>
Trang 2/2 đầuđầu 1 2
kết quả từ 11 tới 18 trên 18

Ðề tài: Nhật Bản cổ võ đạo

  1. #11
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Ittō Ittōsai

    Ittō Ittōsai (伊東 一刀斎, năm sinh năm mất không rõ) là một kiếm khách Nhật Bản sống thời Chiến quốc cho đến đầu thời Edo. Ông họ là Itō, hiệu là Kagehisa, tục danh là Maebara Yagorō. Itō Ittōsai được cho là khai tổ của phái kiếm Ittō-ryū (Nhất đao lưu) cực thịnh vào thời Edo nhưng bản thân ông chưa bao giờ xưng lưu phái của mình là Ittō-ryū. Các đệ tử của ông có những người nổi tiếng như Ono Zenki, Kotōda Toshinao và Ono Tadaaki.



    Ittō Ittōsai trong Manga "Vagabond" dưới nét vẽ của họa sĩ Inoue Takehiko


    Lai lịch

    Về lai lịch của Ittōsai thì có nhiều thuyết khác nhau và đến giờ vẫn chưa thể đánh giá được đâu là đúng. Về năm sinh thì có thuyết nói Ittōsai sinh năm 1550 (niên hiệu Tenmon thứ 5), có thuyết nói sinh năm 1560 (Eiroku thứ 3), mất năm 1628 (Kan-ei thứ 5), lại có thuyết nói ông mất vào năm 1632 khi đã 90 tuổi. Nhưng tựu trung đều thống nhất rằng Ittōsai là người quận Itō thuộc xứ Izu ngày xưa, lấy nơi xuất thân làm họ. Tuy nhiên tại Itō, địa phương được cho là nơi xuất thân của Ittōsai thì lại hoàn toàn không lưu truyền một huyền thoại, giai thoại nào về nhân vật Itō Ittōsai này. Tuy nhiên, nếu dựa theo giai thoại về thanh kiếm Kamewari-tō (kiếm chém bình) thì thấy Ittōsai xuất thân từ Izu Ōshima, một hòn đảo phía Bắc quần đảo Izu. Năm 14 tuổi, Itō bám theo một tấm khung cửa bơi đến Mishima, tỷ thí với viên tư tế quản đền thờ ở đó là Toda Ippō. Itō thắng trận tỷ thí và được tư tế ban cho bảo kiếm. Một lần khác Itō dùng kiếm này chém chết 7 tên đạo tặc, tên cuối cùng trốn vào trong chiếc bình to và Itō dùng kiếm chém đứt đôi cái bình lẫn người bên trong. Vì thế thanh kiếm có tên là Kamewari-tō.
    Tuy nhiên, theo sách "Ittō-ryū densho" thì Itō ra đời ở miền Tây Nhật Bản và theo Yamada Jirōkichi, một kiếm thuật gia nổi danh thời Meiji thì trong truyền thư của phái kiếm Kotōda-ryū có ghi chép chuyện Ittōsai ra đời ở Katata thuộc xứ Ōmi. Lại theo sách "Ehon Eiyū Bidan" thì Ittōsai là người vùng Kanazawa xứ Kaga hay vùng Tsuruga xứ Echizen, là kiếm sư của võ tướng Ōtani Yoshitsugu, thành chủ Tsuruga. Vị võ tướng này sau tử chiến trong trận Sekigahara nên Ittōsai trở thành võ sĩ vô chủ, sau về ở ẩn ở xứ Shimōsa đến cuối đời. Về nơi chết của Ittōsai, cũng có thuyết cho rằng ông chết ở thành phố Sasayama thuộc xứ Tamba.


    Sư phụ của Ittōsai và cực ý kiếm thuật

    Theo sách "Ittō-ryū no Gokui" (cực ý của phái kiếm Ittō-ryū, tác giả Sasamori Junzō) thì Itō đến Edo theo học đoản kiếm Kodachi và Chūdachi với Kanemaki Jisai, cao thủ phái Chūjō-ryū nổi danh với cực ý "Cao thượng kim cang đao". Yagorō (Ittōsai) ngày đêm luyện tập không ngừng nghỉ khiến Kanemaki Jisai cảm tâm mà trao lại hết 5 điểm cực ý, tuyệt học của môn phái gồm các áo nghĩa bí kiếm là "Diệu kiếm" (Myōken), "Tuyệt diệu kiếm" (Zetsumyōken), "Chân kiếm" (Shinken), "Kim sí điểu vương kiếm" (Konjichō Ōken) và "Độc diệu kiếm" (Dokumyōken). Một lần nọ Yagorō bị người thiếp yêu lừa gạt, dẫn thích khách đến ám sát trong lúc ngủ. Trong lúc nguy cấp, Yagorō xuất kỳ bất ý đánh ra chiêu thức "Phất xả đao" (Hossha-tō), sau trở thành một trong các chiêu kiếm cực ý của mình. Một lần khác, trong lúc viếng thăm đền thờ Tsuruga-oka, Yagorō ngộ ra bí kiếm "Mộng tưởng kiếm" (Musōken) chém chết giặc trong cơn vô thức. Theo sách này thì Yagorō Ittōsai phiêu du khắp các xứ trên toàn cõi Nhật Bản, tỷ thí 33 trận và không bại trận nào.

    Trong một cuốn sách ghi chép khác của Sanada Shigenobu, một võ tướng sống dưới thời Azuchi đến đầu thời Edo, sách vẫn còn lưu lại đến ngày nay, có mục "Mộng tưởng kiếm tâm pháp thư" chép vào tháng 7 năm Bunroku thứ 4 (1595), rằng có đến hai nhân vật xưng danh Toda Ittōsai. Toda Ittōsai là tên khác của Kanemaki Jisai, sư phụ của Ittōsai và đây cũng là nhân vật không rõ lai lịch nên có khả năng sự tích, xuất thân của hai thầy trò này trùng lặp với nhau. Lại theo sách "Ngọc Anh thập di" của họ Yagyū thì sư phụ của Ittōsai là Yamazaki Seigen. Thực tế có nhân vật Yamazaki Sakon Shōgen Kagenari là em trai của Toda Shigemasa, cao thủ phái kiếm Toda-ryū lừng danh ở xứ Echigo. Nhân vật Yamazaki Kagenari này cũng là một tay hào kiếm trong phái Toda-ryū nên giới nghiên cứu cũng suy đoán rằng có lẽ nhân vật Yamazaki Seigen này chính là Yamazaki Kagenari.


    Tỷ thí với người đại lục

    Trong những năm Tenshō, Toda Ittōsai có phiêu bạc giang hồ đến xứ Sagami và được rất nhiều người kéo đến xin nhập môn. Khoảng thời gian này Toda Ittōsai nhận Kotōda Toshinao (khai tổ của phái kiếm Kotōda Ittō-ryū, gia thần của họ Hōjō) làm cao đồ. Từ ghi chép này có thể suy đoán rằng Toda Ittōsai chính là Itō Ittōsai. Năm Tenshō thứ 6 (1578), có một người Hoa tên Thập Quan, cao thủ đao thuật Trung Quốc cập bến Sagami, tỷ thí với Ittōsai. Ittōsai tay mang cầm một chiếc quạt đã đánh bại Thập Quan dùng mộc đao.
    Hoa kiều đến định cư tại Nhật Bản, khi lấy tên Nhật thì thường thêm từ "Quan" trong tên để không quên nguồn gốc. Do vậy trong tâm thức người Nhật, những cái tên "~ Quan" là để chỉ Hoa kiều định cư tại nước này. Đương thời người Nhật chưa biết nhiều về tên họ người Hoa nên "~ Quan" chỉ là những cái tên chung chung dùng để chỉ người Hoa tại Nhật. Do đó rất có thể Thập Quan chỉ là cái tên chung vì không xác định được danh tính của nhân vật đó mà thôi.
    Trong tùy bút "Mimibukuro" vào cuối thời Edo có ghi lại chuyện đệ tử của Ittōsai là Ono Tadaaki dùng quạt sắt đánh bại đối thủ mang mộc kiếm. Về nội dung thì hoàn toàn giống với câu chuyện của Ittōsai và đến nay vẫn chưa xác minh được câu chuyện này có thật hay chỉ vì hậu nhân yêu thích câu chuyện của Ittōsai mà chép lại, hoặc giả là dựng nên để tuyên truyền cho thuật đánh quạt sắt (Tessen) vốn là một loại võ thuật hộ thân thời bấy giờ.

    Hệ thống lưu phái Ittō-ryū

    Theo hai tập sách cổ "Ittō-ryū Kōdensho" và "Gekken Sōdan", Ittōsai cho hai cao đồ là Ono Zenki và Mikogami Tenzen tỷ thí với nhau ở xứ Shimōsai. Người thắng cuộc là Tenzen được Ittōsai truyền thụ lại hết bí kỹ của môn phái. Bản thân Tenzen sau này cũng được Ittōsai tiến cử với Tướng quân Tokugawa Ieyasu, đến năm Bunroku thứ 2 (1593) thì được trọng dụng với bổng lộc 200 hộc. Tenzen sau này đổi sang họ mẹ là Ono, xưng danh là Tadaaki. Con trai của Tadaaki là Ono Tadatsune sau dựng nên Onoha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū, nhánh Ono), trong khi đó em trai của Tadaaki là Itō Tenzen Tadanari cũng gây dựng nên Itōha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū, nhánh Itō).
    Về sau, các nhánh này còn phân thêm nhiều nhánh nhỏ khác nữa, nhưng tựu trung là đều bắt nguồn từ Ittō-ryū của Ittōsai và có ảnh hưởng nhiều đến Kendō hiện đại.

    Tiểu thuyết

    Nhân vật Itō Ittōsai còn xuất hiện trong một số tiểu thuyết thời đại như

    + "Nihon kenkiden Itō Ittōsai" (Truyện quỷ kiếm Nhật Bản Itō Ittōsai), tác giả Mine Ryū Ichirō
    + "Kensei Itō Ittōsai" (Kiếm thánh Itō Ittōsai, bộ 5 tập), tác giả Nitta Yoshio.
    + "Itō Ittōsai" (bộ 3 cuốn thượng, trung, hạ), tác giả Tobe Shinjūrō
    + "Itō Ittōsai" (bộ 2 cuốn thượng, hạ), tác giả Yoshimura Ken-ichi
    + "Tenka ichi no ken" (thiên hạ đệ nhất kiếm), tác giả Kojima Hideki
    + "Kengō Ittōsai" (Kiếm hào Ittōsai), tác giả Shibata Tei.
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  2. The Following User Says Thank You to Như Thị Duyên For This Useful Post:

    Fri3ng3R (19-02-2012)

  3. #12
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Sasaki Kojirō

    Sasaki Kojirō (佐々木 小次郎) là một kiếm khách Nhật Bản sống vào thời Azuchi Momoyama cho đến đầu thời Edo. Kiếm khách này không rõ năm sinh, mất vào ngày 13 tháng 4 năm Keichō thứ 17 (13-5-1612). Kojirō hiệu là Ganryū, chữ Hán viết là 巌流 (Nham Lưu), 岸流 (Ngạn Lưu), 岸柳 (Ngạn Liễu), 岩龍 (Nham Long)..... Những chữ này tuy viết khách nhau nhưng đều phát âm là Ganryū trong tiếng Nhật.
    Sasaki Kojirō trở nên nổi tiếng vì trận quyết đấu với kiếm hào Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū (Ganryū-jima).


    Tượng đá Sasaki Kojirō và Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū.

    Cuộc đời
    Về xuất thân của Sasaki Kojirō thì còn nhiều điểm không rõ ràng. Có thuyết cho rằng Kojirō ra đời trong một gia đình hào tộc có thế lực ở làng Fukuda, quận Tagawa thuộc xứ Buzen (nay là tỉnh Fukuoka). Trong cuốn "Nhị Thiên ký" (Nitenki) do Toyoda Kagehide ở phiên trấn Kumamoto biên tập vào năm An-ei thứ 5 (1776) thì ghi rằng Kojirō xuất thân từ làng Jōkyōji thuộc xứ Echizen (nay là tỉnh Fukui) và hội đắc được bí kiếm "Tsubame-gaeshi" tại thác nước Ichijō-taki thuộc địa phận Fukui. Trong tiểu thuyết "Miyamoto Musashi", tác giả Yoshikawa Eiji viết rằng Kojirō xuất thân từ xứ Suō. Năm sinh của Kojirō được cho là vào niên hiệu Tenshō hoặc Eiroku. Kojirō họ Sasaki, nhưng trong sách "Tanji Hōkin Hikki" thì ghi là họ Tsuta.

    Sasaki Kojirō được cho là theo học kiếm pháp với Toda Seigen, cao thủ phái Chūjō-ryū, lại có thuyết khác cho rằng Kojirō là đệ tử của Kanemaki Jisai, học trò của Toda Seigen. Đầu tiên Kojirō theo thờ họ Mōri ở xứ Aki, lang thang khắp các xứ để trau dồi võ công, sáng tạo ra thế kiếm "Tsubame-gaeshi" và gây dựng nên phái kiếm Gan-ryū. Sau Kojirō giữ chức Shihan dạy kiếm thuật cho chúa phiên Kokura. Năm Keichō thứ 17 (1612), Kojirō sử thanh trường kiếm Bizen Osafune Nagamitsu dài 3 thước 3 thốn (chừng 1 mét) quyết đấu với kiếm khách giang hồ Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū và chết trong trận đấu đó. Vì thua trận nên hậu thế gọi thanh kiếm của Kojirō bằng tục danh "Monohoshi-zao", nghĩa là cây sào phơi đồ, với ý châm chọc là kiếm chỉ dài thôi chứ chẳng chém được ai.
    Rất nhiều sử liệu ghi chép rằng Kojirō thua chết trong trận quyết đấu trên đảo Ganryū với Miyamoto Musashi, nhưng theo Numata Nobumoto, quan Gia Lão của lãnh chúa Hosokawa phiên Kokura viết lại trong cuốn sách của ông là "Numata kaki" (ký ghi chép của họ Numata) thì Musashi đã không giết chết Kojirō trong trận đấu đó. Kojirō đấu thua, chặp sau tỉnh lại thì bị đám đệ tử của Musashi giết chết. Numata cũng viết rằng chúng đệ tử của Kojirō hận Musashi vì đấu thua, toan tập kích Musashi nhưng nhờ Numata giúp đỡ mà Musashi thoát được. Sách viết nguyên nhân dẫn đến trận quyết đấu trên đảo là do đám đệ tử quá khích của hai người tranh cãi hơn thua về sư phụ chúng.


    Năm mất

    Trong "Nitenki" (Nhị Thiên ký), cuốn truyện ký kể về Miyamoto Musashi do quan Gia lão của chúa Hosokawa là Toyoda Kagehide viết có đoạn chép rằng khi quyết đấu với Musashi trên đảo Ganryū thì Kojirō đã 18 tuổi. Nhưng trong cuốn "Bukōden" (Võ công truyện) vốn là nguyên bản của "Nitenki" thì không có đoạn chép trên nhưng có đoạn viết rằng Sasaki Kojirō sáng lập môn phái năm 18 tuổi. Nếu căn cứ vào việc Kojirō gặp gỡ Toda Seigen thì ít nhất cũng đã trên 50 tuổi, nếu là đệ tử chân truyền của Seigen thì Kojirō phải là một lão nhân. Do đó có nhiều thuyết cho rằng sách ghi sai số tuổi của Kojirō lúc quyết đấu trên đảo từ "thất bát" (78) thành "thập bát" (18) bởi Hán tự "thất" và "thập" có tự dạng gần giống nhau. Lại xem nếu Kojirō là đệ tử của Kanemaki Jisai thì rất nhiều khả năng Kojirō nhiều tuổi hơn Musashi.


    Tsuruta Kōji trong vai Sasaki Kojirō trong bộ 3 phim Miyamoto Musashi của đạo diễn Inagaki Hiroshi


    Tính cách

    Nhân vật Sasaki Kojirō được đại đa số dân Nhật cho rằng là người ngạo mạn bất tôn, tuy có tài nhưng ba hoa lắm tật, lại xảo quyệt gian manh. Quan niệm này xuất phát từ cuốn tiểu thuyết "Miyamoto Musashi" của văn hào Yoshikawa Eiji, trong đó Kojirō là đối thủ chính của nhân vật chính là Musashi được mô tả với những đặc tính tốt đẹp của dân tộc Nhật còn Kojirō thì hoàn toàn ngược lại. Tác giả Yoshikawa còn miêu tả Kojirō như một kẻ đồng bóng, thích ăn mặc lòe loẹt, đỏm dáng. Trong "Kōdan Miyamoto Musashi" của diễn giả Itō Ryōchō cũng mô tả Sasaki Ganryū Kojirō như kẻ quỷ quyệt, láu cá. Một số truyện ký, ký sự cổ từ thời Edo cũng nhìn nhận Kojirō với những tính cách tiêu cực như vậy.
    Tuy nhiên cũng có những quan điểm ủng hộ Kojirō, phản bác lại cách nhìn nhận truyền thống đối với nhân vật này. Điển hình là nhà văn Murakami Genzō trong tiểu thuyết "Sasaki Kojirō" của mình cũng đã miêu tả nhân vật này với những tính cách tích cực và nhìn nhận tiêu cực về Miyamoto Musashi. Họa sĩ truyện tranh Inoue Takehiko thì miêu tả Kojirō trong tác phẩm Vagabond của mình là một kiếm khách thiên tài nhưng câm điếc bẩm sinh, mang nhiều nét thơ ngây và ít nhiều thể hiện thiện cảm đối với nhân vật này, dù nhân vật chính của tác phẩm vẫn là Musashi.


    Watanabe Ken trong vai Kojirō (phải) trong phim Ganryū-jima

    Tuyệt kỹ Tsubame-gaeshi

    Tuyệt chiêu của Sasaki Kojirō thường được nhắc đến là "Tsubame-gaeshi" (én lượn) với đặc trưng là hai nhát chém chớp nhoáng theo hướng ngược nhau. Sở dĩ chiêu thức này có tên như vậy là vì nó mô phỏng động tác bay lượn của chim én, nhanh gọn và đảo hướng bất ngờ. Kojiō sáng tạo nên tuyệt kỹ này khi quan sát én bay trên cầu Kintai ở xứ Iwakuni. Tuy nhiên, trong một phim tài liệu trên đài Terebi Asahi vào năm 2007, có chứng cớ cho thấy rằng Tsubame-gaeshi chỉ là sản phẩm của hậu thế gán cho Kojirō vào khoảng 60 năm sau ngày quyết đấu trên đảo Ganryū. Theo phim tài liệu này thì nguyên bản của chiêu thức Tsubame-gaeshi chính là chiêu kiếm Torakiri.
    Trong "Kōdan Miyamoto Musashi", diễn giả Itō Ryōchō kể rằng Kojirō hội đắc được kiếm pháp này khi chém đứt cánh chim én bay vào nhà. Chim én là loài bay lượn vô địch trên trời, nhưng tuyệt kỹ Tsubame-gaeshi của Sasaki Kojirō có thể chém rụng cánh én nhờ tốc độ thần sầu và độ chính xác của nó. Nhiều phái kiếm cổ như Yagyū-ryū cũng có chiêu thức Tsubame-gaeshi với hai nhát chém thần tốc ngược hướng nhau, thường là nhát đầu tiên bổ thẳng từ trên xuống và ngay sau đó là nhát chém ngược từ dưới lên.

    Sasaki Kojirō trong văn hóa đại chúng

    Hình tượng Sasaki Kojirō rất phổ biến trong văn hóa đại chúng Nhật Bản, và thường xuất hiện trong vai trò đối lập với nhân vật Musashi.

    Phim ảnh
    + Sasaki Kojirō (1950, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Zoku Sasaki Kojirō (1951, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Kanketsu Sasaki Kojirō (1951, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Kettō Ganryū-jima (1956, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Tsuruta Kōji diễn)
    + Miyamoto Musashi Nitō-ryū Kaigan (1963, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi Ichijō-ji no kettō (1964, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi Ganryū-jima no kettō (1965, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Sasaki Kojirō (1967, Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Onoue Kikunosuke)
    + Miyamoto Musashi (1973, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Katō Tai, Tamiya Jirō diễn)
    + Makai Tenshō (1981, nguyên tác Yamada Fūtarō, Shirai Jirō diễn)
    + Ganryū-jima GANRYUJIMA (2003, đạo diễn Chiba Seiji, Nishimura Masahiko diễn)

    Phim truyền hình

    + Miyamoto Musashi (1961, Fuji Terebi, Nakaya Noboru diễn)
    + Sorekara no Musashi (1964, 1965, Mainichi Hōsō, Utsui Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi (1965, Nihon Terebi, Nakatani Ichirō diễn)
    + Miyamoto Musashi (1970, NET, Yamazaki Tsutomu diễn)
    + Miyamoto Musashi (1975, Kansai Terebi, Hamahata Kenkichi diễn)
    + Miyamoto Musashi (1984, NHK Taiga Drama, Naka Kōji diễn)
    + Miyamoto Musashi (1990, Terebi Tōkyō, Murakami Hiroaki diễn)
    + Ganryū-jima (1992, NHK, Watanabe Ken diễn)
    + Tokugawa Kengōden Sorekara no Musashi (1996, Terebi Tōkyō, Takuma Shin diễn)
    + Miyamoto Musashi (2001, Terebi Tōkyō, Yoshida Eisaku diễn)
    + Musashi MUSASHI (2003, NHK Taiga Drama, Matsuoka Masahiro diễn)

    Manga

    + Vagabond (nguyên tác Yoshikawa Eiji, vẽ tranh Inoue Takehiko)
    + GANRYU
    + YAIBA
    + Gag Manga Biyori
    + Fate/stay_night

    Video Game

    + Series Kengō (Genki phát hành)
    + Series Nobunaga no Yabō (Koei phát hành)
    + Series Taikō Risshiden (Koei phát hành)
    + Sengoku Musō 2 Mōshōden (Koei phát hành)
    + Musō OROCHI Maō sairin (Koei phát hành)
    + THE Kassen Sekigahara (3D Publisher)
    + Aku daikan 2 (GAE)
    + Edo mono (GAE)
    + Ryū ga gotoku kenzan (Sega)
    + Fate/stay_night
    + LORD of VERMILION Re:2(SQUARE ENIX)
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  4. The Following 2 Users Say Thank You to Như Thị Duyên For This Useful Post:

    Fri3ng3R (04-03-2012), superpanda (04-03-2012)

  5. #13
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Kyōhachi-ryū


    Kyōhachi-ryū (京八流) là một phái kiếm trong truyền thuyết Nhật Bản và được xem như là thủy tổ của hết thảy tất cả các lưu phái kiếm thuật được truyền đến ngày nay.

    Thành lập

    Truyền thuyết cho rằng phái này do Kiichi Hōgan, một Âm Dương sư văn võ song toàn sống vào cuối thời Heian lập nên khi truyền dạy đao pháp cho 8 tăng lữ ở núi Kurama thuộc Kyōto. Cũng có truyền thuyết cho rằng Minamoto no Yoshitsune và nhiều nhân vật nổi tiếng khác trong lịch sử cũng theo học phái kiếm này, nhưng thảy đều không có chứng cứ rõ ràng và đều không thoát ra khỏi khuôn khổ truyền thuyết.
    Lại có truyền thuyết cho rằng Kyōhachi-ryū được Yoshioka Kempō Naomoto lập nên. Sau đó, đến cuối thời Chiến quốc, đầu thời Edo thì có Yoshioka Seijūrō, Yoshioka Denshichirō đều là những cao thủ của phái kiếm Kyōhachi-ryū, võ đường Yoshioka và từng tỷ thí với kiếm khách Miyamoto Musashi. Tuy nhiên, phái kiếm Yoshioka-ryū đã tuyệt duyệt và bản thân trận đấu của họ Yoshioka với Miyamoto Musashi cũng không mấy đáng tin xuất hiện trong các thư tịch cổ.

    Kết luận


    Ngoài Yoshioka-ryū, phái Kurama-ryū, Chūjō-ryū cũng được cho là bắt nguồn từ Kyōhachi-ryū. Tuy nhiên, tất cả đều không lưu lại chứng cứ rõ ràng nên phái này đang bị xem hoài nghi có tồn tại thực sự hay không. Tuy vậy, Kyōhachi-ryū vẫn là một nguồn cảm hứng, là đề tài mạnh mẽ cho nhiều tác phẩm văn học, giải trí như Manga cho đến ngày nay.
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  6. The Following User Says Thank You to Như Thị Duyên For This Useful Post:

    Fri3ng3R (16-03-2012)

  7. #14
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Jitte


    Jitte (十手, âm Hán Việt đọc là "thập thủ") là một món võ khí trong các võ phái cổ Nhật Bản. Đây cũng là một trong những dụng cụ bắt bớ thông dụng thời cổ. Tùy từng lưu phái, có khi nó được biểu ký bằng Hán tự là "thực thủ" (実手). Môn võ đánh Jitte được gọi là Jitte-jutsu.

    Khái yếu


    Jitte là món võ khí dài chừng 30cm~1m, gồm một mũi thép nhọn gắn vào cán gỗ, từ mũi thép chẻ ra một nhánh thép nhọn ngắn hơn nằm gần cán. Cũng có loại Jitte gồm một nhánh thép chính và hai nhánh thép phụ ở gần cán, hình trạng giống như mũi Sai. Công dụng chính của Jitte là phòng thủ kiếm của đối phương, dùng để đâm và đôi khi là để bẻ khớp địch thủ. Có phái Nhu thuật còn kết hợp Jitte trong những đòn quật và chế ngự đối phương. Jitte là món vũ khí ngắn, chuyển động linh hoạt và được cho là xảo diệu hơn cả 10 cánh tay, chính vì thế nên nó được gọi là Jitte (thập thủ). Từ này thường được trực dịch sang Anh ngữ là "Ten hands".


    Một số loại Jitte

    Lịch sử và cách sử dụng


    Người ta tìm thấy một số văn kiện thời Edo viết là món vũ khí này được một văn nhân họ Trần từ Minh quốc (Đại lục) mang sang Nhật vào thời kỳ này, nhưng thực tế từ giữa thời Muromachi đã thấy có thuật đánh Jitte. Từ cuối thời Muromachi cho đến thời Chiến quốc rất thịnh hành một món vũ khí gọi là Kabuto-wari, hình trạng gần giống với Jitte, gồm một lưỡi đao có nhánh thép nhọn chẻ ra từ đằng cán. Công dụng của Kabuto-wari là để đâm, chém và khống chế, bắt bớ đối phương. Vì vậy có nhiều kiến giải cho rằng Jitte được phát triển từ Kabuto-wari trước đó. Về cách sử dụng thì ngoài việc dùng mũi thép phụ để bắt kiếm của đối phương, còn có phái Nhu thuật sử dụng Jitte như một cây gậy ngắn để khống chế tay chân đối phương để bắt sống và kết hợp với đòn quăng quật. Vì vậy Jitte-jutsu trở nên phổ biến vào thời Edo, nó là món võ khí không thể thiếu của lực lượng cảnh sát để bắt sống tội phạm thời bấy giờ. Có một giai thoại rằng, cha của kiếm khách vô song Miyamoto Musashi là Shinmen Munisai là một đại cao thủ sử Jitte thuộc phái Tōri-ryū, được Tướng quân Ashikaga Yoshiaki mến mộ võ nghệ mà ban thưởng cho danh hiệu "Nhật hạ vô song".

    Lưu phái


    + Tōri-ryū
    + Ikkaku-ryū Jitte-jutsu
    + Komagawa Kaishin-ryū
    + Shibukawa-ryū
    + Rikishin-ryū
    + Edaima Shin-ryū
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  8. #15
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Binh pháp tam đại nguyên lưu

    Binh pháp tam đại nguyên lưu (兵法三大源流 - Hyōhō sandai genryū, Heihō sandai genryū) là danh từ chỉ chung 3 lưu phái kiếm thuật Nhật Bản, bao gồm Nen-ryū (Niệm lưu), Shintō-ryū (Thần Đạo lưu) và Kage-ryū (Âm lưu). Tên gọi này bắt nguồn từ tên 3 môn phái gồm Nen-ryū (Niệm lưu), Shintō-ryū (Tân Đương lưu) và Kage-ryū (Âm lưu) thời trung cổ trong lịch sử binh pháp từ cuốn “Kage mokuroku” (Ảnh mục lục) mà kiếm sư Kami-izumi Nobutsuna trao lại cho Yagyū Muneyoshi vào niên hiệu Eiroku thứ 9 (1566). Người ta cho rằng khi lần theo nguồn gốc kiếm thuật Nhật Bản thì sẽ đến được 3 lưu phái này. Cũng có trường hợp bao gồm luôn cả phải Chūjō-ryū và gọi là binh pháp tứ đại nguyên lưu.
    Từ “binh pháp” (heihō, hyōhō) không chỉ có nghĩa là thuật bày binh bố trận, điều binh khiển tướng mà còn mang nghĩa võ nghệ, kiếm pháp.

    Nen-ryū (Niệm lưu)

    Là lưu phái do Nen-ami Jion sáng lập. Các lưu phái khởi nguồn từ Nen-ryū

    1.Maniwa Nen-ryū (Mã Đình Niệm lưu) do Higuchi Sadatsugu sáng lập.
    1.Chūjō-ryū (Trung Điều lưu) do Chūjō Nagahide sáng lập.
    2.Toda-ryū (Phú Điền lưu) do Toda Nagaie sáng lập.
    3.Tōda-ryū (Đương Điền lưu) do Tōda Yoshimasa sáng lập.
    3.Kanemaki-ryū (Chung Quyển lưu) do Kanemaki Jisai sáng lập.
    4.Ittō-ryū (Nhất Đao lưu) do Itō Ittōsai sáng lập.
    5.Ono-ha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū nhánh Ono) do Ono Tada-aki sáng lập.
    6.Nakanishi-ha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū nhánh Nakanishi) do Nakanishi Chūta sáng lập.
    7.Hokushin Ittō-ryū (Bắc Chấn Nhất Đao lưu) do Chiba Shūsaku sáng lập.
    8.Ittō Shōden Mutō-ryū (Nhất Đao Chánh Truyền Vô Đao lưu) do Yamaoka Tesshū sáng lập.
    5.Tadanari-ha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū nhánh Tadanari) do Itō Tadanari sáng lập.
    6.Mizoguchi-ha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū nhánh Mizoguchi)
    7.Kōgen Ittō-ryū
    4.Gan-ryū do Sasaki Kojirō sáng lập.


    Shintō-ryū(Thần Đạo lưu)


    Là kiếm pháp truyền thừa ở địa phương Katori, Kashima. Shintō-ryū trong tam đại nguyên lưu không phải danh từ chỉ bất cứ môn phái cụ thể nào, chẳng hạn như Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū. Dưới đây là các lưu phái kiếm thuật bắt nguồn từ Shintō-ryū

    1.Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū (Thiên Chân Chánh Truyền Hương Thủ Thần Đạo lưu) do Iizasa Chō-isai Inenao sáng lập.
    2.Ippa-ryū (Nhất Vũ lưu) do Moro-oka Ippa sáng lập.
    2.Mijin- ryū (Vi Trần lưu) do Negishi Tokaku sáng lập.
    2.Kasumi-ryū (Hà lưu) do Makabe Ujimoto sáng lập.
    2.Anazawa-ryū (Huyệt Trạch lưu)
    2.Tenshin Shōjigen-ryū do Soseyo Nagamune sáng lập.
    3.Jigen-ryū (Thị Hiện lưu) do Tōgō Shigekata sáng lập.
    1.Kashima-ryū (Lộc Đảo lưu)
    2.Shintō-ryū (Tân Đương lưu) do Tsukahara Bokuden sáng lập.
    3.Shin-musō Hayashizaki-ryū (Thần Mộng Tưởng Lâm Khi lưu) do Hayashizaki Jinsuke sáng lập.
    3.Bokuden-ryū (Bốc Truyền lưu) do Tsukahara Bokuden sáng lập.
    3.Ten-ryū (Thiên lưu) do Saitō Denkibō sáng lập.
    2.Tennen Rishin-ryū (Thiên Nhiên Lý Tâm lưu) do Kondō Kura-no-suke sáng lập.
    2.Kashima Shin-ryū (Lộc Đảo Thần lưu) do Kunii Zen-ya sáng lập.


    Kage-ryū (Âm lưu)

    Môn phái do Aisu Hisatada gây dựng nên còn gọi là Aisu Kage-ryū. Dưới đây là các lưu phái khởi nguồn từ Kage-ryū.

    1.Shinkage-ryū (Tân Âm lưu) do Kami-izumi Nobutsuna sáng lập.
    2.Yagyū Shinkage-ryū (Liễu Sinh Tân Âm lưu) do Yagyū Muneyoshi sáng lập.
    2.Hikita Kage-ryū (Sơ Điền Âm lưu) do Hikita Kagetomo sáng lập.
    3.Shinkage Hikita-ryū (Tân Âm Sơ Điền lưu)
    3.Sei-a-ryū (Tuy Tỉnh Oa lưu)
    3.Kurama Yōshin-ryū (Yên Mã Dương Tâm lưu)
    2.Taisha-ryū do Marume Nagayoshi sáng lập.
    3.Jigen-ryū (Thị Hiện lưu)
    3.Shin-nuki-ryū (Chân Quán lưu)
    2.Okuyama Shin-ei-ryū (Áo Sơn Thần Ảnh lưu) do Okuyama Kimishige sáng lập.
    3.Jikishin Kage-ryū (Trực Tâm Ảnh lưu) do Yamada Mitsunori sáng lập.
    3.Mujushin-ryū (Vô Trụ Tâm lưu) do Harigaya Sekiun sáng lập.
    4.Unkō-ryū (Vân Hoằng lưu)
    2.Shin Shinkage Ichien-ryū (Tân Thần Âm Nhất Viên lưu)
    3.Shintō Munen-ryū (Thần Đạo Vô Niệm lưu)
    2.Komagawa Kaishin-ryū (Câu Xuyên Cải Tâm lưu)
    2.Shinkage Makuya-ryū (Tân Ảnh Mạc Ốc lưu)
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  9. #16
    Ninja
    Cộng Mạng's Avatar


    Thành Viên Thứ: 133660
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 249
    Thanks
    27
    Thanked 1,113 Times in 207 Posts



    Video giới thiệu cổ phái Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū

    Demo online



    Download bản full
    http://www.fshare.vn/file/T0X98VGQ5T
    Chữ ký của Cộng Mạng
    "Chư thượng thiện nhơn
    Câu hội nhứt xứ"


    Gokuraku Shujō's Headquarter
    http://gokuraku-shujo.blogspot.com

  10. #17
    Ninja
    Cộng Mạng's Avatar


    Thành Viên Thứ: 133660
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 249
    Thanks
    27
    Thanked 1,113 Times in 207 Posts
    Xem online trên Youtube

    Chữ ký của Cộng Mạng
    "Chư thượng thiện nhơn
    Câu hội nhứt xứ"


    Gokuraku Shujō's Headquarter
    http://gokuraku-shujo.blogspot.com

  11. #18
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 57825
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 154
    Thanks
    9
    Thanked 416 Times in 128 Posts
    Moro-oka Ippa


    Moro-oka Ippa, hay còn gọi Moro-oka Ichiha (諸岡 一羽) là kiếm hào Nhật Bản sống vào thời Chiến quốc, húy danh là Tsunenari hoặc Kagehisa, tên thường gọi là Heigorō. Họ của ông (Moro-oka) còn được viết là 師岡, tên (Ippa, Ichiha) còn được viết cách khác là 一端 hoặc 一巴. Có thuyết cho rằng ông ra đời vào năm thứ 2 niên hiệu Temmon (1533), mất ngày mùng 8 tháng 9 năm Bunroku thứ 2 (mùng 2 tháng 10 năm 1593) nhưng cũng có thuyết cho là trước đó 100 năm. Moro-oka Ippa được cho là khai tổ của kiếm phái Ippa-ryū.

    Cuộc đời

    Người ta cho rằng ông xuất thân từ gia hệ họ Toki ở xứ Mino, con trai của Moro-oka Tsuneyoshi. Ông là đệ tử của Iizasa Chō-isai Ienao, người sáng lập phái võ nghệ Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū (cũng có thuyết cho là đệ tử của Tsukahara Bokuden).

    Ban đầu ông theo thờ họ Toki ở thành Edozaki, đương chủ của họ này là Toki Hara Harutsuna lại theo họ Gōhōjō nên bị Daimyō xứ Hitachi là Satake Yoshishige tiêu diệt khi đại quân Toyotomi Hideyoshi chinh phạt thành Odawara. Khi họ Toki bị diệt, con trai của Satake Yoshishige là Ashina Yoshihiro có khuyên Moro-oka Ippa ra làm quan cho họ Satake nhưng ông kiên quyết từ chối, mở võ đường dạy kiếm thuật, sống trọn một đời binh pháp gia. Những năm cuối đời, ông mắc chứng phong cùi, qua đời ở tuổi 60. Mộ của ông vẫn còn ở chùa Dainen-ji (Đại Niệm tự), làng Edozaki, quận Inashiki, tỉnh Ibaraki.

    Các đệ tử của Moro-oka Ippa còn xưng tên lưu phái là Bokuden-ryū, Mijin-ryū, Kashima Shintō-ryū. Cục trưởng Shinsengumi là Kondō Isami hội đắc được cực ý của phái kiếm Tennen Rishin-ryū, và phái này cũng được cho là thuộc hệ thống của Ippa- ryū.



    Đồng môn


    Makabe Ujimoto
    Saitō Denkibō
    Ashikaga Yoshiteru
    Kitabatake Tomonori


    Đệ tử


    Negishi Tokaku
    Iwama Kokuma
    Hijiko Doro-no-suke
    Kodachi Hanshichi
    Chữ ký của Như Thị Duyên

  12. The Following User Says Thank You to Như Thị Duyên For This Useful Post:

    bad_no001 (31-08-2013)

Trang 2/2 đầuđầu 1 2

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •