Trong bài phát biểu về chính sách của mình tại phiên họp thứ 170 của Quốc hội vào cuối tháng 9/2008, Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso đã khẳng định: "Nhiệm vụ cơ bản của các ngành nông-lâm-ngư nghiệp là đánh giá lại tầm quan trọng của vấn đề tự cung ứng đủ lương thực.



Nhật Bản sẽ phấn đấu đảm bảo tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực ở mức 50%. Trong quá trình này, chúng ta phải bác bỏ giả định tồn tại lâu nay rằng nông nghiệp là một lĩnh vực cần phải được bảo hộ. Các chính sách nông nghiệp cần phải được thay đổi để đưa ngành nông nghiệp vào thế tấn công.



Tuyên bố trên của Thủ tướng Aso đã phản ánh những thay đổi về tình hình trong và ngoài nước liên quan tới ngành nông nghiệp, nhất là sự gia tăng sản xuất nhiên liệu sinh học do giá dầu thô tăng mạnh, sự thiếu hụt về lượng cung lương thực trên toàn thế giới và tình trạng giá lương thực tăng do ảnh hưởng của sự gia tăng sản xuất nhiên liệu sinh học. Những thay đổi này bao gồm các thay đổi trong cung và cầu về lương thực do tăng trưởng kinh tế đang diễn ra ở các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển, cũng như các tác động của sự biến đổi khí hậu và của sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, các nỗ lực của Nhật Bản nhằm tăng tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực có thể có các ảnh hưởng tích cực đối với thế giới.

Trong thời gian gần đây, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều chính sách lương thực, nông nghiệp và nông thôn mới. Các chính sách này sẽ góp phần đảm bảo một nguồn cung lương thực ổn định thông qua việc phát triển ngành nông nghiệp trong nước, phục hồi các làng nông nghiệp và ngư nghiệp, sự phối hợp giữa các ngành công nghiệp thực phẩm và các ngành nông-lâm-ngư nghiệp và sử dụng nhiên liệu sinh học. Đây là một phần trong những sáng kiến nhằm giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan tới ngành nông nghiệp dựa trên cơ sở kế hoạch cơ bản về lương thực, nông nghiệp và nông thôn được Chính phủ Nhật Bản thông qua vào tháng 3/2005. Tháng 5/2008, Chính phủ đã thành lập Ủy ban Quản lý Nông nghiệp mới cho thế kỷ 21.



Một trong những nhân tố quan trọng khiến cho tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực của Nhật Bản giảm từ trên 70% xuống còn 40% là sự thay đổi về chế độ ăn uống của người dân. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế Nhật Bản liên tục tăng trưởng. Người dân xứ Phù tang chấp nhận một lối sống phong lưu hơn và ngưỡng mộ lối sống của phương Tây. Kết quả là người dân đã chuyển từ sở thích ăn cơm sang ăn bánh mì, từ cá sang thịt. Người dân cũng bắt đầu tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm sữa và các sản phẩm có chứa nhiều chất béo. Do đó, các nhà cung cấp các sản phẩm này của nước ngoài lại được hưởng những lợi thế lớn hơn so với các nhà cung cấp ở trong nước. Đây chính là nhân tố quan trọng nhất khiến cho tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực của Nhật Bản giảm.



Hiện nay, Nhật Bản đang nỗ lực sử dụng gạo như một nguyên liệu để làm bánh mì và các loại mì sợi để qua đó tăng lượng gạo tiêu thụ và tăng tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực. Bánh mì làm từ bột gạo đã có mặt tại hàng loạt các cửa hàng bán lẻ ở Nhật Bản. Một cách sử dụng gạo khác ở Nhật Bản là dùng gạo để nuôi lợn. Rất nhiều nông dân đã dùng gạo để nuôi lợn, qua đó cải thiện chất lượng thịt. Các hộ nông dân trồng lúa, hộ chăn nuôi lợn và các doanh nghiệp hợp tác với nhau theo phương thức: các trang trại sẽ mua gạo của nông dân để nuôi lợn, sau đó lại bán sản phẩm của mình cho người nông dân. Thương hiệu "lợn được nuôi bằng gạo" đã được xây dựng và sản phẩm này hiện đang bán rộng rãi tại thủ đô Tokyo.



Trong kế hoạch 5 năm giai đoạn 2005-2010, Nhật Bản đặt ra mục tiêu giảm 20% chi phí cung cấp thực phẩm, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến và phân phối. Các biện pháp cụ thể bao gồm giảm lượng năng lượng tiêu thụ và cho thuê máy nông nghiệp để giảm chi phí sản xuất nông nghiệp, đồng thời phát triển các mô hình kinh doanh mới và cung cấp thông tin về các mô hình này.



Ngoài các biện pháp trên, năm ngoái, nước này đã đề ra các chiến lược xuất khẩu tổng thể đối với các sản phẩm nông-lâm-ngư nghiệp nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này lên 1.000 tỷ yên vào năm 2013. Bộ này cũng muốn áp dụng các biện pháp tạo thuận lợi cho xuất khẩu, trong đó có việc thảo luận về các quy trình kiểm dịch cũng như thiết lập các mô hình kinh doanh xuất khẩu mới.



Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông-lâm-ngư nghiệp năm 2007 chỉ đạt 433,7 tỷ yên (4,38 tỷ USD), thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu đề ra. Trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực, Nhật Bản cần phải áp dụng các biện pháp tích cực khác để hỗ trợ xuất khẩu.



Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu, việc tăng tỷ lệ tự cung, tự cấp lương thực đòi hỏi phải có sự thay đổi trong chế độ ăn uống hàng ngày và tăng lực cầu đối với lương thực cũng như hàng loạt các biện pháp tăng năng suất. Chẳng hạn, coi việc cung cấp thông tin chính xác về chế độ ăn uống tập trung vào gạo như một phần của chương trình giáo dục về lương thực. Các biện pháp này bao gồm một loạt sáng kiến quan trọng như chiến dịch Chào buổi sáng với gạo một chiến dịch ngăn cản những người hay bỏ bữa sáng, khuyến khích các cửa hàng tiện lợi hay các nhà hàng bán hoặc phục vụ bữa sáng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc đưa cơm vào các thực đơn bữa trưa ở các trường học hay chiến dịch "Bữa tối với gia đình". Đây là những biện pháp nhằm tạo ra phong trào thay đổi thói quen ăn uống trên khắp đất nước.



Cùng với các biện pháp trên, chính phủ đã đưa vào thử nghiệm hệ thống đăng ký hóa chất nông nghiệp mới nhằm đưa hệ thống phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Chính phủ cũng hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nhằm phổ biến biện pháp của Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm quy mô vừa và nhỏ - những biện pháp giúp các doanh nghiệp thực phẩm quan trọng đảm bảo an toàn thực phẩm và cải thiện hệ thống quản lý chất lượng.



Các biện pháp tăng tỷ lệ tự cung, tự cấp thực phẩm của Nhật Bản lên 50% là sự chuyển hướng quan trọng trong công cuộc phát triển của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Theo KTĐT