>
kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Koudou - Hương đạo Nhật Bản

  1. #1
    ^^ cá đổi màu ^^
    ♥ JPN's Super Lover ♥
    Sayuri_chan's Avatar


    Thành Viên Thứ: 55322
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Phú Thọ
    Tổng số bài viết: 2,127
    Thanks
    462
    Thanked 8,599 Times in 1,653 Posts

    Koudou - Hương đạo Nhật Bản

    Từ xưa, người Nhật đã có thói quen dùng hương trầm như một liệu pháp giúp tinh thần minh mẫn. Cùng với thời gian, họ đã tạo ra nhiều dụng cụ và nhiều cách khác nhau để thưởng thức mùi hương này.


    Nhang là một trong các dạng của hương trầm

    Nhang là một trong các dạng của hương trầm. Nhang vốn là đồ cúng tế quan trọng trong Phật giáo. Người Nhật tin rằng nhang giúp tẩy uế. Nhang sử dụng để thắp trong nghĩa trang thường được chiết xuất từ mùi hương tự nhiên của lá tuyết tùng.

    Tại Nhật, hương trầm được chế tạo thành nhiều kiểu dáng khác nhau phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Sự phổ biến của nó đã tạo nên nét văn hóa yêu thích của người dân nơi đây. Người Nhật có thói quen đặt túi thơm vào quần áo hay túi xách để tạo cảm giác dễ chịu.


    Người Nhật có thói quen đặt túi thơm vào quần áo hay túi xách để tạo cảm giác dễ chịu

    Trầm hương là nguyên liệu chính dùng để làm hương trầm. Trầm hương là sản phẩm đặc biệt nằm trong lõi của cây gió. Không phải bất kỳ thân cây gió nào cũng có trầm hương và kỳ nam. Chỉ một số cây gió có bệnh mới chứa trầm ở phần lõi của thân. Cây gió xuất hiện nhiều ở các khu rừng rậm nhiệt đới. Tại châu Á, trầm thường được tìm thấy trong các cánh rừng của Việt Nam và Campuchia.

    Ngoài các nghệ thuật nổi tiếng như trà đạo, hoa đạo hay kiếm đạo… người Nhật còn có một loại hình nghệ thuật thưởng thức hương trầm truyền thống được gọi là “Koudou”, nghĩa là “hương đạo”. So với các hình thức nghệ thuật khác của Nhật được truyền bá ra thế giới thì hương đạo ít phổ biến hơn.

    Hương đạo là một nghi lễ thưởng thức hương trầm truyền thống chỉ có tại Nhật Bản. Ngoài ra, nó còn là hình thức giải trí, vừa giúp tinh thần minh mẫn, vừa là cuộc đấu trí giữa những người tham gia xem ai có khả năng phân biệt chính xác nhiều loại mùi hương khác nhau.

    Người Nhật phân chia hương thơm ra thành nhiều nhóm. Trước tiên là mùi hương ngọt ngào, chẳng hạn như hương của mật ong. Thứ hai là hương thơm mang vị đắng. Đó là mùi hương của vỏ cam, quýt khô được nung trên than hồng. Thứ ba là hương của vị cay nồng. Nó có thể là hương thơm của tiêu hoặc ớt… Thứ tư là mùi hương mang vị chua. Mùi hương này xuất phát từ những loại quả ngâm chua. Thứ năm là hương của vị mặn. Đại diện của nó là hương thơm mặn nồng của rong biển khi được đốt trên lửa than.

    Người tham dự các buổi lễ trong hương đạo cần nắm bắt đặc điểm riêng của 5 nhóm mùi hương trên để nhận biết chính xác từng loại hương thơm. Hương đạo được đánh giá là cuộc tranh tài tao nhã, trong đó, mọi người cố gắng đưa ra phán đoán đúng nhất về mùi hương của từng loại trầm.

    Chữ ký của Sayuri_chan
    Mây của trời cứ để gió cuốn đi


    Mainichi nihongo

  2. The Following 9 Users Say Thank You to Sayuri_chan For This Useful Post:

    bad_no001 (02-01-2013), bé sa (22-11-2010), hina chan (21-11-2010), kei_itsumo (24-11-2010), linhss (30-11-2010), nhuyhono (07-06-2011), snowdog (21-11-2010), tea_tea (24-11-2010), vtvk (22-11-2010)

  3. #2
    Bụi đường
    snowdog's Avatar


    Thành Viên Thứ: 56591
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 194
    Thanks
    1,050
    Thanked 593 Times in 317 Posts
    Nước mình có bán cái này không nhỉ . Hương mình đốt khói um lên với khó thở quá . Kiếm hương khói ít với thơm cho tĩnh tâm.
    Chữ ký của snowdog
    Mệt nhoài...

  4. #3
    ^^ cá đổi màu ^^
    ♥ JPN's Super Lover ♥
    Sayuri_chan's Avatar


    Thành Viên Thứ: 55322
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Phú Thọ
    Tổng số bài viết: 2,127
    Thanks
    462
    Thanked 8,599 Times in 1,653 Posts
    Tại Nhật, có một trò chơi đoán mùi hương rất thú vị gọi là “Gen-ji ko”. Mỗi câu trả lời của trò chơi này tương ứng với tên của một chương trong “Truyện kể Gen-ji” – một tác phẩm văn học cổ điển Nhật Bản ra đời vào thời Heian.


    Gen-ji ko là một trò chơi đoán mùi hương rất thú vị

    Trong “Gen-ji ko”, người quản trò chuẩn bị 5 chén hương trầm, trong đó, mùi hương của chúng có cái giống nhau, có cái khác nhau hoặc giống và khác nhau hoàn toàn. Người chơi lần lượt nghe qua từng mùi hương, sau đó dùng hồi ức của khứu giác để trả lời mùi hương thứ mấy trong số đó giống nhau và khác nhau. Câu trả lời được viết trên giấy bằng 5 vạch thẳng đứng. Mùi hương nào giống nhau sẽ được liên kết với nhau bằng một vạch ngang ở trên đỉnh của 5 vạch thẳng. Nếu khác nhau thì không có liên kết.

    Trong “Gen-ji ko” có tất cả 52 đáp án, mỗi đáp án tương đương với mỗi tựa đề của 52 trong số 54 chương của Truyện kể Genji.


    Tên của 54 chương trong Truyện kể Genji

    Ngày xưa, Gen-ji ko được đánh giá là trò tiêu khiển thú vị trong thế giới văn hóa cung đình của Nhật Bản. Hiện nay, trò chơi này vẫn được gìn giữ và phát triển trong xã hội hiện đại Nhật Bản.

    Thói quen dùng hương trầm đã xuất hiện tại Nhật vào thế kỉ thứ XI, cùng thời điểm đạo Phật truyền bá đến quốc gia này. Khi mới du nhập vào Nhật, hương trầm chỉ được sử dụng trong các nghi thức của Thần đạo và Phật giáo.

    Đến thế kỉ thứ IX, vào thời Heian, trầm hương đã vượt ra khỏi khuôn khổ của tôn giáo và trở thành hương liệu rất được ưa chuộng vì mùi thơm thanh nhã. Hương trầm nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong giới quí tộc.


    Ne-ri-ko – một loại hương có dạng viên

    Loại hương được dùng chủ yếu lúc bấy giờ là Ne-ri-ko – một loại hương có dạng viên, được pha chế từ trầm hương trộn với mật ong hoặc một số phụ liệu khác. Giới quí tộc thời Heian rất thích đốt trầm trong nhà hoặc thư phòng để giúp tinh thần minh mẫn, tạo không gian thơm dịu và để hương thơm quyện vào y phục.


    Túi trầm hương

    Từ sau thế kỉ XIII, việc sử dụng Ne-ri-ko không còn thịnh hành, người Nhật chuyển sang dùng những mảnh gỗ trầm hương nguyên chất vì thích hương thơm tự nhiên của nó.

    Cuối thời Mu-ro-ma-chi, khoảng thế kỉ XVI, hai nhà văn hóa lúc bấy giờ là San-jo-ni-shi Sa-ne-ta-ka và Shi-no So-shin đã tập trung phát triển một loại hình văn hóa mới gọi là Hương đạo.

    Hương đạo không đơn thuần là nghệ thuật thưởng thức hương trầm, mà nó là sự kết hợp của thế giới thơ ca và văn học Nhật Bản. Sau khi nghe qua mùi hương, những người tham dự một buổi hương đạo sẽ phân định xuất xứ, lai lịch, đặc tính của từng loại trầm được dùng. Ngoài khả năng thưởng thức hương trầm, họ còn có kiến thức văn hoá và khả năng cảm thụ cái đẹp.


    Mỗi lần trầm được xông lên, người tham dự phải làm một vế thơ tán thưởng mùi hương

    Trong buổi hương đạo, trầm sẽ được xông lên hết loại này đến loại khác, giống như những vế khác nhau trong một bài thơ liên ca của Nhật Bản. Mỗi lần trầm được xông lên, người tham dự phải làm một vế thơ tán thưởng mùi hương, đồng thời phải nhắc đúng tên loại trầm vừa đốt. Sau buổi hương đạo, người ta sẽ có một bài thơ liên ca nhiều vế về các mùi hương trầm.

    Đến thế kỉ XVII, vào thời Edo, Hương đạo phát triển mạnh mẽ trong xã hội Nhật Bản. Để phục vụ nhu cầu giải trí tinh thần này, người ta bắt đầu chế tạo nhiều vật dụng có liên quan đến Hương đạo. Đó là sự ra đời của những chiếc chén đốt trầm, những chiếc hộp đựng bằng sơn mài hay mạ vàng cùng với kỹ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn cầu kì.








    Những chiếc chén đốt trầm, những chiếc hộp đựng bằng sơn mài hay mạ vàng được chạm trổ tinh tế

    Nhiều trường phái Hương đạo khác nhau cũng lần lượt xuất hiện và Hương đạo trở nên phổ biến trong dân chúng. Thời điểm này được đánh giá là giai đoạn hoàng kim của Hương đạo.

    Gần đây, các lớp học Hương đạo được mở ra ở nhiều nơi trên khắp nước Nhật. Các đại hội Hương đạo toàn quốc cũng được tổ chức. Văn hóa thưởng thức mùi hương phong nhã này đang dần thịnh hành trở lại xã hội Nhật Bản.

    Hiện nay, Hương đạo có hai trường phái chính, trong đó trường phái Shi-no có lịch sử tồn tại liên tục trong 500 năm qua. Cùng với Gen-ji ko, Mei-ko a-wa-se là trò chơi đoán hương trầm truyền thống của phái Hương đạo Shi-no. Mei-ko a-wa-se là cuộc tranh tài dành cho những người có kiến thức sâu về Hương đạo. Trong trò chơi này, người tham dự sẽ phán đoán khí chất tốt của mùi hương được đốt lên từ loại trầm hảo hạng và sau đó làm thơ có liên quan đến hương thơm đó.

    Hương đạo vừa phản ánh chiều sâu văn hoá của người thưởng thức, vừa thể hiện vẻ đẹp huyền ảo của hương trầm. Hương đạo cũng là phương tiện diễn tả nhiều chủ đề văn học khác nhau. Những yếu tố đó đã tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo cho nghệ thuật Hương đạo Nhật Bản – một nghệ thuật không có ở bất kì một quốc gia, dân tộc nào khác trên thế giới.

    Chữ ký của Sayuri_chan
    Mây của trời cứ để gió cuốn đi


    Mainichi nihongo

  5. The Following 6 Users Say Thank You to Sayuri_chan For This Useful Post:

    bad_no001 (02-01-2013), bé sa (22-11-2010), kei_itsumo (24-11-2010), linhss (30-11-2010), snowdog (22-11-2010), tea_tea (24-11-2010)

  6. #4
    о(ж>▽<)y chẻ kon ☆
    bé sa's Avatar


    Thành Viên Thứ: 8682
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: TP Hà Nội
    Tổng số bài viết: 496
    Thanks
    2,996
    Thanked 829 Times in 260 Posts
    Clip về ngành kinh doanh hương đạo ở Nhật, có cả mùi socola, mùi cà ri .... ^^







  7. The Following 4 Users Say Thank You to bé sa For This Useful Post:

    bad_no001 (02-01-2013), kei_itsumo (24-11-2010), Sayuri_chan (24-11-2010), tea_tea (24-11-2010)

  8. #5
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts

    Kodo - Hương Đạo

    TỪ THÚ THƯỞNG THỨC TRẦM HƯƠNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
    HƯƠNG ĐẠO (KODO) Ở NHẬT BẢN


    Theo Vĩnh Sính
    erct.com



    Các chất liệu có hương thơm (香料hương liệu) nói chung thường lấy từ thực vật (hoa, trái cây, rễ cây, lá cây, hay nhựa cây), động vật hay khoáng vật. Từ trước tới nay, loại hương liệu được yêu chuộng nhất vẫn là các thứ gỗ thơm (香木hương mộc). Quế (cinnamon) và trầm (aloeswood hay agalloch) là hai loại gỗ thơm tiêu biểu của Việt Nam.

    Theo cố học giả Phạm Hoàng Hộ, loại trầm thường thấy ở Việt Nam là do cây dó bầu (aquilaria crassna) bị sâu ăn, tiết ra nhựa, đông cứng lại rồi lâu năm mà biến thành. Gỗ mang bộng nhựa của cây dó có tỷ trọng lớn, thả vào nước sẽ “chìm”. “Trầm” 沈chữ Hán có nghĩa là chìm, và tên “trầm” bắt nguồn từ đó.

    “Trầm hương” (沈香jinkô, “sinking fragrance”), theo định nghĩa của từ điển Kôjien, là “hương liệu thiên nhiên lấy từ loại cây cao ‘thường lục’. Cây thuộc vùng nhiệt đới Á châu, cao độ chừng 10 mét, thân cứng và chìm dưới nước. Hoa màu trắng. Chôn cây dưới đất, hoặc làm thối ra, cây sẽ thành ‘già la’ 伽羅có màu đen mướt, mùi thơm ưu việt và giá rất đắt”.[1]

    Cây cao ở đây đúng là cây dó bầu mọc trong những cánh rừng già. “Trầm hương” chính là phần thân cây chứa nhiều nhựa thơm. Dó bầu sống lâu trở nên to lớn và thành đại thụ.[2] Ca dao có nói: “Dó lâu năm dó cũng thành kỳ”, nhưng ta cần nói thêm là không phải cây dó nào cũng thành trầm, may lắm mới có được. [3]

    “Kỳ nam” được coi là loại trầm tốt nhất. Trầm không có ở Nhật Bản và Trung Quốc mà chỉ có ở Đông Nam Á. “Kỳ nam” đặc biệt chỉ có ở miền Trung Việt Nam từ Thanh Hóa vào đến Khánh Hòa – mảnh đất có cái tên hấp dẫn, nhưng đúng với sự thật, là “Xứ trầm hương”!

    *

    * *

    Trầm ở các tỉnh ở miền Trung nổi tiếng khắp thế giới với hương thơm tao nhã, thoát tục. Tài liệu xưa nhất về trầm hương của Nhật Bản là Nihon Shoki (日本書紀Nhật Bản thư kỷ; soạn xong năm 720 sau CN).

    Theo sách này, vào năm 595 sau CN có “khúc trầm trôi dạt vào đảo Awaji-shima [Đạm-lộ đảo]”, gần thành phố Kobe hiện nay. “Khúc trầm này có chu vi là 1 mét 80. Cư dân trên đảo không biết đó là trầm, đem ra đốt để nấu ăn. Hơi khói xông lên thơm ngào ngạt và mùi hương tỏa ra xa. Dân lấy làm lạ [nhưng đoán biết là quý], đem dâng lên Thiên hoàng [lúc này là Thiên hoàng Suiko]”.[4] Khi đó, có Thái tử Shôtoku[5] biết ngay là đó trầm hương (jinkô).

    Chúng ta có thể phỏng đoán khúc trầm này đi từ miền Trung (vào thế kỷ VI thuộc Chămpa) và theo dòng nước ấm Kuroshio trôi dạt lên phía Bắc để rồi tạt vào Nhật Bản. Cần nói thêm là dòng hải lưu Kuroshio này cũng bắt nguồn từ miền Trung Việt Nam.

    Khi mới du nhập vào ở Nhật Bản, trầm được dùng trong các tế lễ Thần đạo (Shinto/Shintoism) và Phật giáo. Sau đó, trầm hương ngày càng đóng vai trò trọng yếu trong các buổi lễ Phật giáo. Bước sang thời Nara (710-794 sau CN), nghi thức này được trở thành buổi lễ có tính cách quốc gia và còn tiếp tục mãi cho đến Minh Trị Duy Tân (1868).

    Điều ít người chú ý là vai trò quan trọng của trầm hương trong lịch sử giao lưu giữa Việt Nam và Nhật Bản. Kỳ nam được xem là đi từ vùng đất nay là Việt Nam, thường được người Nhật gọi là kyara伽羅.

    Theo Nakata Kyôzaburô thuộc công ty Baieidô (Mai-Vinh Đường), sáng lập từ năm 1657, tên “kỳ nam” nguyên là tiếng Chămpa bởi Chămpa là những người đi buôn “kỳ nam” từ lúc ban đầu. Tên “kỳ nam” là tổng hợp của tiếng Phạn (Sanskrit) “kara” nghĩa là màu “đen”, và chữ “bak” tiếng Tàu nghĩa là “cây, gỗ” (木mộc).[6] Với sự tổng hợp của hai ngôn ngữ, chúng ta có từ “kalambak”, rồi dần dà từ này được rút ngắn lại để trở thành “kỳ nam”, tức là “gỗ đen”,[7] như chúng ta có ngày nay.

    Cũng cần nói thêm là không phải ngẫu nhiên mà loại trầm đặc biệt này có gốc từ tiếng Phạn, bởi lẽ con đường tơ lụa trên biển (Sea Silk Road) cũng chính là con đường truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ, và trầm kỳ nam đã đi theo con đường đó cùng với Phật giáo. Chămpa thuở ấy cũng chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, thay vì văn minh Trung Hoa như Việt Nam.

    Có khá nhiều giai thoại về sự đam mê trầm kỳ nam của các nhân vật lịch sử ở Nhật Bản. Ở Shôsôin (正倉院 Chính Thương Viện) – nhà lưu trữ các bảo vật và kinh điển Phật giáo toạ lạc trong khuôn viên chùa Tôdaiji (東大寺 Đông Đại Tự) ở Nara – có một khúc trầm kỳ nam gọi là Ranjatai (蘭奢待 Lan xa đãi) dài chừng 1 mét rưỡi. Cả ba nhân vật góp phần vào công cuộc nhất thống Nhật Bản vào cuối thế kỷ XVI là Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu đã từng lăm le dòm ngó khúc trầm được xếp vào hàng “linh bảo” này. Chắc hẳn bảo vật này được xem là một biểu tượng của uy quyền. Tương truyền Nobunaga cho người đẽo hai miếng, mỗi miếng dài chừng 40 phân; một miếng dâng thiên hoàng, một miếng dùng để xông lên trong những buổi uống trà đạo. Hideyoshi hình như cũng bắt chước Nobunaga cho người đến đẽo vì nhà thiên tài quân sự này cũng thích giao du với các trà nhân. Người ta tin rằng khúc Ranjatai này đã do Thiên hoàng cúng cho chùa Tôdaiji vào năm 756. Hiện nay, Ranjatai có thể xem cứ mỗi 10 hay 15 năm qua triển lãm của Shôsôin ở Viện Bảo tàng Quốc gia tại thành phố Nara. Khúc Ranjatai này theo Yoneda Kaisuke, một chuyên gia về trầm hương thuộc Viện Bảo tàng Osaka, đoán định là đã đi từ Lào hoặc Việt Nam.[8]

    Riêng về Tokugawa Ieyasu – vị shôgun (tướng quân) đầu tiên của chính quyền Tokugawa – tuy người ta biết chắc là Ieyasu có sai người vào xem khúc trầm Ranjatai, nhưng không ai biết rõ là ông ta có cho đẽo đem về hay không. Tuy nhiên, qua những văn thư mà hiện nay còn lưu lại, chúng ta biết rõ là Ieyasu rất mê thích trầm và đã từng gửi thư cho quốc vương Chămpa và chúa Nguyễn xin gửi trầm kỳ nam.

    Thư của Tokugawa Ieyasu gửi quốc vương Chămpa năm 1606 có ghi rõ : “Chúng tôi muốn có trầm loại thượng hảo hạng. Những loại có phẩm chất vừa vừa hay dưới trung bình thì xin đừng gửi vì chúng tôi đã có nhiều lắm rồi”.[9] Qua văn thư, chúng ta cũng biết rằng ít nhất trong hai năm 1605 và 1606, chúa Nguyễn Hoàng đã gửi một số tặng vật đáp lễ cho Tokugawa Ieyasu, mỗi lần gồm 1 miếng trầm kỳ nam, cả hai lần mỗi lần một cân. Trước đó, vào đời Genroku (Nguyên Lục), tức là từ 1592 đến 1595, chúa Nguyễn đã gửi tặng Nagasaki Bugyô (một chức giống như Trấn thủ) nửa cân kỳ lam và những tặng phẩm khác. Một chi tiết thú vị và có ý nghĩa là trong danh sách các tặng phẩm giữa các nước Đông Á, trầm luôn luôn được liệt kê đầu tiên và trầm thường được xem là một vật tặng quý giá trong quan hệ ngoại giao với Nhật Bản và Trung Hoa.[10] Sau khi Ieyasu mất, nghe nói trong các di vật của ông có đến hơn 100 kilô trầm kỳ nam và hơn 180 kilô các loại trầm khác. Điều này cho ta thấy Ieyasu đã thích thú thưởng thức trầm hương đến mức độ nào.

    Theo nghiên cứu của Ogura Sadao, trầm là mặt hàng Nhật Bản nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á (Việt Nam, Cămpuchia, Siam [nay là Thái Lan], Borneo, v.v.) trong thời kỳ giao thương bằng “thuyền buôn có giấy phép châu ấn” (Shuinsen 朱印船) vào cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII mà hiện nay Nhật Bản vẫn còn tiếp tục nhập khẩu. Theo Ogura, lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu từ Việt Nam chiếm 70% tổng số lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu vào thời châu ấn, và cho đến năm 1987, lượng trầm Nhật Bản từ Việt Nam là 16 tấn, vẫn chiếm khoảng 50% tổng số lượng trầm Nhật Bản nhập khẩu (khoảng 32 tấn).

    Tuy trong quá khứ, Việt Nam và In-đô-nê-xi-a đóng vai trò quan trọng trong việc xuất khẩu trầm sang Nhật, hiện nay vai trò đó được thay thế bởi Hong Kong, Singapore, và Thái Lan.


    *

    * *

    So với các nghệ thuật nổi tiếng của người Nhật như trà đạo (sadô), thư đạo (shodô; tức nghệ thuật viết chữ Hán), kiếm đạo (kendô), võ sĩ đạo (bushidô) hoặc nhu đạo (judô), kôdô (香道hương đạo) ít được người nước ta biết đến. Một điều thú vị là ngay ở Nhật Bản cũng không mấy ai biết là lịch sử Kôdô còn ghi dấu mối giao lưu giữa mảnh đất miền Trung với Nhật Bản từ thuở xa xưa.

    Kôdô (Way of incense / Voie de l’encens) là nghệ thuật thưởng thức trầm hương, nói nôm na là nghệ thuật “ngửi” mùi trầm hương – một nghệ thuật độc đáo chỉ thấy ở Nhật Bản chứ không có ở các nước khác. Mặc dầu đến thế kỷ XV Kôdô mới được định hình, nhưng trên thực tế thú thưởng thức tao nhã này đã bắt nguồn từ khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản từ khoảng thế kỷ VI.

    Trong những buổi lễ Phật giáo, lễ quan trọng nhất thường được dâng bằng trầm hương. Từ 1500 năm trước, dâng trầm hương là lễ cúng dường để lau sạch các tượng Phật, hoặc khi các sư tăng tụng kinh.


    Đốt trầm ở chùa Tôdaiji, Nara, Nhật Bản


    Dần dà, mùi hương trầm thanh nhã ngày càng được người Nhật yêu chuộng, giới quý tộc ở Kyoto thời Heian (794-1185) thích đốt trầm trong nhà cho “thơm nhà thơm cửa” và thơm y trang. Theo đà phát triển của thú chơi đốt trầm này (người Nhật gọi là sora-dakimono空炊きもの), các cuộc thi đấu trầm – giống như thi làm thơ hay thi cắm hoa – được tổ chức để định loại trầm nào có mùi hương tao nhã nhất.

    Những chất liệu dùng làm sora-dakimono là các vật liệu còn tươi tắn của y học truyền thống. Thú đốt trầm dần dà không những phổ biến trong giới quý tộc mà người thường cũng đua nhau phỏng đoán loại nào thơm nhất và những điểm đặc biệt giữa các loại trầm hương.

    Với sự ra đời của chính quyền của giai cấp võ sĩ (samurai) vào cuối thế kỷ XII, ảnh hưởng của Thiền đối với văn hóa người Nhật ngày càng đậm nét. Do ảnh hưởng của thú trầm hương đời Tống (Trung Quốc), người Nhật Bản chuyển sang nerikô (煉り香) với cách thức trộn lẫn trầm hương với nhau giống như jinkô lúc ban đầu. Với cách thức này, nghệ thuật thưởng thức bằng cách “ngửi mùi” trầm hương (聞香bunkô hay monkô, tức “văn hương”) tiến thêm một bước nữa để rồi được định hình dưới dạng Kôdô (hương đạo) vào đời Muromachi (1336-1573).

    Từ lúc này, thú chơi đốt trầm sora-dakimono ít nhiều mang vẻ hào nhoáng, được thay thế bằng cách thưởng thức hương trầm trong không khí u huyền tĩnh mịch – phù hợp với đời sống tinh thần hướng nội và ý thức mỹ học thấm đượm Thiền vị của người võ sĩ.


    Trầm hương Rikkoku (“Sáu nước”)

    Theo Kôdô, mùi trầm hương từ đó được phân loại thành “ngũ vị lục quốc” (五味六国, tức là “năm mùi vị và sáu nước”) . Năm mùi vị là ngọt, chua, cay, mặn, và đắn. “Sáu nước” nói nôm na là sáu nơi sản xuất trầm hương; đó là Kyara, Rakoku, Manaban, Manaka, Sasora and Sumatora. Theo cách phân chia của những người sành điệu trầm hương do Shôgun Ashikaga Yoshimasa (1436-1490) bổ nhiệm, “sáu nước” đó là :

    • Kyara (伽羅 Già la) Như đã nói ở trên, chữ kara có gốc là tiếng Phạn, nghĩa là “đen”. Loại tốt nhất trong trầm hương, có mùi hương tao nhã. Chỉ có ở Việt Nam.

    • Rakoku (羅国 La Quốc) Mùi hăng vị đắng, mặn và cay. Chỉ có ở Thái.

    • Manaban (真南蛮 Chân Nam Man) Có nhiều hương và nhựa, vị gần như ngọt, nhưng không có vẻ “điểm trang”. Có ở miền Đông của Ấn Độ, hoặc giữa Mã Lai và Ấn Độ.

    • Manaka (真那伽 Chân Na Già) Trong những hương thơm, đây có lẽ mùi hương nhạt nhất. Có ở Malacca (Malaysia).

    • Sasora (佐曾羅 Tá Tăng La) Có mùi hương nhẹ. Với một loại sasora tốt, người ta dễ tưởng lầm là kyara, đặc biệt khi mới đốt. Có ở miền Tây Ấn Độ.

    • Sumatora (寸聞多羅 Thốn Văn Đa La) Rất nhiều nhựa và có vị chua. Có nhiều ở Sumatra (In-đô-nê-xi-a).[11]

    Dưới đời Muromachi, nghệ thuật thưởng thức trầm hương bắt đầu phát triển song song với nghệ thuật uống trà.

    Nhiều loại thi đấu có nội dung và hình thức khác nhau đua nhau ra đời. Trước hết là các cuộc “đấu trà” (tôcha闘茶) đòi hỏi người tham dự đoán định phẩm chất các loại trà. Sau đó, người ta tổ chức các buổi thi đấu cả trà lẫn trầm nhằm xem ai có thể phân biệt được 10 loại trà và 10 loại trầm khác nhau. Trong các buổi thi phân định hương trầm, người tham dự được chia làm hai nhóm, thi nhau đoán xuất xứ, lai lịch, đặc tính của từng loại trầm nổi tiếng, chẳng hạn như mùi hương, làn khói bốc lên có hình dạng như thế nào, v.v...

    Dần dà, ngoài khả năng thưởng thức hương trầm, người thi đấu còn phải có kiến thức văn hoá và khả năng cảm thụ mỹ học – nói nôm na là khả năng cảm nhận những cái gì đẹp. Trước mặt người đến xem, trầm sẽ được xông lên từ loại này đến loại khác, giống như những vế khác nhau trong một bài thơ renga (連歌liên ca). Mỗi lần trầm được xông lên, người dự thi phải làm một vế thơ tán thưởng mùi hương đồng thời phải nhắc đúng tên loại trầm vừa đốt. Cuối cùng, người ta sẽ có một bài thơ renga nhiều vế về các mùi hương trầm trong cuộc thi.

    Sự kết hợp giữa thú thưởng thức trầm hương với khuynh hướng truy cầu những cái gì đẹp, gọi chung là bi (美mỹ) hay bigaku (美学mỹ học), trong truyền thống văn học Nhật Bản có thể nói là nhân tố quyết định sự hình thành của Kôdô.

    Kôdô vừa phản ánh chiều sâu văn hoá của người thưởng thức, vừa thể hiện vẻ đẹp u nhã của hương trầm, mà cũng vừa có thể diễn tả nhiều chủ đề văn học khác nhau. Chính vì thế, Kôdô được xem là một nghệ thuật độc đáo của Nhật Bản.


    Vĩnh Sính

    [1] Shinmura Izuru, Kôjien (Quảng từ uyển) (Tokyo: Iwanami Shoten, 1993), trang 1328.

    [2] Xem Khanh Hoa Aquilaria Company, http://www.tramhuongkhanhhoa.com.vn/.../tramhuonglagi.

    [3] Ngoài ra còn có cây “chiên đàn栴檀, chữ ‘chiên’ cũng có thể viết chữ Hán bằng bộ ‘phương’方” thay vì bộ ‘mộc’ 木. Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh giải thích “chiên đàn” là “Một loại gỗ thơm”. “Chiên đàn” tiếng Phạn gọi là “Candana”, là “một loại cây có mùi hương ở Ấn Độ” (Daijigen, Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 797). Từ điển này có cho biết thêm xuất xứ là Ấn Độ; bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà trong kinh Phật, chúng ta thấy thường xuất hiện chữ “chiên đàn”.

    Hoàng thân Miên Thẩm, tức thi nhân Tùng Thiện Vương cũng có bài thơ chữ Hán về cây chiên đàn (“Chiên đàn thụ”) như sau: Tuyệt hảo chiên đàn thụ / Phồn hương quýnh bất quần / Hận cừ thiên tính biệt / Chỉ tại nghịch phong văn. Nguyễn Sĩ Đại dịch quốc văn ra là: Cây chiên đàn tốt tuyệt / Hương sâu vượt bọn bầy / Tinh đặc thù, đáng tiếc / Ngược gió thì mới hay ! Có lẽ cây mà Hoàng thân Miên Thẩm muốn nói ở đây chính là “cây dó bầu”, nhưng vì chữ Hán không dùng chữ nôm na như vậy, mà “già la” hay “kỳ nam” (là chữ Hán) thì thời đó còn xa lạ quá với người Việt !

    [4] Xem bản dịch tiếng Anh : Nihongi: Chronicles of Japan from Earliest Times to A.D. 697 (Nhật Bản kỷ [hay Nhật Bản thư kỷ] từ thời nguyên thủy đến năm 697 sau CN), translated from the original Chinese and Japanese by W. G. Aston. Tokyo: Charles E. Tuttle Company, 1980, II, 123.

    [5] Tương truyền là một chính trị gia lỗi lạc của Nhật Bản. Thái tử Shôtoku đã đóng vai trò trọng yếu trong việc củng cố vị trí của thiên hoàng và tiếp thu Phật giáo.

    [6] Tiếng Bắc Kinh (pinyin) “mộc” đọc là “mu”, trong trường hợp này người ta phát âm theo giọng miền Nam mới đọc là bak.

    [7] Xem Baieido Ltd, http://www.japanese-incense.com/aloeswood.htm.

    [8] Như trên.

    [9] Trích lại từ Okura Tadao, Shuinsen jidai no Nihonjin (Người Nhật Bản thời thuyền châu ấn). Tokyo: Chûô Kôron Shinsho, 1989, trang 174.

    [10] Như trên, trang 174-175.

    [11] Xem Kaori no techô (Sổ tay về hương thơm). Shôeidô Kabushiki Kaisha, 1991.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  9. The Following 8 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    bad_no001 (02-01-2013), hopeful_colour (15-07-2012), KhaiTinh (05-08-2012), kinggainer89 (09-12-2012), lynkloo (15-07-2012), Ngọc_san (15-07-2012), prince_wing (17-07-2012), SW. (16-11-2011)

  10. #6
    Shokunin


    Thành Viên Thứ: 101782
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 31
    Thanks
    48
    Thanked 25 Times in 17 Posts
    mới đôi tháng trước bên japanfoundation có tổ chức chương trình Hương đạo và mình may mắn được tham gia. Tuy không được như mình mong đợi như khi xem những bộ phim lịch sử nhật vì nó làm trong phòng, ngồi ghế, người tham gia đông lại có cả phóng viên nữa. Riêng ngồi đó, thấy mấy cái máy quay chiếu nào người mình, anh chị phóng viên cứ chực chờ đằng sau để vươn tới hỏi cảm nhận là đã mất hết tập trung rồi. Nhưng vẫn chờ đợi cơ hội nào đó, được cảm nhận Hương đạo Nhật Bản thực sự, và có thể nói chuyện nuột nà với nghệ nhân chứ không ậm à ậm ừ như lần đó nữa.

    Cảm ơn bạn Kasumi đã viết bài giới thiệu

  11. #7
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Thưởng hương thanh thản ở Nhật Bản

    Không chỉ có trà đạo, kiếm đạo, người Nhật Bản còn tự hào với nghệ thuật hương đạo tinh túy. Hương đạo là nghệ thuật thưởng thức hương thơm vô cùng thanh nhã, cầu kỳ của người dân Nhật Bản.

    Khi mới xuất hiện, loại cây được sử dụng cho nghệ thuật hương đạo là các loại gỗ thơm từ những nhánh cây trôi dạt từ vùng biển phía Nam và đảo Awaji. Những nhánh cây này gọi là trầm, và loại trầm hảo hạng nhất là trầm Kỳ Nam, đến từ Việt Nam. Ban đầu, việc đốt trầm hương chỉ được sử dụng trong các nghi thức thiêng liêng, thần thánh của người dân Nhật. Đến thế kỷ thứ 9, nó mới được phổ biển rộng hơn, chủ yếu được sử dụng trong nhà của giới quý tộc Nhật.


    Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 15, việc đốt hương trầm mới được nâng lên thành một loại hình văn hóa, nghệ thuật, sánh ngang tầm với trà đạo và nghệ thuật cắm hoa Ikebana. Thế kỷ 17 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của hương đạo. Người ta bắt đầu chế tác thêm rất nhiều vật dụng phục vụ cho hương đạo khác như: hộp đựng hương trầm bằng sơn mài, chén đốt hương, túi đựng trầm…


    Hương đạo còn gắn liền với một trò chơi vô cùng độc đáo, tinh tế: trò chơi thưởng hương. Vào thời Heian, thế kỷ 9, một tác phẩm văn học Nhật Bản ra đời mang tên Truyện kể Genji. Trong câu chuyện, có rất nhiều nhân vật, mỗi nhân vật lại mang tên một mùi hương, đứng đầu một chương. Người tham gia trò chơi phải thưởng hương thơm trước, phân tích rồi sau đó mới đưa ra câu trả lời bằng tên gọi của một chương trong cuốn truyện.




    Một cách thưởng hương khác ở Nhật Bản là làm thơ. Người thưởng thức hương thơm phải hiểu được nguồn gốc, xuất xứ của hương thơm và sau khi ngửi mỗi mùi hương phải ứng tác một vế thơ.




    Người thưởng hương phải ngồi trong không gian yên tĩnh, thư thái, đưa lư hương lên hít ba lần thật sâu vào ***g ngực. Mỗi một lần thưởng hương là một lần họ tìm về với sự thanh thản, an nhàn cho tâm hồn.






    Theo Xzone
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  12. The Following 2 Users Say Thank You to Kasumi For This Useful Post:

    bad_no001 (02-01-2013), Gaku-sama (21-12-2012)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •