tới khi rơi vào tầng khí quyển của trái đất. Nóng hơn nhiều!
    Tolland mỉn cười nhìn Rachel đầy hứng khởi:
    - Phần này mới hay đây.
    - Tưởng tượng thế này nhé. - Corky nói, cầm lấy mẫu thiên thạch trên tay Rachel. - Chúng ta hãy tưởng tượng chú bé này có kích cỡ bằng ngôi nhà. - ông ta giơ mẫu đá lên cao quá đầu. - Thế này nhé… nó đang ở trong không trung… trôi dạt ngang qua hệ Mặt trời của chúng ta… nó có nhiệt độ ngang bằng với nhiệt độ ở ngoài vũ trụ âm 100 độ C.
    Tolland đang cười thầm, rõ ràng đã hiểu rằng Corky đang định nhập vai tảng thiên thạch đã rơi xuống đảo Ellesmere.
    Corky bắt đầu hạ thấp mẫu đá xuống.
    - Tảng thiên thạch của chúng ta đang chuyển động về phía trái đất… và nó đang đến mỗi lúc một gần hơn, lực hút của trái đất bắt đầu tác động lên nó… Nó tăng tốc… tiếp tục tăng tốc… Rachel quan sát Corky di chuyển mẫu đá theo đường vòng cung, mô phỏng sự tăng dần của lực hấp dẫn.
    Lúc này nó đang bay rất nhanh. - Corky giảng giải, - Hơn mười dặm một giây. - ba mươi sáu ngàn dặm một giờ! Ở độ cao 135 km so với bề mặt trái đất, nó bắt đầu cọ sát với bầu khí quyển. - Corky lắc mạnh mẫu đá khi hạ nó thấp xuống đến nền băng. - Xuống đến độ cao dưới 100km, nó bắt đầu toả sáng! Lúc này độ đậm đặc của bầu khí quyển đang tăng lên, và mức độ cọ sát cũng tăng lên rất cao! Vùng không khí bao quanh mảng thiên thạch sáng rực lên vì bề mặt của tảng thiên thạch trở nên nóng vô cùng. - Corky bắt đầu bắt chước tiếng lửa cháy sèo sèo. - Nó bay qua độ cao 80 km, và bề mặt của nó nóng đến 800 độ C?
    Rachel ngỡ ngàng quan sát nhà thiên thạch học danh tiếng lắc mẫu đá mạnh hơn nữa, miệng phun phì phì như đứa trẻ.
    - 60 km! - Lúc này Corky hét lên. - Anh chàng thiên thạch này đâm đầu vào bầu khí quyển. Không khí quá đậm đặc! Anh ta lập tức giảm tốc độ rất nhanh, nhanh gấp 300 lần lực hấp dẫn! - Corky bắt chước tiếng phanh rít ken két, tay hạ hòn đá xuống thấp và chậm hơn hẳn. - Ngay lập tức, tảng thiên thch nguội đi và không phát sáng nữa. Nó lặng lẽ bay! Bề mặt của tảng thiên thạch lúc trước nớng chảy ra bây giờ đông cứng lại thành một lớp bề mặt cháy đen thô ráp.
    Rachel nghe tiếng Tolland rên lên khi Corky quỳ hẳn xuống đất để mô phỏng cú tiếp đất của tảng thiên thạch.
    - Lúc này - Corky nói - tảng thiên thạch của chúng ta đang trượt trong tầng khí quyển thấp… - Tay ông ta đưa hòn đá theo một đường xiên. - Nó đang bay về phía Đại Tây Dương… Rơi… rơi.., cảm tưởng như nó sắp bay qua đại dương này.. rơi…và… - ông ta cho tảng đá chạm mặt băng. - BÙM!
    Rachel giật mình.
    Kết quả là đã xảy ra một trận lụt lớn. Tảng thiên thạch nổ tung. Các mảnh vỡ của nó bắn tung toé, bay ra khắp đại dương.
    Lúc này, điệu bộ của ông ta chậm hẳn lại, vừa rung, lắc vừa chầm chậm di chuyển hòn đá nhỏ trong đại dương tưởng tượng, về phía chân Rachel. - Một mảnh vỡ cứ trôi, trôi mãi về phía đảo Ellesmere… - ông ta di chuyển hòn đá lên ngón chân của Rachel.
    Nó văng khỏi mặt nước, lên trên bờ… - Corky di chuyển hòn đá qua mũi giầy, gần đến mắt cá chân của Rachel - Và cuối cùng nó nằm im tại sông băng Milne, băng và tuyết nhanh chóng phủ kín hòn đá, bảo vệ nó trước tác động ăn mòn của thời tiết.. - ông ta đứng dậy và mỉm cười.
    Rachel há hốc miệng. Cô cười đằy thán phục:
    - Thưa tiến sĩ Marlinson. Ông giải thích thật là...
    - Dễ hiểu đúng không? - ông ta đưa đẩy.
    Rachel mỉm cười.
    - Có thể nói như vậy.
    Corky đưa cho cô hòn đá:
    - Hãy quan sát mặt cắt của nó đi.
    Rachel quan sát một lúc, nhưng chẳng nhìn thấy gì.
    - Hãy nghiêng nó về phía ánh sáng. - Tolland gợi ý, giọng ấm áp và đôn hậu. - Nhìn gần vào.
    Rachel đưa hòn đá lên sát tận mắt và nghiêng nó về phía ngọn đèn halogien đang toả sáng trên trần nhà. Và cô thấy những giọt kim loại nhỏ xíu đang ánh lên dưới ánh đèn. Trên mặt cắt có khoảng vài chục giọt trông như thuỷ ngân, mỗi giọt có kích cỡ khoảng một milimét.
    - Những giọt nhỏ xíu đó có tên là chrondrule, Corky nói - và những giọt như vậy chỉ có ở những tảng thiên thạch mà thôi.
    Rachel nheo mắt quan sát:
    - Công nhận, tôi chưa thấy hòn đá nào trên trái đất có cấu trúc thế này cả.
    - Sẽ không bao giờ thấy! - ông ta tuyên bố. - chrondrule là một loại cấu trúc địa lí không hề có mặt trên trái đất. Một số chrondrule có tuổi đời cực kỳ dài - có lẽ đây là kết cấu địa lý được hình thành đầu tiên trong vũ trụ. Những chrondrule khác thì ít tuổi hơn nhiều, ví dụ như hòn đá trong tay cô. Những chrondrule của hòn đá này chỉ có 190 triệu năm thôi.
    - 190 triệu năm vẫn coi là trẻ ư?
    - Hoàn toàn đúng. Theo quan niệm của địa lí học, thời điểm đó chỉ như ngày hôm qua mà thôi. Vấn đề quan trọng, là hòn đá này có các chrondrule, bằng chứng thuyết phục chứng tỏ rằng đây là một tảng thiên thạch.
    - Được rồi! - Rachel nói. - chrondrule là bằng chứng thuyết phục. Tôi hiểu rồi. Cuối cùng, nếu bề mặt cháy xém và các chrondrule vẫn chưa thuyết phục được cô thì các thiên thạch gia chúng tôi còn có các phương pháp khác rất kinh điển để chứng minh nguồn gốc của một tảng thiên thạch.
    - Đó là…?
    Corky lơ đễnh nhún vai.
    - Chúng tôi chỉ dùng những thứ đơn giản như kính hiển vi phân cực thạch học, quang phổ kế tia X, máy phân tích hoạt hoá nơ-trôn, hoặc một quang phổ kế giảm plasma kép để đo tỉ lệ sắt từ.
    Tolland rên lên.
    - Ông ta bắt đầu khoe mẽ rồi đấy. Ý ông ta là người ta chỉ cần phân tích thành phần hoá học của nó là xong.
    - Này anh chàng đại dương học kia, - Corky la rầy ông ta, chuyện khoa học thì để yên cho các nhà khoa học nói chứ. - Rồi ông ta quay ngay về phía Rachel. - Ở một tảng đá thuộc trái đất, tỉ lệ khoáng chất nikel luôn rất cao hoặc rất thấp, không bao giờ ở mức trung bình cả. Ở các thiên thạch thì hàm lượng nikel luôn rơi vào mức trung bình. Dó đó, nếu kết quả phân tích cho thấy hàm lượng nikel ở mức độ trung bình thì có thể đảm bảo hoàn toàn chắc chắn rằng tảng đá ấy có nguồn gốc vũ trụ.
    Rachel phát cáu:
    - Thôi được rồi, thưa các nhà khoa học đáng kính, vỏ ngoài cháy xém, các chrondrule, hàm lượng nikel trung bình, tất cả đều chứng minh một tảng đá nào đó là thiên thạch. Tôi hiểu cả rồi. - Cô đặt hòn đá trước mặt Corky. - Nhưng vì sao tôi lại phải đến đây nào?
    Ông ta thở dài một cách trang trọng.
    - Cô muốn xem mẫu của tảng đá mà NASA tìm thấy dưới dòng sông băng này hả?
    Xem ngay không thì tôi mỏi mòn vì đợi rồi.
    Lần này Corky thò tay vào túi áo ngực và lôi ra một mảnh đá nhỏ hình tròn dẹt. Mảnh đá này có hình thù giống cái đĩa CD, dày khoảng một inch, có vẻ giống như mẩu thiên thạch mà cô vừa xem.
    - Đây là mẫu đá chúng tôi vừa khoan lên hôm qua. - ông ta đưa cho Rachel.
    Vẻ bề ngoài của mẫu đá, đó chẳng có gì đáng gây chấn động cả thế giới cả. Đây là một loại đá khá nặng màu trắng ánh da cam, một phần viền ngoài bị cháy xém, rõ ràng là mẫu đá này được lấy ngay bên ngoài rìa của tảng đá.
    - Tôi trông thấy bề mặt bị cháy xém. - Cô nói.
    Corky gật đầu:
    - Đúng là mảnh đá này được lấy ở ngoài rìa tảng đá, nên vẫn còn nguyên lớp vỏ bị cháy xém.
    Rachel nghiêng mẫu đá ra trước ánh đèn và nhìn thấy nhưng giọt kim loại tí xíu. - Tôi cũng nhìn thấy các chrondrule.
    - Tốt rồi. - Giọng Corky đấy phấn khích. - Xin nói thêm là khi đem phân tích thành phần hoá học thì được kết quả hàm lượng nikel đạt mức trung bình - đây không thể là đá của trái đất. Xin chúc mừng, cô đã khẳng định chắc chắn rằng mẫu đá này là của một tảng thiên thạch.
    Rachel bối rối ngước nhìn lên.
    - Thưa tiến sĩ Marlinson, đây là một tảng thiên thạch. Chắc chắn là từ trên trời rơi xuống. Tôi có quên mất chi tiết nào không vậy?
    Corky và Tolland đưa mắt nhìn nhau đầy vẻ đồng loã.
    Tolland đặt tay lên vai Rachel:
    - Cô hãy lật mặt kia lên đi.
    Rachel lật mảnh đá lên, và chỉ sau một giây, cô nhận ra thứ mình đang nhìn thấy.
    Sự thật tác động đến tâm trí cô cực mạnh.
    Không thể nào!
    Rachel thở dốc khi nhìn mẫu đá và đồng thời nhận ra rằng "không thể nào", là một tính từ không hề thích hợp chút nào. Trên mẫu đá có một hình thù hoàn toàn bình thường đối với một mẫu đá của trái đất, nhưng ở một thiên thạch thì khó mà tin nổi.
    Đây là Rachel lắp bắp, gần như không thốt nên lời.
    - Đây là một con bọ! Tàng thiên thạch này có một con bọ hoá thạch ở trong!
    Cả Tolland và Corky đều cười rạng rỡ.
    - Thế là cô đã hiểu rồi nhé, Corky nói.
    Xúc động sâu sắc, Rachel gần như nói không ra hơi; dù thế, trong cơn bàng hoàng, cô vẫn nhận ra rằng mẫu hoá thạch này, không còn nghi ngờ gì nữa, đã từng là một sinh vật sống. Mẫu hoá thạch này có chiều dài khoảng ba inch, và nhìn từ dưới bụng trông giống như con bọ cánh cứng hay con bọ gì đó rất lớn. Bảy cặp chân sau của nó co vào trong lớp vỏ bảo vệ gì đó, trên mẫu đá hình đĩa dẹt này, trông nó giống con ta-tu.
    Rachel choáng váng.
    - Trong vũ trụ có giống bọ này… - Đây là loài động vật đẳng túc. - Corky nói. - Côn trùng thường chỉ có ba cặp chân chứ không phải là bẩy.
    Rachel gần như không nghe thấy. Đầu óc cô còn đang chao đảo khi quan sát mẫu đá.
    - Có thể thấy là… - Corky nói - lớp vỏ cứng trên sống lưng trông rất giống của loại côn trùng trên trái đất. Tuy nhiên, phần phụ hai nhánh của nó lại khác với cấu trúc của loài rận.
    Rachel không đồng tình với ông ta. Không thể tìm cách ghép nó với bất kỳ giống côn trùng thời hiện đại nào. Các mảnh của bức tranh ghép hình giờ đã nằm đúng chỗ của chúng - bí mật của Tổng thống, sự phấn khích của NASA…
    Có một sinh vật hoá thạch trong tảng thiên thạch này. Không phải chỉ là hạt bụi chứa loài vi sinh vật nào đó, mà là một dạng sự sống tiến hoá cao! Bằng chứng của sự sống tồn tại trên vũ trụ.


    Hết chương 22.

Trang 2/13 đầuđầu 1 2 3 4 5 6 12 ... cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 14-10-2012, 12:47 AM
  2. Tổng quan Final Fantasy IX
    By Nelvil in forum Games
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 01-07-2010, 02:41 PM
  3. [Truyện dài] Midnight sun -Stephenie Meyer
    By mininghe in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 51
    Bài mới gởi: 24-04-2010, 07:13 PM
  4. [Truyện dài] THIÊN THẦN VÀ ÁC QUỶ - Dan Brown
    By Fang [(] in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 26
    Bài mới gởi: 18-01-2009, 12:48 PM
  5. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 01-12-2008, 05:34 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •