Nhật Bản ngừng các dự án ODA với Việt Nam
Nguồn: Tuổi Trẻ Online - Thứ Sáu, 5/12
TT- - TTO - Vụ hối lộ của Công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI) trong dự án đại lộ Đông - Tây là chủ đề nóng tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ khai mạc tại Hà Nội hôm nay 4-12. Từ vụ việc này, Nhật Bản đã quyết định tạm dừng các dự án cho vay ưu đãi vốn ODA với Việt Nam.
Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Mitsuo Sakaba đã có cuộc trao đổi với báo chí bên lề hội nghị:
* Thưa Đại sứ, có vẻ như Quốc hội Nhật Bản đang đưa ra nhiều sức ép với Việt Nam về vấn đề này?
- Quốc hội Nhật không vui và muốn làm rõ vụ việc này. Chúng tôi đang tìm biện pháp để có thêm nhiều minh bạch trong các dự án ODA. Trong vụ PCI, tham nhũng diễn ra ở khâu tư vấn. Vì vậy, chúng tôi sẽ đưa ra thêm nhiều cơ chế để tránh các vụ tham nhũng xảy ra.
* Phản ứng của người dân Nhật ra sao?
- Tất nhiên họ không hài lòng.
- 2008 là một năm rất khó khăn cho Việt Nam. Đầu năm lạm phát cao và thâm hụt thương mại, đến giữa năm tiền đồng chịu sức ép giảm giá. Nhờ các biện pháp chính sách hiệu quả của Chính phủ (CP) nên lạm phát và thâm hụt thương mại đã giảm. Tuy nhiên, giờ đây Việt Nam phải đối mặt với tác động bất lợi có thể đến từ cuộc khủng hoảng khu vực tài chính quốc tế và suy giảm kinh tế toàn cầu.
Tôi cho là CP đã điều hành rất tốt kinh tế đất nước trong một hoàn cảnh khó khăn và xin chúc mừng các bạn về điều đó.
Tuy vậy, nếu có sự điều hành và phân tích kinh tế vĩ mô tốt hơn thì ít nhất cũng đã có thể phát hiện các vấn đề ban đầu trong nền kinh tế nội địa. CP cũng có thể hành động mau lẹ hơn nếu như quy trình ra quyết định nhanh chóng hơn. Chúng tôi tin là lẽ ra có thể phối hợp tốt hơn các chính sách tài khóa, tiền tệ và kinh tế khác.
Trong tình hình khó khăn do tin đồn và đầu cơ, chẳng hạn như về giá gạo hồi tháng tư, hay sức ép giảm giá tiền đồng tháng năm và sáu, thì nếu có những công bố kịp thời hơn các dữ liệu và thông tin kinh tế chủ yếu thì đã có thể tránh được những bất lợi không đáng xảy ra.
* Theo ông, khu vực nào của nền kinh tế Việt Nam là dễ bị tổn thương nhất trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và nên làm gì để tăng cường tính cạnh tranh và sức đề kháng của những ngành đó?
- Các doanh nghiệp (DN) nội địa, cả DN nhà nước và DN vừa và nhỏ, sẽ gặp khó khăn. Khi đó, các khoản nợ xấu sẽ tăng lên trong ngân hàng, gây tác động lên các ngành kinh tế thực sự và có thể chạm tới khu vực tài chính của Việt Nam.
Ở tầm vĩ mô, chúng tôi tin là CP sẽ cần phải đặc biệt thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ và áp dụng gói tài khóa để kích thích nền kinh tế nhằm đối phó với suy thoái. Dù Việt Nam đã thành công trong việc thoát khỏi cơn bão kép là lạm phát và thâm hụt tài khoản vãng lai đầu năm nay, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Nới lỏng tiền tệ mạnh tay hay mở rộng tài khóa sẽ dẫn đến những tổn thương mới.
Đồng thời, CP cần theo dõi chặt chẽ sức khỏe tài chính của khu vực doanh nghiệp và cung cấp hỗ trợ cần thiết, đặc biệt là cho DN vừa và nhỏ. Các biện pháp đảm bảo về mặt xã hội cũng rất quan trọng.
Lúc này, chúng tôi thấy cần phải lưu ý là một trong những nguyên nhân của lạm phát và thâm hụt tài khoản vãng lai trong năm nay là tổng cầu đã vượt quá năng lực tổng cung của đất nước, khiến cho kinh tế phát triển quá nóng. Thực ra đấy là nguyên nhân căn bản của vấn đề. Trong khi về ngắn hạn các vấn đề được kìm lại bởi quản lý cầu thì về trung và dài hạn, Việt Nam cần phải cải thiện năng lực về cung.
Trong bối cảnh đó, việc giải quyết các nút cổ chai cơ sở hạ tầng, cải cách hành chính, cải thiện tính hiệu quả của môi giới tài chính và tăng nguồn cung nhân lực có chất lượng là những yêu tố đặc biệt quan trọng. Về cải cách hành chính thì cải cách các DN nhà nước để tăng cường tính hiệu quả và quản trị doanh nghiệp của họ cần phải đẩy nhanh hơn.
* Ông dự đoán thế nào về kinh tế Việt Nam năm 2009?
- Không may là chúng ta sẽ không thể lạc quan cho lắm. Nền kinh tế toàn cầu sẽ gặp khó khăn và Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Nếu xem xét Mỹ, châu Âu và Nhật Bản hút hơn 50% xuất khẩu của Việt Nam, thì tình hình suy thoái của các nền kinh tế đó sẽ có tác động tiêu cực tới tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi Việt Nam thu hút được dòng đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) lớn, thì việc thực hiện các dự án đó cũng có thể chậm lại vì một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu xếp vốn trong tình hình thanh khoản hiện nay, và những công ty định xây dựng nhà máy ở Việt Nam sẽ cảm thấy chưa cần mở rộng năng lực sản xuất của họ một cách cấp bách lắm vì nhu cầu với hàng hóa của họ trên thế giới có giảm.
Lượng du khách cũng có thể giảm và thực tế là bắt đầu xảy ra rồi, dòng tiền kiều hối có thể giảm vì Việt kiều cũng bị ảnh hưởng bởi những khó khăn trong khu vực tài chính.
Lúc này, tôi không muốn đưa ra dự báo định tính nhưng nhìn chung kinh tế sẽ suy giảm, nhưng điều đó cũng tạo ra cơ hội tốt để Việt Nam tập trung đẩy mạnh một số chương trình cải cách then chốt.
HƯƠNG GIANG thực hiện








Bookmarks