Các dự án quốc tế thường yêu cầu kiến thức khá phong phú về các hệ thống chữ ít quen thuộc hơn từ khắp nơi trên thế giới.
Tính thẩm mỹ và cấu trúc của các thiết kế như vậy có thể liên quan mạnh mẽ tới hình dạng và mức độ dễ đọc của các khuôn chữ, do đó, nghiên cứu về các hệ thống chữ viết quốc tế chắc chắn sẽ giúp bạn tạo các thiết kế đồ họa hấp dẫn và thú vị hơn.
Chọn một ngôn ngữ bất kỳ mà bạn thích: tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Nhật Bản, hay Nepal? Mỗi ngôn ngữ được dựa trên hệ thống chữ viết khác nhau, thật là thú vị khi tìm ra cách chúng được cấu tạo như thế nào. Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu năm loại hệ thống chữ viết khác nhau.
Nghe có vẻ tẻ nhạt và trừu tượng, nhưng không phải. Nếu bạn dành thời gian để tìm hiểu, bạn sẽ thấy rằng tất cả các ngôn ngữ đều mang lại cho chúng ta một điều gì đó rất đặc biệt. Chúng tôi đã cố gắng trình bày ít nhất một tính năng đặc biệt của từng ngôn ngữ mà từ đó bạn có thể tìm thấy cảm hứng để làm việc và áp dụng typography của riêng bạn. Chúng tôi sẽ trình bày: Các hệ thống chữ viết vùng Đông Á, Ả rập và Indic scripts (Brahmic).
Các hệ thống chữ viết vùng Đông Á
Rõ ràng, người Trung Quốc sử dụng các ký tự Trung Quốc (hay còn gọi là chữ hanzi). Nhưng các ký tự Trung Quốc cũng được sử dụng trong các hệ thống chữ viết khác: tiếng Nhật Bản ((kanji) và tiếng Hàn Quốc (hanja). Trong phần này, chúng ta cùng xem bốn hệ thống chữ viết của vùng Đông Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.
Vietnamese Rotation (xoay vòng tiếng việt)
Hệ thống chữ viết Việt Nam ngày nay (gọi là Chữ Quốc Ngữ) là chuyển thể từ bảng chữ cái Latin, với một số chữ ghép (vd: một cặp các ký tự được sử dụng để viết các âm vị riêng biệt) và thêm 9 dấu (đánh dấu trọng âm) cho âm và một số chữ cái.
Trong một vài thế kỷ qua, từ năm 1527, khi nhà truyền giáo Bồ Đào Nha Christian bắt đầu sử dụng bảng chữ cái Latin để sao chép lại ngôn ngữ Việt Nam, cho đến đầu thế kỷ 20, khi mà chính quyền thực dân Pháp sử dụng chữ Latin là bảng chữ cái chính thức. Các ký tự chữ Trung Quốc mà các hệ thống chữ viết tiếng Việt Nam trước kia đã sử dụng dần dần trở nên bị hạn chế.
Tuy nhiên, triết học Trung Quốc vẫn còn các tác động và ảnh hưởng rất lớn. Công tác cách điệu ở trên là của họa sĩ Trần Đạt, người đã trình bày một sự hòa hợp giữa hình dạng các ký tự của tiếng Trung Quốc và Việt Nam. Nếu bạn xoay hình ảnh đầu tiên 90 độ theo chiều kim đồng hồ, bạn có thể dựng nên những từ Việt Nam, có nghĩa là nếu hiển thị theo chiều dọc thì nó xuất hiện thoạt đầu như là văn bản cổ Trung Quốc.
Các ký tự của tiếng Trung Quốc
Các ký tự Trung Quốc là các symbols mà không có trong bảng chữ cái Alphabet. Hệ thống chữ viết này, trong đó mỗi ký tự thường tượng trưng cho cả âm tiết hoàn chỉnh hoặc một phần đơn âm tiết của một từ, được gọi là biểu tượng-âm tiết.
Điều này cũng có nghĩa là mỗi ký tự có cách phát âm riêng, và không có cách nào để đoán trước. Được biết chữ Trung Quốc đòi hỏi phải ghi nhớ về 4.000 ký tự. May mắn cho chúng tôi, chúng tôi không cần phải học tiếng Trung Quốc để đánh giá về vẻ đẹp của chữ viết này .
Bởi vì rất nhiều ký tự tiếng Trung Quốc được sử dụng phổ biến có 10–30 nét, chắc chắn thứ tự các nét đã được trình bày theo cách có thể đảm bảo được tốc độ, độ chính xác và mức độ dễ đọc trong cấu trúc chữ.
Vì vậy, khi nghiên cứu các ký tự, người ta phải tìm hiểu thứ tự mà nó được viết, và trình tự đã được quy định chung, chẳng hạn như: trên xuống dưới, trái sang phải, ngang trước đứng, giữa trước hai bên…
8 nguyên tắc của Yong
Các nét trong ký tự chữ Trung Quốc rơi vào tám categories chính: ngang (一), thẳng đứng (丨), trái-rơi (丿), phải rơi (丶), dấu tăng, dấu chấm (,), móc (亅) và dấu ngoặt (乛, 乚, 乙, vv). Trong phần “8 nguyên tố của Yong” sẽ trình bày cách viết các nét này, nó rất phổ biến trong các ký tự chữ Trung Quốc và có thể tìm thấy tất cả trong ký tự “yǒng” (永, dịch là “mãi mãi” hay “vĩnh cửu”).
4 thứ quý giá của việc học
“Four treasures of the study” – "4 thứ quý giá của việc học" là một thành ngữ đề cập đến bút lông, mực, giấy và đá mài mực được sử dụng trong thư pháp Trung Quốc và các thư pháp truyền thống Á Đông. Bút lông đứng đầu có thể được làm bằng tóc (hay lông) của các động vật, bao gồm chó sói, thỏ, hươu, nai, gà, vịt, dê, lợn và hổ.
Người Trung Quốc và Nhật Bản cũng có một truyền thống làm bút lông từ tóc của một đứa trẻ sơ sinh, như là một món quà lưu niệm lần đầu tiên trong đời cho đứa trẻ.
Seal and Seal Paste (con dấu)
Người nghệ sĩ thường hoàn thành tác phẩm thư pháp của mình mình bằng việc add con dấu của họ ở phía cuối, bằng mực đỏ. Con dấu dùng như một chữ ký và thường được thể hiện trong phong cách cũ.
Horizontal and Vertical Writing (văn bản viết theo chiều ngang và dọc)
Nhiều hệ thống chữ Đông Á (chẳng hạn như Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên) có thể được viết theo chiều ngang hoặc chiều dọc, vì chúng bao gồm chủ yếu các đơn vị âm tiết rời rạc, mỗi một âm tiết phù hợp với một khung vuông ảo.
Theo truyền thống, tiếng Trung Quốc được viết bằng cột dọc từ trên xuống dưới; cột đầu tiên ở phía bên phải của trang, và text bắt đầu từ bên trái.
Trong thời hiện đại, việc sử dụng Western layout (các layout phương tây), các hàng ngang chạy từ trái sang phải và được đọc từ trên xuống dưới, đã trở nên phổ biến. Các dấu hiệu là thử thách đặc biệt đối với văn bản bằng tiếng Trung Quốc, bởi vì chúng có thể được viết hoặc trái sang phải hoặc từ phải sang trái, hay từ trên xuống dưới.
Các phong cách khác
Trong thư pháp Trung Quốc, ký tự các chữ Trung Quốc có thể được viết trong năm phong cách chính. Thực chất những phong cách này là lịch sử của chữ script Trung Quốc.
Seal script là phong cách lâu đời nhất và tiếp tục được thực hành rộng rãi, mặc dù, ngày nay hầu hết mọi người đều không thể đọc được nó. Nó được xem là một chữ script cổ, nói chung, nó chỉ được sử dụng trong thư pháp hoặc khắc các con dấu, vì thế nó mới được gọi là Triện thư.
Trong clerical script, các ký tự nói chung có bề mặt “phẳng”. Chúng rộng hơn chữ Triện và hệ thống chữ tiêu chuẩn hiện đại. Một số phiên bản của clerical có hình vuông, và những cái khác lại rộng hơn. So với seal script, các form của clerical script rất đáng chú ý bởi chúng rất phẳng; nhưng một số khác lại có kiểu chữ cong vì vẫn còn bị ảnh hưởng từ seal script.
Semi-cursive script gần giống với chữ thảo viết tay bình thường, trong đó các nét và (hiếm hơn) các ký tự được phép ***g vào nhau. Các ký tự xuất hiện ít góc cạnh, tròn hơn và cũng đậm nét hơn.
Cursive script là một hệ thống chữ thảo, với sự đơn giản hóa và các chữ ghép đòi hỏi phải có kiến thức chuyên ngành mới có thể đọc được.
Có thể viết toàn bộ các ký tự mà không cần nhấc bút. Các nét được sửa đổi hoặc loại bỏ hoàn toàn để làm cho văn bản được uyển chuyển và tạo ra một phong thái vừa đẹp vừa trừu tượng. Trên bề mặt các ký tự rất là tròn và mềm mại, đáng chú ý là thiếu các đường nét góc cạnh.
Regular script là một trong những phong cách thư pháp chính mới nhất, được phát triển từ một văn bản viết rất gọn gàng sớm hơn thời kỳ semi-cursive form của clerical script.
Từ cái tên cũng gợi cho chúng ta thấy hệ thống chữ này rất “đều đặn”, mỗi nét được viết rất chậm và cẩn thận, bút viết được nhấc lên theo từng ký tự và toàn bộ các nét chữ phân biệt rất rõ ràng





















Trả Lời Với Trích Dẫn









































nhìn bảng chữ Tây Tạng thiệt là thân quen.



Bookmarks