>
Trang 3/3 đầuđầu 1 2 3
kết quả từ 21 tới 22 trên 22

Ðề tài: [Tham khảo] Bushido - The soul of Japan (Nitobe Inazo)

  1. #21
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XVI

    TINH THẦN VÕ SĨ ĐẠO VẪN CÒN SỐNG MÃI?


    Sự xâm nhập như vũ bão của văn minh tây phương trên đất nước chúng tôi đã quét sạch mọi tàn tích của qui phạm có từ xưa hay không?

    Thật là đau buồn nếu linh hồn của một dân tộc có thể mất nhanh. Nếu quá dễ dàng ngã quỵ trước ảnh hưởng ngoại lai như thế, thì quả thật đó là linh hồn nghèo nàn.

    Hình thể tập hợp của những yếu tố tâm lí tạo nên dân tộc tính dính chặt với dân tộc tính giống như “vi cá, mỏ chim, răng của động vật ăn thịt, những thứ không thể tách rời khỏi những loài vật đó.” Trong quyển sách gần đây (The Psychology of People, p.33), đầy những khái quát hoa mĩ và những quả quyết nông cạn, ông Le Bon đã viết: “Những khám phá dựa vào trí thức, là di sản chung của nhân loại, nhưng sở trường hay sở đoản trong đặc tính của mỗi dân tộc là di sản chỉ có ở dân tộc đó. Những di sản này cứng như nham thạch, dẫu có dùng nước rửa ngày rửa đêm hằng mấy thế kỉ đi nữa, cũng chỉ có thể làm mòn được những chỗ gồ ghề ở mặt ngoài.” Đây là câu nói mạnh mẽ và đáng được suy nghĩ nếu thật sự có những sở trường và sở đoản của đặc tính tạo nên di sản riêng biệt cho mỗi dân tộc. Trước khi Le Bon bắt đầu viết sách khá lâu, những học thuyết có tính cách công thức loại này, được trình làng nhưng đã bị Theodor Waitz (học giả về tâm lí và nhân chủng người Đức, 1821-64, ND) và Hugh Murray làm cho cứng họng. Trong quá trình nghiên cứu những đức tính lần lượt được võ sĩ đạo chỉ dạy, chúng tôi đã lấy những điển cố Âu châu ra để so sánh và kiểm chứng, nhưng chúng tôi không thấy có đặc tính nào là di sản riêng biệt chỉ có ở võ sĩ đạo. Đúng là khi những đặc tính của đạo đức kết hợp lại, nó sẽ cho ra một hình thể hết sức độc đáo. Đó là tập hợp mà Emerson gọi là “kết quả phức hợp mà các phân tử toàn là những sức mạnh vĩ đại.” Thế nhưng ông triết gia Concord (ở đây chỉ Emerson vì Emerson xuất thân ở Concord, (tiểu bang Philadelphia Mỹ), ND) này đã không xem đó là di sản riêng của một dân tộc, hay của một quốc dân như Le Bon đã nói, mà cho rằng “đó là yếu tố liên kết những nhân vật có thế lực nhất trong mỗi quốc gia, làm cho họ hiểu nhau và đồng cảm lẫn nhau; và yếu tố đó rành mạch đến độ mọi người không cần phải dùng những phù hiệu kiểu Mason mà vẫn có thể cảm nhận được ngay tức khắc.”

    Những đặc tính mà võ sĩ đạo đã đóng ấn lên trên dân tộc chúng tôi, đặc biệt đối với samurai, tuy không thể nói là đã thành “yếu tố không thể thiếu được đối với chủng tộc,” nhưng sức sống mà nó có thì thật rõ ràng. Giả thử cho dầu võ sĩ đạo chỉ là một sức mạnh vật lí, nhưng vận động lượng mà nó tích tụ được trong khoảng thời gian bảy trăm năm qua, có muốn chặn lại gấp cũng không được. Và cho dù võ sĩ đạo chỉ được thừa kế do di truyền đi nữa, ảnh hưởng của nó chắc chắn đã lan tràn rộng rãi. Theo cách tính của M. Cheysson, nhà kinh tế học người Pháp, giả thử trong một thế kỉ có ba thế hệ thay đổi thì “trong mạch máu của mỗi người chúng ta ít ra cũng có máu huyết của hai mươi triệu người sống ở năm 1000 tây lịch.” Người nông phu nghèo nàn đào xới đất đai, “còng lưng vì gánh nặng của thế kỉ”, có trong huyết quản của mình máu huyết của nhiều thời đại, và hắn không chỉ là anh em của trâu ngựa mà cũng là anh em của chúng ta.

    Võ sĩ đạo đã thôi thúc dân tộc và cá nhân chúng tôi bằng một sức mạnh vô hình, khó cưỡng. Yoshida Shoin (1830-59), một trong những người tiên phong oanh liệt nhất của Nhật Bản hiện đại, trong đêm trước ngày bị xử hình, đã ngâm hai câu thơ dưới đây, như một tự thú chân thành của dân tộc.

    Biết việc mình làm sẽ dẫn đến tử lộ.
    Hồn Yamato nào dừng lại được đâu.

    Võ sĩ đạo, tuy không được trang bị về hình thức, đã và hiện nay vẫn là tinh thần hoạt động và là động lực của dân tộc.

    Ông Ransome (thi nhân người Mỹ, ND) có nói: “Hiện nay ở nước Nhật có ba Nhật Bản cùng tồn tại cạnh bên nhau, - một Nhật Bản cũ xưa chưa hoàn toàn tiêu mất; một Nhật Bản mới, về mặt tinh thần, chỉ vừa mới được sinh ra; và một Nhật Bản ở thời kì quá độ, đang phải kinh qua những thống khổ quyết định vận mạng của mình.” Nhiều điểm trong câu nói này rất đúng đối với những chế độ cụ thể, rõ rệt, nhưng cần phải sửa đổi đôi chút khi áp dụng vào những quan niệm đạo đức căn bản; vì võ sĩ đạo, kẻ tạo lập và là sản phẩm của Nhật Bản cũ, vẫn là nguyên lí có tính chỉ đạo đối với Nhật Bản trong thời quá độ và sẽ cho thấy đó là sức mạnh tạo ra một thời đại mới.

    Những chính trị gia đang lèo lái Nhật Bản trong trận cuồng phong phục cổ vương triều và trong cơn lốc duy tân quốc gia, là những người chỉ biết những giáo huấn đạo đức của võ sĩ đạo. Gần đây có một vài tác giả ngoại quốc đã tìm cách chứng minh rằng những nhà truyền giáo Cơ đốc đã có những đóng góp to lớn trong việc kiến thiết một Nhật Bản mới. Tôi vui lòng trao tặng danh dự cho những ai có danh dự đó; nhưng thật ra khó có thể trao danh dự này cho những người truyền giáo tốt lành. Tôi nghĩ những người truyền giáo nên tuân thủ giáo huấn trong thánh thư rằng “hãy quy danh dự về người khác” thì có lẽ sẽ hợp với chức vụ của họ hơn là mang ra những đòi hỏi không có bằng chứng làm hậu thuẫn. Đối với tôi, tôi tin rằng những người truyền giáo Cơ đốc đang tận lực cho những sự nghiệp to lớn của Nhật Bản trong lãnh vực giáo dục, đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức, nhưng những hoạt động về tâm linh tuy đích xác nhưng có vẻ thần bí và vẫn còn ẩn mình trong vòng bí mật của thần thánh. Những sự nghiệp của các nhà truyền giáo chỉ có ảnh hưởng gián tiếp. Không, cho đến nay, hầu như không thấy các nhà truyền giáo Cơ đốc có cống hiến vào việc hình thành tính cách của một Nhật Bản mới. Không, dẫu sao đi nữa, chính võ sĩ đạo, thuần túy và đơn thuần, đã kích thích chúng tôi. Hãy nhìn thử tiểu sử của những nhân vật đã tạo ra nước Nhật Bản mới như Sakuma (1811-64), Saigo (1827-77), Okubo (1830-78), hay Kido (1833-77), và cũng không cần phải nói đến những chuyện do những nhân vật hiện còn sống kể lại, như Ito (1841-1909), Okuma (1838-1922), Itagaki (1837-1919) v.v… các bạn sẽ thấy những người này suy nghĩ và hành động do sự thúc giục của võ sĩ đạo. Henry Norman, sau khi quan sát và nghiên cứu Viễn đông, đã nói rõ rằng Nhật Bản có một điểm duy nhất khác với các quốc gia chuyên chế Á đông là “những điều nghiêm khắc nhất, cao cả nhất, chính xác nhất trong những qui tắc về danh dự mà nhân loại đã nghĩ ra được từ trước đến nay, có uy thế chi phối trong quốc dân.” Đây là câu nói đề cập đến nguyên động lực kiến thiết nước Nhật Bản mới như ngày nay và cũng là nguyên động lực đưa Nhật Bản đạt đến số phận được định trong tương lai.

    Sự biến hình của Nhật Bản là sự thật mà tất cả thế giới đều biết. Đương nhiên có rất nhiều động lực thúc đẩy trong việc làm nên sự nghiệp to lớn này, nhưng nếu được hỏi đâu là động lực chính, thì chắc mọi người sẽ không do dự mà bảo rằng đó là võ sĩ đạo. Khi đất nước chúng tôi mở cửa thông thương với ngoại quốc, khi chúng tôi cải thiện sinh hoạt ở mọi mặt, khi chúng tôi bắt đầu học hỏi chính trị và khoa học tây phương, nguyên động lực mang tính chỉ đạo của chúng tôi không phải là việc khai thác tài nguyên vật chất, cũng không phải là việc làm tăng của cải, và không cần phải nói đó cũng không phải là việc bắt chước một cách mù quáng những phong tục phương tây.

    Người đã quan sát tường tận các dân tộc và chế độ ở Á đông đã viết:

    Chúng ta luôn nghe việc Âu châu đã ảnh hưởng đến Nhật Bản như thế nào mà quên mất rằng sự thay đổi của đảo quốc này là điều hoàn toàn có tính tự phát. Không phải Âu châu đã chỉ dạy Nhật Bản, nhưng chính Nhật Bản đã tự mình học hỏi phương pháp tổ chức của Âu châu, về dân sự cũng như về quân sự, và điều này đã tạo ra thành công cho đến ngày hôm nay. Mấy năm trước đây, người Thổ nhĩ kỳ đã nhập khẩu đại bác của Âu châu, giống như vậy, người Nhật đã nhập khẩu khoa học cơ khí của Âu châu. Nói đúng ra đó không phải là ảnh hưởng.” Và ông Townsend (nhà báo, 1831-1911, trong “Asia and Europe”, p.28, ND) viết tiếp “và nếu không thể nói là Anh quốc đã chịu ảnh hưởng của Trung quốc vì đã nhập khẩu trà từ Trung quốc thì tôi xin hỏi những tông đồ, những triết gia, những chính trị gia, hoặc những kẻ giật dây nào của Âu châu, kẻ nào đã cải tạo Nhật Bản?”

    Ông Townsend đã có một nhận thức trác tuyệt rằng nguyên động lực tạo ra sự biến đổi của Nhật Bản nằm trong người Nhật Bản; và nếu ông đi sâu hơn trong việc quan sát tâm lí của người Nhật, với sự quan sát sắc bén của ông, chắc chắn ông sẽ dễ dàng nhận ra rằng nguyên động lực đó chính là võ sĩ đạo. Nghĩa là lòng trọng danh dự đã khiến người Nhật không thể chịu đựng được việc bị coi rẻ như một thế lực nhược tiểu - và đó là động cơ mạnh mẽ nhất. Những đắn đo về tiền bạc hay về công nghệ hóa lần lần được đánh thức trong quá trình chuyển đổi của quốc gia.

    Tác động của võ sĩ đạo ngày nay vẫn còn rõ ràng mà người không chú tâm cũng có thể biết được. Chỉ cần liếc nhìn sinh hoạt của người Nhật cũng đã rõ. Nếu đọc những tác phẩm của Hearn (tên Nhật là Koizumi Yagumo, ND), người diễn giải trung thật nhất và hùng biện nhất về tâm tình của người Nhật, thì sẽ biết được rằng những hoạt động trong con tim người Nhật mà ông miêu tả chính là hoạt động của võ sĩ đạo. Lễ nghĩa phổ biến trong dân gian được mọi người biết đó là di sản của võ sĩ đạo, không cần phải nói lại. “Bọn Nhật lùn” (tuy ngày nay đã cao lớn, ND) nhưng có sức chịu đựng về thể xác, có nghị lực và dũng cảm, điều này đã được chứng minh đầy đủ trong chiến tranh Nhật-Thanh. “Có dân tộc nào có lòng trung quân ái quốc hơn người Nhật không?” là câu hỏi được nhiều người hỏi; và chúng tôi có thể hãnh diện trả lời là “không có”. Chúng tôi phải cảm ơn võ sĩ đạo.

    Mặt khác, phải công bình nhìn nhận rằng võ sĩ đạo có trách nhiệm lớn về những khuyết điểm và sở đoản có trong tính cách của người Nhật. Dân tộc chúng tôi thiếu một triết học sâu xa - mặc dù trong lãnh vực nghiên cứu khoa học có một số người trẻ nổi danh trên thế giới, nhưng không có ai có cống hiến trong lãnh vực triết học – vì chế độ giáo dục của võ sĩ đạo lơ là với việc huấn luyện về hình nhi thượng. Cảm giác về danh dự có trách nhiệm đối với tình cảm cực đoan và tính chất dễ trở thành quá khích của dân tộc chúng tôi. Nếu dân tộc chúng tôi có tính tự tôn tự đại như một số người ngoại quốc phê phán, thì đó cũng là do ở sự quá trớn, có tính cách bịnh hoạn của lòng trọng danh dự.

    Khách ngoại quốc khi đi du lịch Nhật Bản thường thấy có nhiều người trẻ đầu tóc bù xù, ăn mặc lếch thếch, tay cầm sách hay gậy to, đi nghênh ngang ngoài đường phố với vẻ chẳng để ý gì đến việc thế tục. Đó là thư sinh. Trái đất này quá nhỏ và vòm trời này cũng không đủ cao đối với hắn ta. Hắn có thuyết của riêng mình về vũ trụ và nhân sinh. Hắn sống trong lâu đài lơ lửng trên không trung và thường ăn những câu nói sâu xa về trí tuệ. Ánh mắt hắn sáng ngời ánh lửa của tham vọng; lòng hắn khát khao trí thức. Nghèo túng chỉ là kích thích đẩy hắn tiến tới, của cải trong thế gian dưới mắt hắn chỉ là những thứ trói buộc phẩm tính. Hắn là hoá thân của lòng trung quân ái quốc, là người tự cho mình có trách nhiệm giữ gìn danh dự quốc gia. Hắn là một mảnh vỡ cuối cùng của võ sĩ đạo với tất cả mĩ đức và khuyết điểm.

    Ảnh hưởng của võ sĩ đạo vẫn còn mạnh và cắm rễ rất sâu, nhưng như tôi đã trình bày, sự cảm hóa này đã trở thành câm lặng và vô ý thức. Khi những quan niệm mà chúng tôi đã kế thừa bị đánh động, con tim của dân tộc chúng tôi sẽ phản ứng ngay tức khắc, với bất kì lí do gì. Vì thế, quan niệm về đạo đức dẫu có giống nhau nhưng nếu được diễn tả bằng một thuật ngữ mới sẽ có hiệu lực khác hẳn với trường hợp được diễn tả bằng một từ ngữ có trong võ sĩ đạo cũ. Có một tín đồ Cơ đốc xa lánh con đường tín ngưỡng, mục sư đã cố gắng khuyên bảo hắn nhưng vẫn không thể cứu hắn ra khỏi khuynh hướng sa ngã. Khi mục sư nói đến lòng trung nghĩa, nghĩa là lòng thành mà hắn đã thề với chúa quân, hắn đã cải tâm quay về với tín ngưỡng. Chữ “trung nghĩa” đã làm sống lại tất cả những tình cảm cao quí mà hắn có, được trở thành ấm áp. Có một đám học sinh bướng bỉnh ở một trường cao đẳng nọ, đã tiếp tục gây ồn ào không chịu học trong một thời gian dài vì bất mãn đối với một thầy giáo, nhưng những học sinh này đã giải tán với hai câu hỏi đơn giản của thầy hiệu trưởng. “Thầy của các em có phải là một nhân vật có phẩm giá hay không? Nếu phải, các em phải tôn trọng thầy và giữ thầy ở lại trường. Hay, thầy của các em là một con người yếu đuối? Nếu vậy thì việc đẩy một người đang ngã, nào phải là việc làm của đấng mày râu đâu.” Việc phiền hà này bắt đầu từ việc thầy giáo thiếu khả năng về khoa học, nhưng nếu so sánh với vấn đề đạo đức mà thầy hiệu trưởng đã đưa ra, việc đó không còn quan trọng nữa. Sự cách tân đạo đức ở cường độ lớn có thể được thành tựu bằng cách kích thích những tình cảm đã được võ sĩ đạo hàm dưỡng.

    Một nguyên nhân của sự thất bại trong việc truyền giáo là phần đông những người truyền giáo hoàn toàn không biết lịch sử của chúng tôi. Có người nói “cần gì phải để ý đến lịch sử của bọn dị giáo.” Kết quả là họ đã tách tôn giáo của họ ra khỏi những cách thức suy tư mà chúng tôi và tổ tiên chúng tôi đã quen thuộc hằng mấy thế kỉ. Chế nhạo lịch sử của một quốc gia à? Họ không biết rằng, quá trình của bất cứ dân tộc nào, ngay những thổ dân lạc hậu nhất không có kí lục ở Phi Châu, cũng có một trang trong lịch sử tổng quát của nhân loại, do chính tay thượng đế viết. Đó là trang giấy cũ đầy ám hiệu mà con mắt thông thái có thể đọc và lần mò ra được những dấu tích của ngay cả những chủng tộc đã bị diệt vong. Trong con tim có triết lí và sùng đạo, nhân chủng là những kí hiệu mà thượng đế đã vẽ một cách rõ ràng, bằng màu trắng hoặc màu đen giống như màu da của họ. Nếu cách so sánh có thể chấp nhận được, thì giống người da vàng đã tạo ra được một trang quí báu viết bằng chữ tượng hình bằng vàng. Không cần để ý đến quá trình của dân tộc, những nhà truyền giáo chủ trương rằng Cơ đốc giáo là một tôn giáo mới, trong khi đó, theo tôi, đó chẳng qua là một câu chuyện xưa, rất xưa. Nếu câu chuyện này được diễn tả bằng những từ ngữ dễ hiểu, nghĩa là bằng những tự vựng hợp với sự phát triển về đạo đức của một dân tộc, thì chắc chắn sẽ dễ dàng có được chỗ ngụ trong con tim của mọi người, bất kể chủng tộc hay quốc tịch của họ. Đạo Cơ đốc dưới hình thức Mỹ hay Anh – nghĩa là Cơ đốc giáo mang nhiều không tưởng và thị hiếu của chủng tộc Anglo-Saxon hơn là thánh sủng và sự tinh khiết của đức Jesus - chỉ là mầm cây èo uột khó ráp vào gốc cây võ sĩ đạo. Nhà truyền bá đạo mới có nên nhổ cả gốc, rễ, cành lá để gieo hạt giống phúc âm lên mảnh đất đã bị tàn phá hay không? Phương pháp anh hùng này có thể áp dụng được - ở Hawaii. Nơi đó, một giáo hội có tính chiến đấu được cho là đã thành công hoàn toàn trong việc cướp bóc của cải và tiêu diệt thổ dân. Nhưng phương pháp này nhất định hoàn toàn không thể áp dụng được ở Nhật Bản. Không, đó là phương pháp mà chính đức Jesus nhất định không bao giờ áp dụng trong việc kiến thiết vương quốc của ngài trên trái đất này.

    Tôi xin đưa ra những lời nói sau đây của một thánh đồ sùng đạo, đồng thời cũng là một học giả uyên thâm (ông Jowett trong “Sermons on Faith and Doctrine”, ND).

    “Người ta đã chia thế giới này ra thành người dị giáo và tín đồ Cơ đốc mà không để ý rằng có không biết bao nhiêu điều thiện giấu mình trong kẻ trước và không biết bao cái ác trộn lẫn với người sau. Họ đem chỗ tốt nhất của mình ra so sánh với chỗ xấu nhất của người bên cạnh, so sánh lí tưởng của đạo Cơ đốc với cái hủ bại của Hy Lạp hoặc của Á đông. Họ không muốn vô tư, ngược lại họ vui lòng gom góp tất cả những gì được xem như là điểm tốt của tôn giáo của họ và tất cả những gì có thể dùng để phỉ báng mọi hình thức của tôn giáo khác.”

    Tuy có nhiều lỗi lầm về mặt cá nhân, nhưng có điều không thể nghi ngờ được là nguyên lí căn bản của tôn giáo mà họ tin, có một sức mạnh to lớn mà chúng ta cần phải nghiên cứu khi nghĩ đến tương lai của võ sĩ đạo. Thời gian dành cho võ sĩ đạo hình như chẳng còn bao nhiêu. Có những điềm xấu ở trên không, báo trước tương lai của võ sĩ đạo. Không phải chỉ có điềm xấu, nhiều thế lực ghê gớm đang dần dần có hành động hăm dọa võ sĩ đạo
    thay đổi nội dung bởi: Kasumi, 01-07-2008 lúc 11:35 AM
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  2. #22
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CHƯƠNG XVII

    TƯƠNG LAI CỦA VÕ SĨ ĐẠO


    Ít có so sánh lịch sử chí lí giữa kị sĩ đạo của Âu châu và võ sĩ đạo của Nhật Bản. Nếu những gì xảy ra trong lịch sử sẽ được lập lại, thì số phận của võ sĩ đạo chắc chắn sẽ giống hệt như số phận của kị sĩ đạo. St. Palaye cho rằng vì đặc biệt và có tính địa phương nên kị sĩ đạo đã suy vi. Dĩ nhiên những lí do này không thích ứng với điều kiện của Nhật Bản. Thế nhưng, những lí do rộng lớn hơn và tổng quát hơn trong thời trung cổ và hậu trung cổ đã khiến kị sĩ và kị sĩ đạo dần dần diệt vong, chắc chắn cũng là nguyên nhân đang dần dần làm võ sĩ đạo suy vi.

    Sự khác biệt rõ ràng giữa kinh nghiệm lịch sử của Âu châu và của Nhật Bản là ở Âu châu khi kị sĩ đạo bị chế độ phong kiến dứt sữa, và được giáo hội Cơ đốc nuôi nấng, kị sĩ đạo đã có một đời sống mới. Ngược lại, Nhật Bản không có tôn giáo to lớn đủ để nuôi nấng võ sĩ đạo. Vì vậy khi mẹ đẻ, tức là chế độ phong kiến mất đi, võ sĩ đạo bị bỏ lại thành cô nhi, phải tự mình lo liệu. Tổ chức quân sự ngày nay với đầy đủ trang bị có thể đặt võ sĩ đạo dưới sự bảo hộ của mình, nhưng như chúng ta biết, chiến tranh ngày nay hầu như không có chỗ để võ sĩ đạo tiếp tục lớn mạnh. Thần đạo, vú nuôi của võ sĩ đạo khi còn thơ ấu, nay đã già. Thánh hiền của Trung Quốc cổ đại lần lần nhường chỗ cho những trí thức mới lên, kiểu như Bentham và Mill[1]. Những lí thuyết đạo đức có khuynh hướng khoái lạc được phát minh và đưa ra dùng, theo gót khuynh hướng bài ngoại và háo chiến của thời đại, được nghĩ là theo đúng yêu cầu ngày nay. Nhưng ngay ngày nay chúng ta chỉ nghe có những tiếng nói chát chúa vọng lại qua những cột báo hạng nhì.

    Nhiều thế lực và quyền lực đã cùng nhau dàn trận chống lại võ sĩ đạo. Ông Veblen nói: “Dưới con mắt của những người mẫn cảm, sự suy vi của lễ nghĩa – hay nói một cách khác, sự tầm thường hóa đời sống – trong gia cấp lao động, đã trở thành một trong những tệ hại chính của văn minh đương đại.” Trào lưu không ngăn cản nổi của chủ nghĩa dân chủ đắc thắng, không cho phép hình thức hay hình thái nào của liên hiệp độc lập về tinh thần tồn tại. Và võ sĩ đạo lại là một liên hiệp độc lập về tinh thần, quyết định đẳng cấp và giá trị của tính chất đạo đức, do những người độc chiếm kho vốn liếng về văn hóa và trí tính, tổ chức. Vì thế trào lưu của chủ nghĩa dân chủ, một mình nó cũng có thể làm chìm mất mọi dấu tích của võ sĩ đạo. Những thế lực hiện tại của xã hội không dung dưỡng tinh thần giai cấp hẹp hòi, và kị sĩ đạo, như Freeman phê bình sắc bén, là một tinh thần giai cấp. Xã hội hiện đại, nếu muốn tiến đến một sự thống nhất nào đó, sẽ không thể chấp nhận “bày ra những nhiệm vụ hoàn toàn có tính cách cá nhân dành cho lợi ích của giai cấp đặc quyền (trong Norman Conquest, vol. V, p.482).” Thêm vào đó là sự phát triển của giáo dục phổ thông, của kĩ thuật công nghiệp, của giàu sang và đời sống đô thị, - giờ đây, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng những lằn chém sắc bén nhất của samurai, những mũi tên nhọn nhất bắn từ những cây cung mạnh nhất của võ sĩ đạo, tất cả đều trở thành vô dụng. Quốc gia được xây dựng trên hòn đá “danh dự”, được danh dự bảo vệ - không biết nên gọi bằng cách nào đây, “quốc gia danh dự” hay là “quốc gia anh hùng” theo như cách gọi của Carlyle? - quốc gia này bây giờ đang nhanh chóng rớt vào tay của những luật sư chuyên cãi bướng, và những chính trị gia miệng lưỡi được võ trang bằng võ khí lí sự cùn. Một tư tưởng gia vĩ đại, liên quan đến Theresa[2] và Antigone[3], đã nói: “môi trường sản sinh ra những hành vi mãnh liệt của họ đã vĩnh viễn mất rồi.” Câu nói này cũng có thể nói được đối với võ sĩ đạo.

    Ôi! Đạo đức của võ sĩ. Ôi! niềm kiêu hãnh của võ sĩ. Đạo đức ngày xưa được đón tiếp vào thế gian bằng tiếng trống tiếng kèn, giờ đây có số mệnh phải biến mất như “tướng cũng mất, và vua cũng mất”.

    Nếu lịch sử có thể dạy cho chúng ta mọi điều thì lịch sử sẽ nói với chúng ta rằng quốc gia được kiến thiết trên đạo đức thượng võ – dù đó là quốc gia đô thị Sparta, hay đế quốc La Mã đi nữa – không bao giờ tạo được một “đô thị vĩnh viễn” trên trái đất này. Bản năng đấu tranh có trong con người, có tính phổ biến và tự nhiên, dầu có sản sinh ra những cảm tính cao thượng, hay những đức tính ra vẻ nam nhi, cũng không thể hình thành một nhân cách trọn vẹn. Còn có một bản năng khác thần thánh hơn núp dưới bản năng đấu tranh – đó là tình thương. Thần đạo, Khổng tử, Vương dương Minh tất cả đều dạy điều đó rõ ràng; nhưng võ sĩ đạo và tất cả những hệ thống đạo đức của hình thái vũ lực khác vì phải đối phó với những vấn đề thực tế trước mắt nên thường quên đi việc cần phải xem nặng vấn đề tình thương một cách thích đáng. Đời sống đã trở nên rộng lớn hơn trong thời gian gần đây. Ngày nay, điều đòi hỏi chúng ta phải chú ý là sứ mệnh cao cả hơn, rộng lớn hơn sứ mệnh của võ sĩ. Với cách nhìn rộng lớn về cuộc sống, với sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân chủ, với sự hiểu biết tốt hơn về quốc gia khác, về dân tộc khác, tư tưởng nhân đức của Khổng tử - chắc cũng cần phải thêm tư tưởng từ bi của Phật giáo, phải không? – sẽ nhân rộng ra, đi đến khái niệm về tình thương của Cơ đốc giáo. Con người đã vượt qua thần dân, tiến đến địa vị của công dân; không, còn cao hơn công dân nữa – là con người. Dẫu có những đám mây chiến tranh đang bao phủ nặng nề trên khắp bầu trời, nhưng tôi tin rằng những cánh chim của thiên sứ hoà bình có thể quạt tan chúng. Lịch sử của thế giới xác nhận lời tiên đoán “kẻ ôn hòa sẽ thừa kế trái đất”. Quốc gia bán chác quyền được hưởng hòa bình của trời cho, rút lui khỏi mặt trận công nghiệp hóa để chuyển sang hàng ngũ xâm lược, thật sự là đã làm một cuộc đổi chác chẳng ra gì.

    Tình trạng xã hội đã thay đổi nhiều, không chỉ phản đối mà trở thành thù nghịch đối với võ sĩ đạo. Đúng đây là lúc cần phải chuẩn bị một đám táng danh dự cho nó. Khó nói rõ khi nào võ sĩ đạo sẽ chết mất, giống như đã không biết rõ nó được sinh ra từ hồi nào. Tiến sĩ Miller có nói “kị sĩ đạo đã chính thức bị bãi bỏ vào năm 1559, khi hoàng đế Henri thứ hai của Pháp bị giết trong trận đấu võ.” Với Nhật Bản, sắc lệnh “bỏ phiên lập huyện” (bãi bỏ lãnh thổ của lãnh chúa, thành lập đơn vị hành chánh mới là “tỉnh”, ND) được ban bố vào năm 1870 là tín hiệu đánh dấu sự cáo chung của võ sĩ đạo. Năm năm sau, sắc lệnh cấm mang kiếm đã rung chuông tiễn đưa thời đại cũ đi, thời đại của “ân điển không phải trả tiền, quốc phòng với giá rẻ, bảo hộ tình cảm ra vẻ nam nhi và việc làm anh hùng”, và là hồi chuông chào đón thời đại mới vào, thời đại của “những nhà ngụy biện, những kinh tế gia, và những kẻ tính toán.”

    Có người bảo rằng Nhật Bản thắng chiến tranh với Trung Quốc (chiến tranh Nhật-Thanh) được là nhờ có súng trường Murata và đại bác Krupp; cũng có người nói chiến thắng này là thành quả của hệ thống trường học cận đại. Nhưng những điều này không đúng được phân nửa sự thật. Có bao giờ một chiếc đàn dương cầm, cho dầu nó đã được những tay nghề khéo léo như Ehrbar hoặc Steinway làm ra, cũng không thể diễn tấu hay ho những bài Rhapsody của Liszt hoặc những bài Sonata của Beethoven mà không cần bàn tay của người diễn tấu? Hoặc, nếu súng có thể thắng trận thì tại sao Louis Napoleon lại không có thể thắng Prussia với những cây súng Mitrailleuse của mình, hay người Tây Ban Nha với những cây súng Mauser lại không thể thắng người Philipine chỉ được vũ trang bằng những cây súng Remington cũ kỹ? Không cần phải lập lại câu nói quá xưa – chính tinh thần đã tạo ra hoạt lực, và những dụng cụ tốt nhất cũng trở thành vô ích nếu không có tinh thần. Súng và đại bác tốt nhất cũng không tự mình bắn được; hệ thống giáo dục hiện đại nhất cũng không thể biến kẻ nhút nhát thành anh hùng. Không! Kẻ thắng những trận đánh ở Áp Lục Giang, ở Triều Tiên, ở Mãn Châu là hồn ma của cha ông chúng tôi, đã dẫn dắt chúng tôi và đánh nhịp trong con tim chúng tôi. Những hồn ma này là những vong hồn hùng dũng của tổ tiên chúng tôi, đã không chết mất. Đối với những người có mắt để nhìn, họ hiện lên rõ ràng. Một người Nhật có tư tưởng tiến bộ nhất đi nữa, khi bị cào da, sẽ lộ nguyên hình là một samurai. Danh dự, dũng cảm và những đức tính khác của võ sĩ là di sản vĩ đại, như giáo sư Cramb đã diễn tả thích đáng là “tài sản mà chúng tôi chỉ được quyền gìn giữ, nó là bổng lộc vĩnh viễn của tổ tiên đã mất và của con cháu về sau mà không ai có thể cướp mất được.” Vì thế sứ mệnh hiện tại của chúng tôi là giữ gìn di sản này, không để tinh thần cổ lai mất đi, dẫu chỉ một chữ hay một nét; và sứ mệnh trong tương lai là mở rộng phạm vi ứng dụng tinh thần này vào trong mọi hành động, mọi quan hệ của đời sống.

    Hệ thống đạo đức của Nhật Bản phong kiến đã sụp đổ thành tro giống như những thành quách và vũ khí của nó. Nhưng, có dự đoán rằng hệ thống đạo đức mới sẽ nổi lên như chim phượng hoàng, dẫn dắt Nhật Bản đến con đường tiến bộ. Và dự đoán này đã được chứng minh bằng những việc xảy ra trong nửa thế kỉ vừa qua. Tôi tin rằng sự thành tựu của lời dự đoán này vừa là điều mong muốn và cũng là điều có thể thực hiện được. Nhưng không nên quên rằng chim phương hoàng được sinh ra và bay lên từ đóng tro tàn của mình, nó không phải là chim di cư, cũng không phải nó bay bằng cách mượn cánh của kẻ khác. “Xứ trời ở trong lòng ngươi.” Xứ trời, không phải là chỗ đến được bằng cách lăn xuống núi, dẫu núi có cao mấy, và cũng không thể đến được được bằng cách vượt qua biển dẫu biển có rộng mấy. Kinh Coran có nói “Thượng đế ban cho mỗi dân tộc một đấng dự ngôn (đấng tiên tri) nói tiếng của dân tộc đó.” Những hạt giống của xứ trời có ở trong lòng người Nhật và được người Nhật hiểu rõ, đã khai hoa trong võ sĩ đạo. Nhưng buồn thay, trước khi kết trái đầy đủ, giờ đây thời đại của võ sĩ đạo lại sắp chấm dứt. Và chúng tôi quay sang mọi hướng để tìm kiếm những nguồn khác của vẻ xinh tươi và sự sáng chói, của sức mạnh và sự an ủi, nhưng giờ đây không tìm ra được thứ nào có thể thay chỗ cho võ sĩ đạo. Triết lí được, thua của những người theo chủ nghĩa thực dụng hay của những người theo chủ nghĩa vật chất được những người cãi bướng mất hết nửa linh hồn yêu thích. Cơ đốc giáo là một hệ thống đạo đức khác duy nhất, đủ sức đương đầu với chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa vật chất. Nếu đem việc này ra so sánh, phải thú nhận là, võ sĩ đạo giống như một tim đèn cháy lờ mờ sắp tắt. Nhưng đức cứu thế đã tuyên bố là không dập tắt nó mà sẽ quạt cho nó thành lửa. Giống như những nhà dự ngôn tiền nhiệm Hebrew, đặc biệt giống với Isaiah, Jeremiah, Amos, và Habakkuk, võ sĩ đạo đã đặt trọng điểm ở hành vi đạo đức của những người thống trị, cũng như công chức và của dân tộc. Ngược lại, đạo đức của Cơ đốc giáo hầu như chỉ đặt trọng điểm ở cá nhân và những gì liên quan đến tín đồ nên phạm vi ứng dụng trong thực tế sẽ rộng lớn hơn khi cá nhân chủ nghĩa bành trướng thế lực, với tư cách là một yếu tố của đạo đức. Cái gọi là đạo đức chủ nhân có tính tự kỉ trung tâm của Nietzsche có nhiều điểm giống với võ sĩ đạo, nhưng nếu tôi nghĩ không lầm thì đó là một hiện tượng có tính quá độ hoặc là sự phản động nhất thời đối với cái ông ta gọi, với sự méo mó bịnh hoạn, là đạo đức nô lệ có tính khiêm tốn và tự kỉ phủ định của người Nazarene.

    Cơ đốc giáo và chủ nghĩa vật chất (kể cả chủ nghĩa thực dụng) - hoặc, tương lai sẽ đưa chúng về lại hình thái cũ xưa hơn của chủ nghĩa Hebrew và chủ nghĩa Hy Lạp hay không? – hai chủ nghĩa này sẽ chia thế giới ra làm hai. Hệ thống đạo đức nhỏ hơn sẽ liên kết với một trong hai để tồn tại. Võ sĩ đạo sẽ liên kết với bên nào đây? Trong võ sĩ đạo, không có một giáo lí hay một hình thức nào cần phải cố thủ, vì thế một ngày nào đó, thực thể của nó có thể sẽ biến mất. Giống như hoa anh đào, rơi rụng theo luồng gió đầu tiên buổi sáng. Nhưng sự tiêu mất hoàn toàn nhất định không phải là số phận của nó. Có ai dám nói chủ nghĩa khắc kỉ đã mất rồi không? Là một hệ thống, đúng là nó đã mất, nhưng nó vẫn còn sống như một đức tính. Sức mạnh và sức sống của nó vẫn còn thấy được ở mọi ngõ ngách của đời sống – trong triết học của những quốc gia tây phương, trong pháp luật của thế giới văn minh. Không những thế, nơi nào con người còn phấn đấu để nâng cao mình lên, nơi nào mà linh hồn còn cố gắng để làm chủ thế xác, thì ở đó chúng ta sẽ thấy qui luật bất diệt của Zeno còn hoạt động.

    Là một qui định luân lí độc lập, võ sĩ đạo có thể sẽ tiêu tan, nhưng sức mạnh của nó sẽ còn mãi trên trái đất. Trường dạy về vũ dũng, về danh dự công dân có thể sẽ bị phá hủy; nhưng sự sáng chói và vinh quang sẽ vượt qua đổ nát để tồn tại lâu dài. Giống như hoa anh đào, tượng trưng của võ sĩ đạo, dẫu có bị gió bốn phương làm rơi rụng, nó sẽ ban phước cho con người với hương thơm của nó, làm đời sống con người phong phú hơn. Ngàn đời sau, khi tập quán của nó bị chôn vùi và tên tuổi của nó bị quên lãng, “đứng lại mà ngắm” sẽ thấy mùi hương của nó bồng bềnh trong không khí trên ngọn đồi xa xôi mút mắt, như câu thơ của một thi sĩ Quaker.

    Du khách cảm mùi thơm
    Không biết từ đâu đến
    Dừng chân bên mé lộ.
    Trời cao, một lời nguyền.



    HẾT
    Kuala Lumpur ngày 8 tháng 3 năm 2007
    Lê ngọc Thảo dịch.
    (Thành viên “Nhóm Dịch Thuật Văn Học Nhật Bản”)


    Dịch từ nguyên tác đăng trên mạng : Bushido The Full Text


    [1] Bentham và Mill: Jeremy Bentham (1748-1832) là triết gia chủ trương chủ nghĩa thực dụng. James Mill là người cộng tác và là thư kí của Bentham.

    [2] Theresa (1515-82): thánh Theresa, người đã tận lực trong việc cải cách tu viện.

    [3] Antigone: con gái của vua Oidipus xứ Thebai. Vua cha vì bị mù nên đã bị cướp ngôi. Antigone đã cùng cha phiêu lãng ra nước ngoài. Khi cha chết, Antigone đã trở về Thebai. Anh của Antigone là Polynices với sự trợ giúp của lân bang, đã đánh Thebai để dành lại ngôi vua, nhưng đã bại trận và bị giết. Antigone đã lén vua chôn thi thể anh mình nên bị buộc tội tử hình. Antigone đã xin vua Creon chôn sống mình cùng với tro xương của người anh.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

Trang 3/3 đầuđầu 1 2 3

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •