>
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 13

Ðề tài: Tổng hợp về Fukuzawa Yukichi

  1. #1
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    thay đổi nội dung bởi: Mùa Thu Màu Xám, 17-07-2012 lúc 07:32 PM

  2. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    joele (14-07-2012)

  3. #2
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về gia đình và lịch sử văn minh

    Giáo sư Toshiko Nakamura,
    Trường Đại Học Hokkai-Gakuen, Nhật Bản
    Tqvn2004 chuyển ngữ
    docstoc.com

    nguồn


    1. Bối cảnh lịch sử

    Fukuzawa Yukichi (1835-1901) là một trong những nhân vật vĩ đại nhất Nhật Bản. Ông thường được coi là người đã toàn tâm toàn ý "phương Tây hóa" Nhật Bản trên hầu hết các khía cạnh của xã hội, trong đó bao gồm vấn đề phụ nữ và gia đình. Nhưng lập luận của ông về phụ nữ và gia đình rất phong phú, và liên quan tới tư tưởng của ông về con người và xã hội văn minh. Trong bài luận này, tôi sẽ phân tích lý thuyết của ông về lịch sử văn minh, và về suy nghĩ của Fukuzawa về con người và xã hội, cũng như mối liên hệ của nó tới tư tưởng của ông về gia đình và phụ nữ.


    Các thành viên của đoàn Đại Sứ Nhật tới Hoa Kỳ năm 1860. Fukuzawa Yukichi ngồi bên phải (Nguồn: Wikipedia)

    Fukuzawa sinh năm 1835, khi chính quyền Tokugawa đang nắm quyền ở Nhật Bản. Thời kỳ Tokugawa kéo dài từ 1603 tới 1868, và đây là một hệ thống phong kiến. Nhật Bản bị chia cắt thành nhiều lãnh địa nhỏ, được cai quản bởi các lãnh chúa Samurai. Trên cao nhất, là Tướng quân (Shogun), người lãnh đạo các Samurai. Quan hệ xã hội khi đó dựa trên sự phân cấp. Samurai đứng hàng đầu, kế đến là nông dân, thợ thủ công và lái buôn. Chính quyền Tokugawa sử dụng Khổng Giáo như một ý thức hệ chính thức bởi tư tưởng này thích hợp để biện hộ cho sự phân cấp của xã hội.

    Gia đình Fukuzawa thuộc về tầng lớp samurai thấp kém. Bố của ông mất khi ông mới 3 tuổi. Gia đình của một samurai thường bắt đầu học sách vở Trung Hoa cổ (bao gồm các tác phẩm của Khổng Tử) từ 7 tuổi, nhưng ông không được đi học cho tới năm 14 tuổi. Tuy nhiên, Fukuzawa đặc biệt thích các cuốn sách lịch sử, và nắm chúng rất vững. Và chúng ta sẽ được thấy ảnh hưởng của Khổng Giáo trong giai đoạn sau này cuộc đời ông.

    Chính quyền Tokugawa quyết định theo đuổi chính sách đóng cửa đất nước từ giữa thế kỷ 17, và giữ chính sách này suốt 200 năm. Nhưng vào năm 1853, thiếu tướng hải quân Perry với đội tàu Mỹ đã tới Nhật Bản và ép quốc gia này phải mở cửa. Chính quyền Tokugawa trở nên hoảng loạn, và hệ thống đẳng cấp xã hội bị chấn động. Rất nhiều người thuộc tầng lớp samurai đã bắt đầu nghĩ tới việc thay đổi Nhật Bản. Fukuzawa là một trong số đó. Một số người cho rằng sẽ tốt đẹp hơn nếu Nhật Bản quay lại với cách thức của thời xưa, còn một số khác cho rằng sẽ tốt hơn nếu Nhật Bản được hiện đại hóa như các quốc gia phương Tây. Fukuzawa căm ghét hệ thống xã hội phân cấp và Khổng Giáo - ý thức hệ mà chính quyền Tokugawa sử dụng. Do đó ông bắt đầu học tiếng Hà Lan, bởi vì đó là thời điểm mà Hà Lan là nước phương Tây duy nhất được phép giao dịch với Nhật, trong khi tiếng Anh đang trở nên phổ biến sau khi Nhật Bản mở cửa. Ông đã đi sang Mỹ hai lần, và Châu Âu một lần như thành viên của một đoàn [ngoại giao] thuộc chính quyền Tokugawa, và mang về rất nhiều sách phương Tây, các cuốn sách mà ông sau này dịch sang tiếng Nhật.

    Hỗn loạn trong chính trường Nhật Bản kết thúc khi thay đổi thể chế diễn ra năm 1868. Tướng Quân trao trả quyền lực lại cho Hoàng Đế, do đó thời kỳ này gọi là "Khôi phục Minh Trị" (Meiji restoration). Và như thế Fukuzawa sống giữa hai xã hội khác biệt nhau. Nửa đầu là phong kiến, nửa sau là bán hiển đại. Sau thời kỳ Khôi phục Minh Trị, ông đã nỗ lực biến Nhật Bản thành một quốc gia tự do và dân chủ. Hầu hết các lãnh đạo của tầng lớp samurai trở thành Bộ trưởng hay Quan chức của chính quyền Minh Trị, nhưng Fukuzawa quyết định giữ tư cách độc lập và gắng hết sức hiện đại hóa Nhật Bản. Ông thành lập một trường đại học, một nhà xuất bản, một tờ báo, và giúp mở một công ty bảo hiểm, và ông dạy mọi người về các hoạt động thương mại và chính trị ở các quốc gia phương Tây và cố gắng thực hiện các hoạt động này ngay ở Nhật Bản.

    Fukuzawa đã có ảnh hưởng rất lớn trên mọi lĩnh vực xã hội ở Nhật Bản. Ông cũng viết rất nhiều về quyền phụ nữ, và quan hệ gia đình. Những tư tưởng của ông về gia đình và phụ nữ liên quan chặt chẽ tới lập luận của ông về lịch sử văn minh, do đó tôi sẽ bắt đầu với suy nghĩ của Fukuzawa về lịch sử văn minh.

    2. Tư tưởng Fukuzawa về văn minh

    Lịch sử của nền văn minh

    Mặc dù Fukuzawa viết rất nhiều bài viết trong cuộc đời mình, nhưng cuốn sách quan trọng nhất trong đó chính là 'Văn minh luận chi khái lược' (An Outline of a Theory of Civilization). Năm 1874, ông quyết định dừng việc dịch sách phương Tây và tập trung nghiên cứu lý thuyết về văn minh. Ông đọc các cuốn sách của học giả phương Tây như Guizot, Buckle và J. S. Mill và viết một vài dàn bài và bản nháp. Ông thảo luận với bạn hữu và sinh viên về chúng trước khi xuất bản cuốn sách năm 1875. Như thế, chúng ta có thể thấy ông đã bỏ nhiều nỗ lực vào cuốn sách này.

    Trong cuốn Khái lược này, ông viết về lịch sử của nền văn minh, nói về các bước mà xã hội loài người đã trải qua để phát triển. Ông chia lịch sử ra làm 3 giai đoạn: 'man rợ', 'bán văn minh' và 'văn minh'. Mỗi xã hội đều phải đi theo con đường này cho tới khi họ đạt tới giai đoạn cuối của văn minh. Chắc chắn là ông đã lĩnh hội tư tưởng này từ các cuốn sách phương Tây mà ông đã được đọc.

    Thế Fukuzawa nghĩ những yếu tố nào thúc đẩy tiến trình phát triển văn minh diễn ra? Ông nghĩ rằng có hai yếu tố: Thứ nhất là sự tiến bộ của 'tri thức' (intellectual ability hay 'chi') và 'đạo đức' (virtue hay 'toku') của con người, tới mức mà anh ta có được vật chất đầy đủ trong cuộc sống và có phẩm cách (dignity) như một con người. Thứ hai là sự tiến bộ trong các 'mối quan hệ xã hội loài người (human social relations hay 'jinnkan-kousai’). Hai yếu tố này phối hợp với nhau thúc đẩy xã hội tiến về trạng thái cuối cùng của văn minh. Tại sao lại như thế được? Ông giải thích như sau:

    Trong giai đoạn 'man rợ', con người không có đủ 'tri thức' để hiểu các định luật của thiên nhiên. Và họ không biết cách đối phó với môi trường và kiểm soát nó. Khi họ gặp phải một tai ương tự nhiên hay một điều tốt nào đó, họ có xu hướng cho rằng nguyên nhân phía sau là do Thần (kami) Thiện hoặc Ác tạo ra. Cũng như thế với mối quan hệ xã hội của họ. Trong giai đoạn văn minh này, chắc chắn sẽ xảy ra sự cai trị mang tính đàn áp / đè nén trong xã hội. Nhưng vì con người không đủ 'tri thức' để hiểu lý do và nguồn gốc của sự cai trị mang tính đàn áp đó, do đó họ sẽ sợ hãi sự đàn áp và đè nén, coi chúng giống như những tai ương tự nhiên. Họ không có đủ 'tri thức' để hiểu và phản đối sự đè nén. Mọi thứ được quyết định bởi luật lệ do người cai trị đặt ra. Và người cai trị đặt ra luôn cả các giá trị đạo đức của xã hội. Mọi người buộc phải tuân theo các giá trị đạo đức mang tính ý thức hệ được đặt ra bởi người cai trị.

    Tiến trình văn minh khởi động khi 'tri thức' của con người bắt đầu phát triển trước tiên. Lúc đó, con người sẽ 'nghi ngờ' tất cả mọi thứ xung quanh anh ta. Anh ta muốn biết lý do, hay nguyên nhân, gây ra các tai ương thiên nhiên, và tìm cách tránh chúng. Và như thế anh ta bắt đầu kiểm soát được tự nhiên với 'tri thức' của mình.

    Tiếp theo là gì? Anh ta sẽ bắt đầu nghi ngờ và suy nghĩ về tình hình của chính bản thân mình. Anh ta nghi ngờ những lời giảng dạy của ý thức hệ Khổng Giáo, và vào các câu chuyện về lòng trung thành của Samurai - những thứ đã từng định hướng cho anh ta phải hành xử ra sao. Anh ta bắt đầu suy nghĩ bằng trí óc riêng của mình, rằng mình cần phải trở thành con người ra sao. Và như thế, anh ta 'đã dành được tự do suy nghĩ [hay tự do tinh thần], vậy tại sao không tìm cách dành tự do thân thể'? Nói cách khác, anh ta đã kiểm soát được bản thân mình, và trở nên độc lập. Anh ta TỰ quyết định rằng mình muốn trở thành loại người gì, và mình cần phải làm gì, và làm như thế nào. Các giá trị đạo đức giờ đây được quyết định bởi chính cá nhân, từ trong suy nghĩ của anh ta, chứ không phải bởi mệnh lệnh của người cai trị bên ngoài anh ta. Fukuzawa nghĩ rằng nếu con người dành được quyền tự quyết, và có các giá trị đạo đức riêng của mình, thì con người đó được gọi là 'hiểu đức' (virtuous). Fukuzawa gọi hệ thống giá trị đạo đức do con người tự quyết định đó là 'đạo đức tư' (private virtue), bởi nó liên quan tới chính cá nhân con người đó. Ông nghĩ rằng việc phát triển 'đạo đức tư' là điều quan trọng, bởi khi con người độc lập, anh ta không được dựa vào bất cứ ai, ngoài chính bản thân anh ta, đặc biệt trong việc quyết định xem anh ta nên là con người như thế nào.


    Con người giờ đây không còn bị ràng buộc bởi các giá trị đạo đức cổ hủ nữa. Anh thể làm những việc, mà nếu xét theo các giá trị đạo đức cũ do kẻ cai trị đặt ra, thì bị coi là sai lầm. Ví dụ như phản đối những sai trái của kẻ cầm quyền, điều mà trước đây bị coi là bất Trung.

    Khi con người đã độc lập và dành quyền tự quyết, thì anh ta bắt đầu nghĩ về mối quan hệ xã hội của mình. Bây giờ anh ta đã có thể dùng 'tri thức' của mình và biết mình muốn trở thành con người thế nào. Do vậy, anh ta suy nghĩ và quyết định bằng lập luận riêng của mình, rằng anh ta phải làm gì, và ứng xử như thế nào với những người khác. Anh biết cái gì là sai và cái gì là đúng khi đối xử với người khác [vì sao anh ta biết chắc cái gì đúng, cái gì sai? Là vì anh bây giờ đã có 'tri thức']. Và như thế, anh ta trở nên 'hiểu đức' (virtuous) trong quan hệ xã hội. Fukuzawa gọi loại đạo đức này là 'đạo đức công' (public virtue). Nếu con người trở nên 'hiền đức' và hành xử theo 'tri thức', thì mối quan hệ xã hội xung quanh anh ta sẽ phát triển. Đó là yếu tố thứ hai của sự phát triển của nền văn minh.

    Khi con người ngày càng có 'tri thức' và trở nên đủ năng lực quyết định các giá trị đạo đức của riêng mình - không phải qua ý thức hệ áp đặt bên ngoài, mà từ suy luận bên trong, thì anh ta sẽ càng hành xử 'hiểu đức' với người bên ngoài. Tiến trình này sẽ làm các mối quan hệ xã hội xung quanh con người tiến bộ.

    Fukuzawa tưởng tượng rằng các mối quan hệ xã hội của con người có thể được vẽ như những vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn đầu tiên của quan hệ xã hội là gia đình, và nó phải được cải thiện trước hết. Kế tiếp là vòng trong chỉ mối quan hệ trong một quốc gia. Con người trải qua tiến trình này từng bước một, và văn minh phát triển cho tới khi nó đặt tới trạng thái cao nhất của nền văn minh, khi mà ai ai cũng thông thái như Newton và hiểu đức như Khổng Tử. Cả thế giới sẽ sống trong hòa bình và cùng tồn tại như một gia đình. Sẽ không còn có tranh chấp và cướp giật, và con người không còn cần phải khóa cửa và viết ra những văn bản hợp đồng để làm bằng chứng với nhau. Fukuzawa gọi đó là 'thế giới hòa bình của văn minh' (the peaceful world of civilization - 'bunmei-no-taihei’). Nhưng ông biết thế giới đó chỉ có thể thành hiện thực vài ngằn năm nữa trong tương lai.

    Khung tư tưởng Khổng Tử về văn minh và xã hội

    Như tôi đã đề cập trước đây, Fukuzawa đọc rất nhiều sách phương Tây và học lý thuyết về lịch sử của nền văn minh từ đó. Chúng ta có thể thấy sự ảnh hưởng của các cuốn sách này trong lập luận của ông về tiến trình lịch sử của nền văn minh. Chúng ta cũng biết rằng ông đã nỗ lực rất nhiều để hiện đại hóa Nhật Bản. Và thế là chúng ta có xu hướng cho rằng Fukuzawa cố gắng bắt chước văn minh phương Tây mà bỏ qua các tư tưởng cũ. Nhưng, nếu chúng ta đọc lập luận của ông một cách cẩn thận, chúng ta sẽ thấy ông không chỉ hấp thụ tư tưởng của các học giả phương Tây, mà còn cố gắng điều chỉnh nó theo khung tư tưởng riêng của mình về con người và xã hội. Ông học sách Hán cổ khi ông còn trẻ và đặc biệt thích thú với các cuốn sách cổ về lịch sử. Ông đọc chúng nhiều lần và nắm rất vững chúng. Mặc dù ông tấn công ý thức hệ Khổng Giáo của hệ thống phong kiến Tokugawa trong các bài viết của mình, nhưng đó chỉ là [tấn công vào] chức năng ý thức hệ của Khổng giáo. Khung tư tưởng cơ bản của ông vẫn là Khổng Giáo. Ông hiểu lý thuyết của phương Tây về lịch sử phát triển văn minh thông qua khung tư tưởng Khổng Giáo, và cho rằng chúng tương thích và phù hợp với nhau.

    Điều này có thể được nhận thấy dễ dàng khi chúng ta quan sát tư tưởng của Fukuzawa về 'con người'. Chúng ta thấy rằng Fukuzawa khẳng định rằng con người phải có tinh thần độc lập và tự quyết để phát triển nền văn minh. Điều này có nghĩa là con người phải phát triển được 'tri thức' và 'đạo đức' của mình và trở thành độc lập. Chúng ta có thể tìm thấy tư tưởng tương tự về con người và xã hội trong các sách vở phương Tây. Tuy nhiên, ông đã luôn gọi con người là 'linh ư vạn vật' (tinh khôn hơn vạn vật - 'banbutsu-no-rei'), vốn là ý tưởng của Khổng Giáo về con người. Trong triết lý Khổng giáo Hiện Đại, con người có bản chất chân thật (tính bản thiện?), và nó sẽ bộc lộ ra khi con người luyện tập để trở thành một người "hiểu đức". Fukuzawa cũng nghĩ rằng con người mang 'trái tim nhân hậu' trong lòng, và nó sẽ chỉ nổi lên bề mặt thông qua con đường duy nhất là nỗ lực phát triển 'trí tuệ' và 'đạo đức' của con người. (Đây là nền tảng tư tưởng của cuốn sách nổi tiếng mang tên "Khuyến học" của ông).

    Mục tiêu của Fukuzawa không phải là trở thành 'tốt' và 'đạo đức' theo tư tưởng Khổng Giáo, mà là trở thành một con người 'độc lập và tự trọng' (dokuritsu-jison). Tư tưởng này dường như trùng khít với tư tưởng con người độc lập của phương Tây. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy một đoạn tương tự nằm trong sách vở Khổng Giáo trong thời Tokugawa. Vì thế, có lẽ đó không phải là ý tưởng do Fukuzawa nghĩ ra, mà có lẽ ông thừa hưởng từ những tư tưởng tương tự của các học giả Khổng Giáo thời Tokugawa. Fukuzawa trông đợi những người thuộc tầng lớp samurai trở thành hàng ngũ tiên phong dẫn dắt quá trình văn minh hóa ở Nhật Bản, và ông tin rằng họ có khả năng đảm nhận trọng trách này.


    "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" là nét tương đồng giữa tư tưởng Fukuzawa và Khổng Tử

    Fukuzawa cũng viết rằng nếu con người trở nên có 'tri thức' và 'hiểu đức', nghĩa là 'linh ư vạn vật', thì các mối quan hệ xung quanh anh ta sẽ được cải thiện. Ông nghĩ rằng quá trình cải thiện sẽ đi từ vòng tròn bên trong ra vòng tròn bên ngoài bao quanh mỗi cá nhân. Và như thế, từ gia đình tới quốc gia, và cuối cùng là ra toàn thế giới. Ông viết rất nhiều lần rằng chỉ 'sau khi con người trở nên độc lập, gia đình anh ta sẽ trở nên độc lập, và sau đó quốc gia của anh ta sẽ trở nên độc lập, và cả thế giới sẽ trở nên độc lập'. Đoạn văn nổi tiếng này của Fukuzawa tới từ các sách vở Tân Khổng Giáo (Neo-Confucian).

    Chủ đề chính của triết lý Khổng Giáo là làm sao để trở thành người có đạo đức và cai trị đất nước bằng đạo đức. Con đường để thực hiện điều này trong Tân Khổng Giáo như sau: Đầu tiên, con người phải hiểu biết đạo lý (ri) của trời đất (kakubusu-chichi). Sau đó anh ta phải nỗ lực theo đạo lý từ trái tim mình và theo đó mà hành động (seii-seishin). Bằng cách làm như thế, anh ta sẽ tu thân thành công và trở thành con người có đạo đức (shushin). Quá trình chuyển biến con người thành ra có đạo đức là đặc biệt quan trọng trong triết lý Tân Khổng Giáo. Và sau đó anh ta mới tề gia (seika), và trị quốc (chikoku) và cuối cùng là đem đến hòa bình cho cả thế giới (heitenka).

    Chúng ta có thể hiểu cách giải thích của Fukuzawa tốt hơn nếu chúng ta sử dụng khung tư tưởng này. Trong hệ tư tưởng Tân Không Giáo, đạo lý của trời đất mà con người cần biết có nghĩa là lý thuyết 'âm dương', lý thuyết cổ điển của Trung Quốc về đạo lý trời đất. Nhưng Fukuzawa đã thay đổi 'đạo lý trời đất' này bằng 'đạo lý khoa học hiện đại'. Ý tưởng của ông về "tri thức" có nghĩa là con người biết suy nghĩ một cách duy lý; và ông khẳng định rằng con người phải duy lý để hiểu biết và chế ngự thiên nhiên. Và rồi trong khái niệm Khổng Giáo, con người phải cố gắng hành động dựa trên lý thuyết 'âm dương'. Fukuzawa thay đổi lý thuyết này thành con người phải cố gắng hành động theo trí óc riêng của mình và trở thành 'hiểu đạo'. Như thế anh ta sẽ độc lập và tự kiểm soát được mình (tu thân) (isshin-dokuritsu). Sau đó, mối quan hệ xã hội của anh ta sẽ phát triển và gia đình cùng tổ quốc của anh ta sẽ lần lượt độc lập (ikka-dokuritsu, ikkoku-dokuritsu). Như thế, ý tưởng của Fukuzawa về lịch sử văn minh có cấu trúc giống như tư tưởng Tân Khổng Giáo về con người và thế giới. Có lẽ Fukuzawa đã đọc và hiểu các cuốn sách phương Tây về lịch sử văn minh qua khung tư tưởng Tân Khổng Giáo để cảm nhận về thế giới, và sau đó hiện đại hóa khung tư tưởng này để bao hàm cả tri thức về khoa học tự nhiên hiện đại.

    Fukuzawa lập luận rằng khi lịch sử văn minh phát triển đến mức nào đó, nó sẽ đạt tới mức cảnh giới cao nhất của nền văn minh, nghĩa là 'một thế giới hòa bình và văn minh'. Ý tưởng rằng lịch sử có một điểm tận chắc chắn vay mượn từ sách vở phương Tây. nhưng khi ta đọc giải thích của ông về 'thế giới hòa bình', chúng ta có thể thấy nó giống như mô tả về 'thế giới đại đồng' (daido-no-yo)’ trong các sách vở cổ điển Trung Hoa. Trong tư tưởng Khổng Giáo, thế giới lý tưởng này là điểm bắt đầu của lịch sử. Nhưng Fukuzawa đã đặt nó ở cuối chặng đường lịch sử, theo như quan điểm của phương Tây, nhưng duy trì mô tả 'cổ điển' về thế giới lý tưởng này.

    .. Fukuzawa nghĩ rằng sao chép cái vỏ ngoài của văn minh phương Tây là điều tương đối dễ dàng. Nhưng ông hiểu rằng bản chất của văn minh phương Tây là sự độc lập trong tâm hồn của người dân, điều mà ông cho rằng người phương Tây đã có, và khó tạo ra ở Nhật Bản. Tuy nhiên, vẫn có cách để làm được...

    3. Quan hệ gia đình trong lịch sử văn minh

    Quan hệ nam - nữ

    Trong những giải thích tư tưởng Fukuzawa về lịch sử văn minh, tôi đã chỉ ra rằng, ông đề cập tới tất cả các mối quan hệ xã hội, bao gồm cả quan hệ gia đình, bằng từ 'công'; và chỉ dùng 'tư' để chỉ chính bản thân con người . Đồng thời, lập luận của ông về quan hệ xã hội bắt đầu từ quan hệ gia đình. Một lần nữa, ông mô tả 'thế giới hòa bình và văn minh' như một gia đình. Như vậy, 'gia đình' là mối quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng trong xã hội theo tư tưởng của Fukuzawa. Đây là đặc trưng của tư tưởng Fukuzawa, và nó khác biệt rất xa so với lý thuyết xã hội của phương Tây.

    Trong tư tưởng Fukuzawa về xã hội, gia đình là quả cầu đầu tiên bị ảnh hưởng bởi sự tiến bộ trong các mối quan hệ xã hội trong lịch sử văn minh. Ông nghĩ rằng mối quan hệ giữa nam và nữ là cơ bản và quan trọng nhất bởi vì tất cả các mối quan hệ đạo đức giữa người và người bắt đầu từ đây. Ông giải thích mối quan hệ nam - nữ cũng sẽ thay đổi theo sự phát triển của văn minh, nghĩa là thay đổi theo sự phát triển 'tri thức' và 'hiểu đức' của con người.

    Tại thời kỳ 'man rợ', khi mà đàn ông (và đương nhiên cả đàn bà) không có 'tri thức' và 'hiểu đức', nam và nữ luôn quan hệ theo bản năng tự nhiên. Fukuzawa lập luận rằng cảm giác 'tình yêu' tại thời điểm này chỉ là nhu cầu tình dục bản năng như ở động vật. Họ cảm nhận tình yêu bởi vì cơ thể của họ khác biệt. Do đó, mối quan hệ của họ chủ yếu mang tính cơ thể. Ông gọi đó là 'quan hệ liên lạc bằng cơ thể' (physically communicated relation - 'niku-kou').

    Khi lịch sử tiến lên, con người tiếp thu 'tri thức' và 'hiểu đức', và trở thành độc lập. Fukuzawa nghĩ rằng đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển này, xét theo mối quan hệ xã hội, là khả năng sử dụng ngôn ngữ dựa vào lý trí. Và như thế, sự phát triển của 'tri thức' là chìa khóa quyết định dẫn tới việc tình hình thay đổi. Đàn ông và đàn bà liên lạc với nhau bằng ngôn ngữ, không phải bằng các hành vi cơ thể trực tiếp. Bằng cách sử dụng ngôn ngữ, họ tiến tới hiểu nhau hơn, cảm nhận được tâm hồn của người kia. Do đó, Fukuzawa gọi loại quan hệ này là 'quan hệ liên lạc bằng tâm hồn' (relation communicated by feeling - 'jou-kou’).

    Và như thế, họ yêu nhau bằng trái tim. Cảm nhận được tâm hồn của nhau là điều quan trọng, bởi lẽ nó có nghĩa là hai bên hiểu phía trong [nội tâm] của nhau. Như tôi đã đề cập trong phần sự độc lập của con người, Fukuzawa nghĩ rằng mối quan hệ của con người với bên ngoài phải tới từ bên trong, chứ không phải bị ép buộc từ bên ngoài. Do vậy mối quan hệ lý tưởng giữa người và người phải bắt nguồn từ trái tim tới trái tim.

    Một khi người ta đã có thể hiểu nhau, thì người đàn ông sẽ bắt đầu nghĩ về người đàn bà như 'linh ư vạn vật' (tinh khôn hơn vạn vật), giống anh ta (và ngược lại). Anh ta hiểu rằng cô ta cũng độc lập giống như mình. Và cách để tỏ 'tình yêu' là 'tôn trọng' cô ta và đối xử nhẹ nhàng và tử tế với cô ta (tương tự, phụ nữ cũng sẽ tôn trọng người yêu của mình). Khi đó, hành vi của họ trở nên đạo đức và họ cuối cùng đã có 'tình yêu và sự tôn trọng' (kei-ai) song phương.

    'Tôn trọng' (kei) là tư tưởng rất cơ bản và quan trọng để trở thành người có đức trong triết lý Khổng Giáo. Và như thế chúng ta cũng thấy sự ảnh hưởng của Khổng Giáo tới tư tưởng Fukuzawa ở đây, trong mối quan hệ giữa nam và nữ.

    Fukuzawaw cho rằng, ngay cả khi nam và nữ đã hiểu và yêu nhau sâu sắc, họ vẫn là hai thực thể tách biệt. Mối quan hệ của họ không giống như 'nửa kia' (the better half) của phương Tây. Họ không thể hành động giống hệt nhau được. Do đó ông nhấn mạnh sự quan trọng của cái ”jo” giữa người đàn ông và người đàn bà, nghĩa là ”đừng làm cho người khác điều mà bạn không muốn người ta làm với mình”. Điều này giống như những tư tưởng tự do của Phương Tây. Nhưng ông đã nói mình tìm thấy tư tưởng nói trên trong Khổng Giáo, và không cần phải lấy tư tưởng mới từ phương Tây.

    Fukuzawa nghĩ rằng người đàn bà cũng là “linh ư vạn vật” chẳng thua kém người đàn ông, miễn là chị ta có ”tri thức” và ”hiểu đức”. Sự khác biệt duy nhất giữa họ là bộ phận sinh dục. Ngoài cái đó, họ hoàn toàn giống nhau, và không có sự khác biệt hay đánh giá khác biệt nào trong hoạt động xã hội của họ. Và như thế, gần 100 năm trước khi chủ nghĩa nam nữ bình quyền nói về ”giống” thay vì ”giới tính” vào những năm 1970, Fukuzawa đã tranh luận về cùng một cách phân chia dựa trên tư tưởng Khổng Giáo ”linh ư vạn vật”. Ông thậm chí còn đề cập tới khả năng có ”tình yêu tự do” trong ”thế giới văn minh hòa bình”. Nếu người đàn ông và người đàn bà phát triển trình độ nhận thức cùng với sự phát triển của nền văn minh, thì quan hệ của họ trong thế giới mới sẽ phụ thuộc thuần túy vào ý chí tự do và trái tim của họ. Họ sẽ thiết lập các mối quan hệ thuần túy dựa trên ”tình yêu”. Họ có quyền tự do gắn bó hay từ bỏ các mối quan hệ. Nhưng sau khi đề cập tới các tư tưởng này, Fukuzawa nhắc nhở bạn đọc rằng bây giờ chưa phải là lúc có thể làm như thế. Mối quan hệ lâu bền một vợ một chồng vẫn là lựa chọn tốt nhất tại thời điểm hiện tại của nền văn minh, ông nói.

    Quan hệ bố mẹ và con cái

    Chúng ta sẽ nói đến mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái. Mối quan hệ này khác với mối quan hệ nam nữ, bởi những đứa trẻ không có đủ nhận thức như bố mẹ để được coi là “linh ư vạn vật”, vì khả năng “trí tuệ” của chúng vẫn còn non nớt, bất chấp trình độ văn minh của xã hội tới đâu. Dù sao, mối quan hệ này vẫn thay đổi khi lịch sử tiến bộ. Tại giai đoạn lịch sử man dã, tình yêu cha mẹ dành cho con giống như tình yêu của thú vật dành cho con non. Nhưng dần dần tình yêu này thay đổi với trình độ văn minh xã hội. Cha mẹ bắt đầu nghĩ về sự hạnh phúc của con cái và cố gắng giúp con mình trở thành một “linh ư vạn vật” (cha mẹ nào đạt được cảnh giới này được coi là “hiểu đức” đối với con cái mình). Đứa trẻ luôn luôn còn non nớt, do đó tồn tại sự “bất cân bằng quyền lực” giữa bố mẹ và con cái. Nhưng khi còn sự mất cân bằng này, thì người có quyền lực phải luôn luôn tâm niệm rằng, quyền lực lớn hơn đó phải được dùng để nâng đỡ người yếu thế hơn, chứ không phải để đàn áp họ.

    Tư tưởng này ngược lại với chữ Trung chữ Hiếu của ý thức hệ Khổng Giáo dưới thời Tokugawa, cái cho phép người có quyền lực lớn hơn đè nén kẻ kém thế. Fukuzawa căm ghét tất cả các hình thức đè nén. Đó là lý do tại sao ông đã tấn công ý thức hệ Khổng Giáo thời Tokugawa một cách mạnh mẽ. Ý thức hệ Khổng Giáo yêu cầu phải có “trật tự” trong mọi mối quan hệ xã hội (giữa vua chúa và dân thường, giữa bố mẹ và con cái, giữa chồng và vợ v.v…) và người dưới phải luôn luôn phục vụ người trên. Fukuzawa phản đối mạnh mẽ tư tưởng này và mong muốn người có quyền lực trở nên “hiểu đức” và sử dụng quyền lực mình có để giúp đỡ kẻ yếu. Ông coi kẻ yếu là ‘người già, trẻ sơ sinh, những người yếu đuối và nhỏ bé’. Vai trò quan trọng nhất của cha mẹ là giáo dục con em mình thành “linh ư vạn vật”. Đối với Fukuzawa, vai trò giáo dục của người lớn chính là một nhiệm vụ xã hội của con người. Ông luôn nhấn mạnh vào ảnh hưởng của hành vi của cha mẹ tới con cái, và nhấn mạnh rằng cha mẹ phải hành xử một cách đạo đức để tạo gương sáng cho các con. Đó là mối quan hệ xã hội lý tưởng dựa trên sự phát triển của văn minh. Ông cho rằng mối quan hệ gia đình như thế đã tồn tại vào thời gian đó ở Nhật Bản, trong một số gia đình ở tầng lớp samurai. Ông lấy đó làm ví dụ cho mối quan hệ lý tưởng trong lập luận của mình về các giai đoạn của văn minh.

    4. Ý nghĩa của “Văn minh luận chi khái lược”

    Mặc dù Fukuzawa viết “Văn minh luận chi khái lược” một cách tương đối lạc quan như đã nói ở trên, ông biết rõ rằng tình hình ở Nhật Bản khi đó không nhiều hy vọng. Khi bắt đầu chương cuối của cuốn sách, ông đã viết “nếu bạn so sánh văn minh phương Tây và Nhật Bản, bạn phải nói là Nhật Bản còn ở sau phương Tây rất xa. Nếu còn khoảng cách như thế, thì tự nhiên là kẻ mạnh sẽ chinh phục và xâm chiếm kẻ yếu. Và vì thế chúng ta phải thường xuyên cảnh giác và giữ gìn nền độc lập của chúng ta.”

    Ông phân tích tình hình như sau: Người Nhật Bản đang trong tâm trạng vô lo bởi vì họ đã thành công với việc khôi phục Minh Trị và các cải cách chính trị sau đó đã tiến triển tốt. Nhưng ông cảnh báo, bây giờ không phải lúc nghỉ ngơi sau khi đã thành công thay đổi thể chế chính trị. Nhật Bản còn có một vấn đề khác. Đó là mối quan hệ với ngoại quốc. Họ đang hút máu người Nhật bằng con đường thương mại. Họ cũng đang hành xử cưỡng ép người Nhật, mặc dù họ chấp nhận rằng Nhật Bản có quyền lợi ngang với họ. Hãy nhìn Ấn Độ. Hãy nhìn Trung Quốc. Như thế, điều quan trọng nhất của Nhật Bản trong tình hình hiện tại là duy trì độc lập. Độc lập không chỉ có nghĩa là lãnh thổ của quốc gia tồn tại, mà chính người dân phải bảo vệ quốc gia mình và giữ vững quyền lợi và phẩm giá của mình. Và ông kêu gọi mọi người đứng dậy để giữ gìn độc lập của Nhật Bản.

    Mặc dù ông đã tưởng tượng ra một “thế giới đại đồng”, nhưng bây giờ không phải là lúc nó thành hiện thực. Khi tất cả các quốc gia đang đấu tranh để chiếm phần của mình trên thế giới, Nhật Bản cũng phải trở nên dũng mãnh để tranh chấp với họ, hoặc chí ít là bảo vệ bản than mình. Ông biết rõ rằng chủ nghĩa dân tộc đó hơi hạn hẹp và thiên kiến so với tầm nhìn “thế giới đại đồng”, nhưng đó là điều cần phải làm tại thời điểm đó. Và như thế, trong đoạn cuối của cuốn sách “Văn minh luận khi khái lược”, ông viết “Bây giờ, mục tiêu của chúng ta là giữ gìn độc lập của dân tộc, và sự văn minh mà chúng ta hướng tới chính là biện pháp để giữ gìn độc lập”. Trong chương cuối, ông đã lôi kéo sự chú ý của độc giả nhiều lần vào thực tế rằng ông đang nói đến “tình hình hiện tại”, và bình luận rằng ông sử dụng từ “hiện thời” hoặc “hiện giờ” là để nói riêng về các vấn đề của Nhật Bản lúc đó. Ông đã cảnh cáo độc giả chớ nhầm lẫn giữa tình hình hiện tại và lý thuyết phát triển chung của văn minh.

    Như thế, trong cuốn “Văn minh luận chi khái lược”, Fukuzawa viết về lý thuyết chung sự phát triển của văn minh như một con đường lý tưởng để đạt mục đích, và ở chương cuối, ông phân tích tình hình thực tế của Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông không phải là người chỉ nghĩ về các lý thuyết thuần túy, hoặc chỉ nghĩ về chính trị thực tế. Ông luôn đánh giá tình hình thực tại và các lý thuyết về một thế giới hoàn hảo. Ông nhấn mạnh mục đích của mình khi viết cuốn sách này trong 2 chương đầu. Ông nhấn mạnh vào sự quan trọng khi quyết định mục đích của tranh luận, và ông nói mục đích của của mình khi viết cuốn sách này là để đuổi kịp văn minh Phương Tây. Do đó ông đề cập tới lý thuyết chung trước, và sau đó quyết định rằng người Nhật cần phải nhắm tới văn minh Phương Tây để đảm bảo độc lập của Nhật Bản lúc bấy giờ.

    Bằng cách duy trì hai cách nghĩ riêng biệt: thực tế và lý thuyết, ông đã chỉ cho người Nhật hai điểm quan trọng. Thứ nhất, tồn tại khoảng cách giữa nền văn minh Nhật Bản và Phương Tây. Thứ hai, Nhật Bản có thể đuổi kịp, bởi vì khoảng cách đó không quá xa nếu xét theo lịch sử lâu dài của nền văn minh. Nếu ông không nghĩ rằng nền văn minh lý tưởng còn nằm rất xa tầm với của các nước phương Tây, người ta sẽ có cảm giác Nhật Bản khó mà đuổi kịp phương Tây. Lịch sử lâu dài của nền văn minh đặt văn minh phương Tây vào một vị trí tương đối, và làm cho người Nhật nghĩ rằng khoảng cách giữa Nhật Bản và phương Tây tương đối nhỏ, nếu xét cả lịch sử văn minh lâu dài. Tranh luận của Fukuzawa đã vừa cảnh báo người Nhật, vừa cổ vũ họ theo đuổi văn minh phương Tây. Nhưng người Nhật cần làm gì để đuổi kịp phương Tây?

    Fukuzawa nghĩ rằng sao chép cái vỏ ngoài của văn minh phương Tây là điều tương đối dễ dàng. Nhưng ông hiểu rằng bản chất của văn minh phương Tây là sự độc lập trong tâm hồn của người dân, điều mà ông cho rằng người phương Tây đã có, và khó tạo ra ở Nhật Bản. Tuy nhiên, vẫn có cách để làm được. Sẽ khó có thể tạo ra từ con số không, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu bạn sử dụng cái gì đó đã có ở Nhật, và biến đổi nó? Fukuzawa cho rằng điều này có thể làm được. Trong cuối cuốn “Văn minh luận chi khái lược”, ông viết: “các mối quan hệ đạo đức trong hệ thống phong kiến của Tokugawa có thể được dùng như những “biện pháp thiết thực” để thay đổi con người theo hướng văn minh, miễn là bạn hiểu mục tiêu ‘độc lập dân tộc’ một cách đúng đắn”. Như thế, mục tiêu chính của Fukuzawa là giữ gìn độc lập và ông rất mềm dẻo để đạt mục tiêu này. Như tôi đã đề cập ở trên, ông trông đợi tầng lớp samurai sẽ trở thành những người có suy nghĩ độc lập và gia đình samurai sẽ là hình mẫu gia đình văn minh. Ông coi người thuộc tầng lớp samurai như ứng cử viên cho các vị trí lãnh đạo trong tiến trình văn minh hóa của Nhật Bản, giống như tầng lớp trung lưu ở Anh Quốc.

    5. Những nguyên tắc khác nhau trong gia đình và dân tộc

    Trong phân tích của mình về lịch sử văn minh, Fukuzawa đã cho chúng ta thấy mối quan hệ giữa con người và con người được cải thiện từ những mối quan hệ gần gũi nhất. Điều này có nghĩa là văn minh tiến từ quan hệ gia đình ra xã hội, ra dân tộc và ra toàn thế giới. Con người là trung tâm của những vòng tròn đồng tâm các mối quan hệ và quan hệ xã hội của anh ta bắt đầu từ vòng tròn gia đình – vòng tròn gần gũi nhất quanh anh ta. Mặc dù chúng ta đặt những ranh giới giữa các vòng tròn này, nhưng chúng không cố định. Biên giới sẽ bị mờ dần và biến mất khi lịch sử văn minh tiến bước, bởi các mối quan hệ xã hội xung quanh con người sẽ tiến bộ dần từ trong ra ngoài, từ biên giới của gia đình và quốc gia mà chúng ta thiết lập để phân chia chúng. Ông nghĩ rằng văn minh Nhật Bản lúc đó đã tiến bộ tới mức con người đã có những mối quan hệ lý tưởng trong gia đình. Và lúc này là lúc phải tập trung vào sự độc lập của quốc gia.

    Fukuzawa nghĩ rằng có nhiều loại quan hệ xã hội dựa trên các nguyên tắc khác nhau trên các vòng tròn khác nhau trong xã hội lúc bấy giờ. Ông giải thích rằng quan hệ gia đình dựa trên mối “liên kết tình cảm” và “đạo đức”. Nhưng trong lúc đó, các mối liên hệ trong xã hội phương Tây lại dựa trên các quy định, hợp đồng, luật lệ và các hiệp ước quốc tế. Tất cả những thứ đó là phương tiện nhằm ngăn cản các hành vi xấu. Không có tí gì là tinh thần đạo đức trong đó. Ông chỉ trích một xã hội như thế nhưng thấy cần phải theo đuổi họ để bắt kịp. Và thế là ông bắt đầu dẫn dắt Nhật Bản đuổi kịp xã hội phương Tây bằng cách hiện đại hóa Nhật Bản. Thường thì gia đình không được tính đến trong “quan hệ xã hội” ở phương Tây, nhưng Fukuzawa đã đưa nó vào và coi mối quan hệ này dựa trên nguyên tắc khác với các quan hệ xã hội phương Tây.

    Chúng ta biết từ các nghiên cứu lịch sử rằng mối quan hệ gia đình thực dưới thời Tokugawa không đến nỗi đè nén như người ta tưởng, xét theo lời dăn dạy của Khổng Tử. Chúng ta có thể thấy rất nhiều ví dụ về mối quan hệ than mật và quan tâm trong các gia đình, nếu chúng ta đọc các nhật ký, thư từ và các ghi chép thời đó. Phụ nữ tương đối độc lập và họ có thể đi lại tự do một mình (Tình trạng này khác xa so với Trung Quốc, rất nhiều người Trung Quốc đã phát hiện ra sự khác biệt này và kể lại trong các ghi chép của họ ngay sau khi Minh Trị được khôi phục). Đàn ông và đàn bà có vai trò khác nhau, nhưng họ tôn trọng vai trò của nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Vợ có quyền lực lớn hơn trong việc quản lý gia đình và họ có thể dời nhà chồng khi họ muốn ly dị. Các ông bố để ý tới con cái nhiều hơn so với ngày hôm nay (Tất nhiên, đó là một phần giáo dục để con nối nghiệp cha). Một số ông bố thậm chí còn đem con đến chỗ làm khi mẹ bị ốm. Có lẽ Fukuzawa đã viết tiểu luận của mình trong bối cảnh quan hệ gia đình đó. Ông nghĩ rằng người Nhật có thể giữ nguyên mối quan hệ gia đình thời đó và tập trung vào việc thay đổi trong lĩnh vực xã hội.

    6. Các vấn đề của quan hệ nam nữ trong khung cảnh hiện đại hóa

    Như chúng ta đã thấy, Fukuzawa nghĩ rằng độc lập của quốc gia là điều tối quan trọng ở Nhật lúc đó. Do vậy ông cống hiến sức lực của mình để hiện đại hóa dân tộc Nhật Bản. Về quan hệ gia đình, ông cho rằng để nguyên trạng cũng được. Đó là cách nhìn của ông khi ông viết “Văn minh luận chi khái lược” vào năm 1875. Nhưng tình hình thực tế đã không diễn ra như ông trông đợi. Năm 1880 chính quyền Minh Trị đã thay đổi chính sách sang hướng bảo thủ và cố gắng đưa tư tưởng Khổng Giáo trở lại vị trí ý thức hệ cơ bản trong các chính sách của họ. Và Fukuzawa đã buộc phải chống lại ý tưởng đó, và viết nhiều bài phản đối mạnh mẽ sự khôi phục của Khổng Giáo. Đấy là một việc khá khó khăn và "nhạy cảm" đối với ông, bởi vì chiến lược của ông để làm Nhật Bản văn minh là sử dụng mọi yếu tố dưới thời Tokugawa làm phương tiện trung gian để đạt tới văn minh. Việc ông làm (hay cổ vũ) rất dễ bị lầm tưởng là ủng hộ tư tưởng Khổng Giáo một cách bảo thủ. Do đó ông phải tấn công tư tưởng Khổng Giáo một cách toàn diện và mạnh mẽ hơn. Khi chúng ta đọc bài viết của ông ở thời điểm này, chúng ta phải cẩn trọng và nhìn nhận chúng trong khung cảnh chính trị lúc đó.

    Điều này cũng đúng về các bài viết của Fukuzawa về gia đình và phụ nữ. Ông viết chúng chủ yếu vào những năm 1885 tới 1888, khi người ta đang xét lại các hiệp ước bất bình đẳng giữa Phương Tây và Nhật Bản, và vào năm 1899 - ngay sau khi luật Dân sự của Nhật được ban hành. Những bài viết này được viết chủ yếu để tranh luận về vấn đề ’hiện tại’ của mối quan hệ nam – nữ trong bối cảnh hiện đại hóa, với sự tấn công dữ dội vào tư tưởng Khổng Giáo. Vậy lúc đó người đàn ông Nhật có vấn đề gì vậy?

    Đó là lối ứng xử vô đạo đức của đàn ông Nhật. Fukuzawa cho rằng đàn ông Nhật bắt đầu đối xử vô đạo đức với phụ nữ sau khi Minh Trị được khôi phục. Họ giống như “những con ngựa được thả rông không hàm thiếc trên đồng cỏ”. Dưới thời Tokugawa, tình hình có khác. Mặc dù đàn ông được quyền có thê thiếp, họ vẫn phải tuân thủ các quy định chặt chẽ. Nhưng Fukuzawa nói rằng mọi thứ đã thay đổi: “bây giờ đàn ông hành xử vô đạo đức mà không có gì ngăn cản cả. Đàn ông từ chối lắng nghe các ý kiến của cha mẹ về hôn nhân, và thậm chí bỏ rơi những người vợ của mình để cưới người khác”. Đặc biệt là ứng xử của các vị lãnh đạo càng tồi tệ. Họ mua dâm mà không phải chần chừ suy nghĩ. Một số còn cưới cả gái mại dâm. Đó không phải là cách ứng xử của những người văn minh. Ông thậm chí cho rằng đạo đức Khổng giáo được thiết lập bởi chính quyền Tokugawa còn là điều tốt để duy trì cách ứng xử đạo đức của đàn ông Nhật.

    Fukuzawa lo lắng về tình hình bởi vì nó có thể ảnh hưởng tới việc xét lại các hiệp ước. Chế độ hôn nhân ở phương Tây là một vợ một chồng. Người phương Tây sẽ nghĩ gì về Nhật Bản nếu họ biết tình hình? Họ sẽ không coi Nhật Bản là một quốc gia văn minh không, điều này có nghĩa là việc đàm phán các hiệp ước kia sẽ không thành công. Fukuzawa mong đợi đàn ông Nhật ứng xử có đạo đức, hoặc chí ít là che dấu những hành vi vô đạo đức của mình. Ông biết rằng ngay cả ở các quốc gia phương Tây, người ta cũng không phải lúc nào cũng ứng xử đạo đức, nhưng họ đã cố gắng để dấu những hành vi xấu của mình. Vì thế ông khuyên người Nhật nên làm giống như những người phương Tây. Nó có thể không phải là một cách hay, nhưng đó là con đường thiết thực để trở thành một thành viên của các quốc gia văn minh.

    Fukuzaw nghĩ rằng người phụ nữ Nhật lúc đó đã đủ đạo đức, ngay cả khi xét theo tiêu chuẩn văn minh phương Tây. Vấn đề là họ thiếu các quyền chính trị và xã hội, cũng như trách nhiệm nếu so với phụ nữ phương Tây. Ông cổ vũ phụ nữ phải được giáo dục một cách bình đẳng như đàn ông ngay từ đầu, và họ phải có quyền sở hữu tài sản riêng. Ông nghĩ rằng phụ nữ có thể mang các trọng trách nếu họ có các quyền nói trên và thực hiện quyền đó. Fukuzawa đề cập tới việc phụ nữ phương Tây nhận nhiều công việc ở mọi lĩnh vực, nhưng còn quá sớm để người phụ nữ Nhật bản có thể bắt chước như thế. Phụ nữ Nhật cần phải được thay đổi từ từ. Trong bài viết của mình, ông mong muốn đưa địa vị xã hội của người phụ nữ Nhật lên ngang tầm của người phụ nữ phương Tây. Ông trông đợi người phụ nữ Nhật đón nhận vai trò quản lý gia đình như trước đây, trong lúc chờ đợi hiện đại hóa.

    Năm 1894 Nhật Bản đánh bại Trung Quốc trong cuộc chiến Trung Nhật. Fukuzawa rất vui mừng và có lẽ cảm thấy nhẹ nhõm khi nghe tin chiến thắng. Đó là chiến thắng của nền văn minh Nhật, bởi Trung Quốc đã từng là một nền văn minh vĩ đại, nhưng sau đó bị thuộc địa hóa quá nửa bởi các quốc gia phương Tây. Fukuzawa viết các tác phẩm lớn cuối cùng của mình về gia đình và phụ nữ vào năm 1899. Nhật Bản đã thành công trong việc xét lại các hiệp ước bất bình đẳng với phương Tây lúc đó, và đã công bố Luật Dân Sự vào năm trước. Đối với Fukuzawa, việc ban hành Bộ Luật Dân Sự là một “thay đổi to lớn” và “sự cách mạng trong não trạng của người dân”. Tờ báo mà ông làm chủ bút đã in các bài viết về Luật Dân Sự, và giải thích nó với độc giả. Ông có thể nghĩ rằng sự bình đẳng nam nữ đã có chỗ đứng vững chắc trong bộ luật này. Fukuzawa chấp nhận nó như một sự phát triển của văn mình. Đã đến lúc phải dựa trên pháp luật, chứ không phải là đạo đức do các nhà cai trị lập ra, để thiết lập các mối quan hệ giữa người với người như ở các nước phương Tây. Đó là cách hiểu của ông. Ông vui mừng vì Nhật Bản đã vươn tới trạng thái văn minh giống như các quốc gia phương Tây, trong đó luật pháp là nền tảng, tại thời điểm cuối cuộc đời của ông.

    7. Kết luận

    Khi chúng ta nhìn lại lịch sử của mình, chúng ta hiểu rằng nhiều thay đổi to lớn đã diễn ra cho xã hội của chúng ta. Sự khôi phục Minh Trị là một trong những biến đổi đó. Nhưng cuộc sống của con người vẫn tiếp diễn, bất chấp những thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội. Không thể nào thay đổi cùng một lúc tất cả các khía cạnh của cuộc sống, từ bỏ tất cả những gì đã cũ kỹ. Fukuzawa hiểu điều này rất rõ, và cho rằng không thể, cũng như không cần thiết, đề làm cách mạng trên mọi phương diện như thế. Ông đã dùng thái độ tương tự khi nghiên cứu các lý thuyết xã hội phương Tây. Ông đã tìm hiểu lý thuyết phương Tây về lịch sử tiến hóa của nền văn minh thông qua cách suy nghĩ Khổng giáo. Ông đã tưởng tượng ra xã hội văn minh lý tưởng, nhưng đồng thời luôn luôn đánh giá thực tế Nhật Bản trong bối cảnh văn minh lý tưởng đó. Ông đã rất cố gắng để tìm cách ứng dụng những điểm thiết yếu của văn minh phương Tây, nhưng vẫn giữ cách sống của người Nhật. Fukuzawa quay đi quay lại giữa hai thế giới này, và như thế ông bàn chuyện rất thực tế lúc nào cần thiết.

    Ngay cả khi văn minh phương Tây không phải là một con đường lý tưởng, Fukuzawa vẫn cố gắng đuổi kịp văn minh phương Tây, để duy trì độc lập cho Nhật Bản. Trong suy nghĩ của Fukuzawa, mối quan hệ gia đình của người Nhật cần phải được duy trì. Nhưng bên ngoài vòng tròn gia đình, nghĩa là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị, Nhật Bản phải trở nên tư bản và tự do giống như phương Tây. Người Nhật đã cố gắng bắt chước các hệ thống xã hội đó kể từ sau Minh Trị duy tân mà không phải thay đổi các mối quan hệ với những người thân thuộc. Và như thế chúng ta luôn có cấu trúc xã hội 2 lớp. Lớp ngoài cùng là phương Tây, nhưng lớp trong của xã hội là Nhật Bản. Chúng ta có thể thấy cấu trúc 2 lớp này, được thể hiện dưới nhiều cách pha trộn, trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội Nhật. Có lẽ điều này làm cho nhiều người nước ngoài bối rối khi họ cố gắng tìm hiểu con người và xã hội Nhật. Nhưng đó là cách mà Nhật Bản chấp nhận ảnh hưởng từ phương Tây.

    Ý tưởng của Fukuzawa được hình thành bởi sự pha trộn ba nền văn minh: Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây. Chúng chứa đựng nhiều gợi ý mà chúng ta, những người sống trong thế giới văn minh hiện đại kiểu phương Tây bây giờ, đã lãng quên và có thể khám phá lại lần nữa. Nói đến những tư tưởng về gia đình, tôi có thể chỉ ra hai điểm quan trọng: Thứ nhất, chúng ta có mối quan hệ nam – nữ thay thế cho cách sống phương Tây. Fukuzawa đã chỉ cho chúng ta mối quan hệ hợp tác, trong đó người đàn ông và người phụ nữ tôn trọng lẫn nhau như những “linh ư vạn vật”, và đến với nhau vì “tình yêu và tôn trọng”. Mối quan hệ gia đình chính là mối quan hệ xã hội đầu tiên, như Fukuzawa đã nói, do đó mỗi người phải tư duy độc lập và phải tôn trọng lẫn nhau ngay cả trong gia đình. Điều này khác với tư tưởng của phương Tây về “nửa còn lại”, trong đó người đàn ông và đàn bà hợp lại thành một bởi “tình yêu lãng mạn”. Điểm quan trọng thứ hai trong lập luận của Fukuzawa là mối quan hệ với những người yếu hơn. Nếu chúng ta giả định rằng cá nhân nào cũng lý tính và độc lập, thì sẽ khó tưởng tượng ra một xã hội với những người không có lý tính và không độc lập. Ông nghĩ rằng mối quan hệ với những người yếu hơn khác với mối quan hệ giữa những cá nhân độc lập. Đó là gợi ý rất hay cho chúng ta để tái cấu trúc xã hội, để có thể bao gồm cả những người có thiểu năng xét trên khía cạnh nào đó.

    Cuối cùng, chúng ta nhìn thấy sự đấu tranh của Fukuzawa như một ví dụ trong việc hái lượm thành quả của các nền văn minh khác và áp dụng vào một nền văn minh sẵn có. Chúng ta đang sống trong một thế giới được gọi là “sự va chạm của những nền văn minh”. Do đó tôi nghĩ rằng việc biết cách chấp nhận và sử dụng thành quả của các nền văn minh khác, cũng như cách Nhật Bản đã làm được điều này, sẽ ngày càng cần thiết.

    Tham khảo

    Yukichi Fukuzawa, Văn Minh Luận Chi Khái Lược, tr. David A. Dilworth và G. Cameron Hurst, Tokyo, 1973

    Yukichi Fukuzawa, Fukuzawa Yukichi viết về phụ nữ Nhật Bản, Eiichi Kiyooka, Tokyo,1988 Carmen Blacker, The Japanese Enlightenment, C.U.P., 1964
    thay đổi nội dung bởi: Mùa Thu Màu Xám, 17-07-2012 lúc 05:03 PM

  4. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  5. #3
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    So sánh tư tưởng cận đại hóa giáo dục của Fukuzawa Yukichi (Nhật Bản) và Nguyễn Trường Tộ (Việt Nam)

    Nguyễn Tiến Lực
    nguồn

    Mở đầu

    Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây ồ ạt xâm nhập vào phương Đông. Các nước phương Đông đều đứng trước những thử thách vô cùng to lớn: hoặc bị xâm chiếm, biến thành các nước thuộc địa, hoặc từng bước trở thành các nước phụ thuộc, hoặc phải ký kết các hiệp ước bất bình đẳng với các nước phương Tây. Trong tình hình đó, ở các nước phương Đông đều đã xuất hiện các nhà cải cách chủ trương học tập chính nền văn minh phương Tây, canh tân đất nước một cách toàn diện và sâu rộng, tiến bước kịp các nước phương Tây. Fukuzawa Yukichi của Nhật Bản và Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam là những nhà tư tưởng như vậy. Fukuzawa Yukichi được đánh giá là nhà khai sáng lớn nhất của Nhật Bản vào nửa sau thế kỷ XIX, là “Voltaire của Nhật Bản”, là “Rousseau của phương Đông”. Những tư tưởng của ông đã khai sáng cho nhân dân Nhật Bản, đưa Nhật Bản tiến lên vũ đài văn minh nhân loại. Còn Nguyễn Trường Tộ được đánh giá là nhà tư tưởng cải cách lớn nhất giữa thế kỷ XIX của Việt Nam. Khi nghiên cứu đến hai nhà tư tưởng này, chúng tôi thấy họ có nhiều điểm giống nhau đến kỳ lạ, đặc biệt là chủ trương học tập nền giáo dục phương Tây, cận đại hóa nền giáo dục ở .mỗi nước.

    Trong bài viết này, thông qua so sánh tư tưởng cận đại hóa giáo dục của hai nhà tư tưởng tiêu biểu này, chúng tôi để tìm hiểu những nét giống nhau và khác nhau trong tư tưởng cận đại hóa giáo dục ở Việt Nam và Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX .



    1.Về sự tiếp nhận học vấn phương Tây của Fukuzawwa và Nguyễn Trường Tộ

    1.1 Về sự tiếp nhận học vấn phương Tây, ta thấy hai ông có rất nhiều điểm giống nhau: hai ông hầu như là người cùng thời đại, Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 và mất năm 1871 còn Fukuzawa Yukichi sinh năm 1835 và mất năm 1901; thời đại của các ông là thời đại xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây vào các nước phương Đông; thời đại mà ở các nước phương Đông đứng trước các vấn đề rất lớn: Làm thế nào để bảo vệ đất nước trước nguy cơ bị các nước phương Tây thực dân hóa và duy tân đất nước?

    Fukuzawa Yukichi thì thuở nhỏ cũng học Hán học, nhưng mãi đến năm 14-15 tuổi ông mới chú tâm đến học hành. Vốn có tư chất thông minh và óc phán xét sắc sảo nên trình độ Hán học của ông tiến bộ nhanh chóng và đạt đến trình độ uyên thâm[1]. Tinh thông Hán học nhưng ngay từ thời niên thiếu Fukuzawa Yukichi không có chí trở thành nhà Hán học, ông hướng tới một khoa mới hơn là Tây học. Như chúng ta biết, Fukuzawa Yukichi bắt đầu tiếp xúc với Tây học bằng việc học Hà Lan học (Rangaku), sau đó là Tây học (Yogaku) nhờ đó mà tư tưởng cải cách, tư tưởng khai sáng sớm hình thành trong ông.

    Fukuzawa Yukichi cũng đã có dịp đi khảo sát phương Tây với tư cách là tùy viên của phái đoàn Bakufu đi Mỹ vào năm 1860 và sau đó còn đi thị sát các nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan, Phổ, Nga, Bỉ vào năm 1862 và một lần nữa trở lại Mỹ vào năm 1867.

    Những chuyến đi đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự phát triển tư tưởng của Fukuzawa Yukichi. Tầm kiến văn về thế giới của ông được mở rộng hơn nhiều. Dựa trên những nhận thức mới mẻ đó, ông đã viết và xuất bản những bộ sách mang tính khai sáng và cải cách giáo dục như Tây dương sự tình (Seiyo Jijo)[2], Khuyến học (Gakumon no susume-1872), Khái lược về văn minh luận (Bunmeiron no gairyaku-1875). Đây là những tác phẩm quan trọng nhất biểu hiện rõ nhất tư tưởng về văn minh, về cận đại hóa nền giáo dục của ông.

    Còn Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ học Hán học, ông học rất giỏi nhưng ông không theo con đường khoa cử. Mãi đến năm mười tám, muời chín tuổi, ông mới bắt đầu tiếp xúc với văn hoá Tây phương, trước tiên là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là giám mục Gauthier. Sau đó, Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, qua các nước Đông Nam Á vào những năm 1858-1859 và các nước Tây Âu vào năm 1866, ở đó, ông đã được đọc sách báo của Tây phương, băng tiếng Pháp, tiếng Anh và các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Nhờ đó mà Nguyễn Trường Tộ đã có một kiến thức khá rộng lớn về tình hình thế giới, về văn minh châu Âu, về khoa học kỹ thuật cũng như về khoa học xã hội của Tây phương. Theo GS. Vĩnh Sính thì hệ thống sách dịch bằng chữ Hán, tức là Tân thư có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tiếp nhận kiến thức mới và hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tô[3].

    Như vậy, điểm chung của cả hai ông là lúc nhỏ cùng học Hán học, đều học Hán học rất giỏi, nhưng cả hai đều không có chí trở thành nhà Hán học. Trường hợp Nguyễn Trường Tộ thì do ông là tín đồ Thiên chúa giáo nên không được dự thi hoặc có thể ông cũng không muốn dự thi, còn Fukuzawa Yukichi thì rõ ràng ông đã sớm phê phán về nội dung và phương pháp giáo dục Hán học, hướng tới Hà Lan học (Rangaku) nên không hề có chí hướng trở thành nhà Hán học.

    Cả hai ông sớm tiếp thu Tây học: Nguyễn Trường Tộ thì học tiếng Pháp và các khoa học Tây phương qua các nhà truyền giáo, Fukuzawa Yukichi thì học Hà Lan học, sau đó là Tây học từ các nhà Tây học người Nhật. Cả hai cũng có những chuyến đi phương Tây, có dịp thị sát tình hình phương Tây. Chính những điểm chung về mặt học vấn như thế khiến cho những đề nghị cải cách của hai ông, nhất là về lĩnh vực giáo dục, có nhiều điểm giống nhau đến kỳ lạ.

    1.2 Tuy nhiên, điều khác nhau quan trọng là Nguyễn Trường Tộ lớn lên khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, đất nước từ Nam đến Bắc lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp, nhiệm vụ cơ bản của dân tộc Việt Nam lúc đó là cứu nước bảo vệ Tổ quốc, điều này có ảnh hưởng đến sự hình thành và thực thi những chủ trương cận đại hóa nói chung và tư tưởng cận đại hóa giáo dục của ông nói riêng. Nói một cách cụ thể rằng, trong hoàn cảnh đất nước như vậy, chủ trương học tập phương Tây, cận đại hóa giáo dục của Nguyễn Trường Tộ nói riêng khó gây được sự quan tâm của triều đình và nhân dân cũng như khó có điều kiện để thực hiện. Còn Fukuzawa Yukichi lớn lên khi ở trong nước đã có phong trào Tây học khá rộng rãi, hơn nữa, Nhật Bản đã mở cửa và bắt đầu sự nghiệp duy tân đất nước. Chủ trương học tập phương Tây, cận đại hóa nền giáo dục của Fukuzawa Yukichi được hình thành chủ yếu nhờ những chuyến đi nước ngoài, khảo sát Âu-Mỹ, tiếp nhận những kiến thức về văn minh, về giáo dục của phương Tây của ông sau khi Nhật Bản đã mở cửa. Chủ trương cận đại hóa của Fukuzawa Yukichi hình thành thuận chiều với trào lưu cơ bản xã hội Nhật Bản lúc đó nên nó được cả chính quyền và dân chúng đón nhận, được thực thi một cách tích cực và mang lại hiệu quả to lớn cho đất nước.

    Về việc tiếp thu Tây học, có thể nói, lúc đầu Nguyễn Trường Tộ có thuận lợi hơn bởi ông tiếp thu trực tiếp từ người phương Tây chứ không phải gián tiếp qua các nhà Tây học Nhật Bản như Fukuzawa Yukichi. Tuy nhiên, ngược lại, Nguyễn Trường Tộ tiếp thu Tây học từ những người, nói chung không phải học giả mà là những nhà truyền giáo phương Tây nên không có được một hệ thống kiến thức cơ sở vững chắc, còn Fukuzawa Yukichi tiếp thu Tây học một cách có tuần tự, có hệ thống, tiếp thu những tinh hoa của tư tưởng và lý luận giáo dục của phương Tây. Điều này có ảnh hưởng lớn đến nội dung và tính hiện thực trong những đề nghị cải cách của hai ông.

    Trong quá trình hình thành tư tưởng cải cách ở hai ông thì các chuyến đi phương Tây có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhưng chính ở đây, giữa hai ông cũng có sự khác nhau căn bản. Khi đi sang các nước phương Tây, Nguyễn Trường Tộ đi theo các nhà truyền giáo, không có tư thế đầy đủ để quan sát và tiếp xúc với kiến thức Tây phương còn Fukuzawa Yukichi là một thành viên của phái đoàn Nhật Bản ông có dịp khảo sát tường tận từ tình hình chính trị đến đời sống xã hội và thu lượm được rất nhiều kiến thức bổ ích và thiết thực.

    Điều đáng nói là khi sang phương Tây, Nguyễn Trường Tộ quan sát, đọc và suy nghĩ chứ không có điều kiện để tìm hiểu căn bản tư tưởng và giáo dục phương Tây, nên sau này khi đề xuất những cải cách mặc dầu có những điểm rất xuất sắc nhưng cũng thiếu hệ thống, thiếu tính thực tiễn còn Fukuzawa Yukichi rất chú trọng khảo sát tư tưởng phương Tây, đặc biệt tư tưởng về văn minh và tư tưởng giáo dục mới mẻ của phương Tây nên việc hình thành tư tưởng khai sáng, tư tưởng cải cách giáo dục ở ông có hệ thống và căn bản.

    2. Phê phán “hư học”

    Điểm giống nhau căn bản là cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa đều kịch liệt phê phán “hư học”, tức là lối học tầm chương, trích cú, thiên về kinh điển Nho học Trung Quốc, xa rời với thực tế đất nước, cụ thể là của Việt Nam và Nhật Bản.

    Chúng ta hãy xem hai nhà tư tưởng của hai nước viết về nền giáo dục hư học của nước mình.

    Fukuzawa Yukichi phê phán “hư học” ở Nhật Bản: “Học hành không có nghĩa là chỉ học những chữ hóc búa, đọc những bài văn cổ khó hiểu, thưởng thức waka, làm thơ hay bàn chuyện văn học không có ích gì cho đời... Xưa nay ít có nhà Hán học nào giỏi việc nhà, hiếm cho chonin (dân thành thị:buôn bán, thủ công) nào giỏi làm waka mà lại thành công trong chuyện buôn bán. Bởi vậy có những chonin và bách tánh (nông dân) lo xa nghĩ rộng không muốn cho con mình vùi đầu vào đèn sách tối ngày để rồi phải tán gia bại sản... Điều này chứng tỏ lối học hành đó chỉ nhằm những chuyện xa vời và không có ích trong đời sống hàng ngày” [4].

    Còn Nguyễn Trường Tộ viết: “Nhìn lại sự học của ta ngày nay, những điều thầy dạy học trò đều là những chuyện xa xưa…ngày nay chẳng ai theo nữa… Lúc nhỏ học thiên văn, địa lý, chính sự bên Tàu (mà nay họ đã đổi khác hết rồi), lớn lên, ra làm việc thì lại dùng địa lý, thiên văn, chính trị, phong tục nước Nam, hoàn toàn khác hẳn…Nước ta đâu phải là nước phụ dung của nước Tàu mà cứ học sách Tàu là chính…”;“Ngày nay, cái mà nước mình quý trọng là Nho. Mà Nho thì quý trọng ở nhiều văn chương, chữ nghĩa. Nếu như lấy cái công phu bền bỉ dùi mài chữ nghĩa văn chương mà học lấy cái phong phú vô vàn của tạo vật thì sẽ được biết bao điều quý báu” [5].

    Qua sự phê phán hư học của Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi chúng ta thấy rõ điểm giống nhau của hai ông là:

    1) Gắn liền phê phán hư học với Nho học hay Hán học, tức là lối học những chuyện xa xưa của Trung Quốc, không có ý nghĩa, tác dụng gì đến cuộc sống hiện tại của Việt Nam và Nhật Bản, không giúp giải quyết những vấn đề cấp bách của hai nước.

    2) Phê phán cả nội dung và phương pháp giáo dục theo kiểu hư học: Nội dung chỉ học Kinh, Thư, cổ sử Trung Quốc, Thi, Phú, không học các môn khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm; phương pháp chủ yếu là luận giải những câu chữ khó hiểu, tán dương thi phú.

    3) Nền giáo dục hư học như vậy làm mất bao nhiêu thời gian, làm cho giới trí thức chôn vùi cuộc đời theo khoa cử hay chốn văn chương, không thiết thực không còn thời gian mà suy nghĩ, hiến kế cho việc giải quyết các vấn đề cấp bách của đất nước.

    Tuy nhiên, việc phê phán hư học ở Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ cũng có nhiều điểm khác nhau:

    1) Nguyễn Trường Tộ tập trung vào việc phê phán hư học với việc chỉ ra sự bất lực của hệ thống quan lại được đào tạo theo chế độ khoa cử không còn thích hợp để giải quyết những vấn đề sống còn của đất nước. Còn Fukuzawa Yukichi thì phê phán lối giáo dục cũ là nền giáo dục trống rỗng, không thực tế, không mang lại lợi ích thiết thực hàng ngày, cản trở công cuộc duy tân đang diễn ra ở Nhật Bản.

    2) Điểm khác thứ hai là trong khi phê phán hư học, Nguyễn Trường Tộ thường lấy dẫn chứng xung quanh giáo dục theo chế độ khoa cử cũ để phê phán hay biểu dương còn Fukuzawa Yukichi thì thường lấy những dẫn chứng liên quan đến sự nghiệp phát triển kinh tế-thương mại của Nhật Bản ra phân tích. Nguyễn Trường Tộ đưa ra những dẫn chứng cụ thể để chứng minh rằng, sản phẩm đào tạo của lối học cũ là đào tạo những quan lại giỏi thơ phú xưa những không biết thực thi sứ mệnh hiện tại của mình:“Tôi đã thấy nhiều quan lại nói năng hoạt bát, chuyện trên trời dưới đất thì thao thao bất tuyệt, thế mà đặt bút thảo một công văn giấy tờ thì phải nhờ thư lại” [6]. Fukuzawa Yukichi thì so sánh những nhà Hán học (Nho học) với tầng lớp thị dân Nhật Bản để chứng minh tính hư học của nền giáo dục cũ: “Xưa nay ít có nhà Hán học nào giỏi việc nhà, hiếm cho chonin (dân thành thị) nào giỏi làm waka mà lại thành công trong chuyện buôn bán. Điều này chứng tỏ lối học hành đó chỉ nhằm những chuyện xa vời và không có ích trong đời sống hàng ngày” [7].

    Những điểm giống nhau của hai ông trong việc phê phán hư học chứng tỏ nền giáo dục truyền thống phương Đông vào giữa thế kỷ XIX đã xa rời thực tế, không đáp ứng được yêu cầu của hiện tại, không giải quyết được những vấn đề cấp bách của từng nước và khu vực. Còn những điểm khác nhau trong sự phê phán hư học phản ánh mối quan tâm cụ thể của hai ông đến những khiếm khuyết trong nền giáo dục từng nước.

    3. Về chủ trưởng giáo dục “thực học”

    Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là người đi tiên phong trong việc khởi xướng nền giáo dục thực học và kêu gọi áp dụng thực học vào đất nước mình. Fukuzawa Yukichi cổ vũ mạnh mẽ cho tư tưởng thực học trong tác phẩm nổi tiếng Khuyến học công bố năm 1872. Còn Nguyễn Trường Tộ đã khởi xướng nền giáo dục thực học ở Việt Nam vào những năm 1860 bằng các điều trần Về việc học thực dụng (1866), Tế cấp bát điều (1867) Điểm giống nhau căn bản giữa hai ông là quan niệm về thực học là:

    1) Theo hai ông, thực học là học những điều thiết thực cho cuộc sống hàng ngày. Cả hai ông đưa ra quan niệm thực học trong sự đối lập quan niệm này với quan niệm hư học, tức là học những điều không thiết thực. Hai ông cũng gắn liền thực học với giáo dục các môn khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật (thực nghiệm), những lĩnh vực rất thiếu trong nền giáo dục truyền thống ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam cũng như Nhật Bản nói riêng.

    2) Cả hai ông đều rất đề cao khoa học tự nhiên và kỹ thuật nhưng không quan niệm thực học chỉ là những môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật mà còn bao gồm cả những môn khoa học xã hội và nhân văn. Trong nhiều đề nghị cải cách giáo dục của mình, Nguyễn Trường Tộ trong khi nhấn mạnh cần học tập các môn khoa học tự nhiên cũng đã nhiều lần đề nghị cần phải thành lập các môn khoa học xã hội như khoa Luật học, Địa lý học để giáo dục thực học. Và Fukuzawa Yukichi cũng vậy, khi cổ vũ cho Khuyến học, ông chủ trương đề nghị đưa các môn khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lý, Luật học vào giảng dạy ở bậc phổ thông và đại học.

    3) Trong chủ trương thực học của hai ông là quan niệm học là học phải đi đôi với hành và hành phải đem lại những lợi ích thiết thực cho con người. Như trên đã trích dẫn, Nguyễn Trường Tộ cho rằng: “Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng”; “Là học những điều chưa biết để đem ra thực hành. Thực hành những gì? Thực hành ở đâu? Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa” [8]. Còn Fukuzawa Yukichi chủ trương xây dựng một nền học vấn có tính thực tế và tính hiệu quả gần gũi với đời sống thường nhật của con người. Theo Fukuzawa, điều cần thiết trong học vấn là tính thực tế và lấy thực tế đó áp dụng cho cuộc sống hiện thực một cách hợp lý sẽ đưa tới kết quả to lớn cho đời sống của đất nước và cho mỗi người dân.

    4) Quan niệm mục đích của thực học là hướng đến sự giàu mạnh của đất nước. Nguyễn Trường Tộ đã nhiều lần nhấn mạnh rằng: “việc học tập bồi dưỡng nhân tài là con đường rộng lớn đi tới giàu mạnh”. Còn Fukuzawa Yukichi còn đi xa hơn, việc học thực học sẽ làm cho thân phận, địa vị, sự giàu có của từng cá nhân và sự thay đổi của từng cá nhân đó sẽ dẫn tới sự thay đổi toàn xã hội: có học thức sẽ giàu có, sang trọng và sẽ đóng góp cho sự giàu mạnh của đất nước.

    Quan niệm về giáo dục thực học của Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi rất giống nhau, giống nhau đến kỳ lạ. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ chúng ta cũng thấy có điểm khác nhau là, trong khi Nguyễn Trường Tộ thường gắn các ngành khoa học thực nghiệm với giáo dục thực học thì Fukuzawa Yukichi thường chú trọng đến khoa học tự nhiên (lý số) khi kêu gọi áp dụng nền giáo dục thực học vào Nhật Bản.

    4. Chủ trương học tập phương Tây, cận đại hóa nền giáo dục

    Fukuzawa còn nhấn mạnh việc Nhật Bản muốn phát triển ngang hàng với các cường quốc trên thế giới cần phải phổ cập một nền giáo dục cận đại theo kiểu phương Tây.

    Trong các chuyến đi thị sát ở nước ngoài, ông đặc biệt chú ý đến những phát minh, sáng chế khoa học của phương Tây. Trong Tây dương sự tình, ông nói rằng điều gây ấn tượng mạnh mẽ đối với ông là các nước phương Tây có rất nhiều nhà phát minh, nhà kỹ thuật. Ông đặt câu hỏi: Tại sao các nước phương Tây lại như thế mà Nhật Bản lại không? Và trong quá trình thị sát và tìm hiểu phương Tây ông khẳng định rằng: Đó chính là do các nước phương Tây coi trọng các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, sáng tạo ra nhiều thiết bị máy móc, hỗ trợ cho phát minh, sáng chế.

    Fukuzawa Yukichi cho rằng cần phải cân đại hóa nền giáo dục theo phương Tây, một nền giáo dục rất chú trọng đến khoa học tự nhiên, dựa vào khoa học tự nhiên để tạo nên các thiết bị máy móc hỗ trợ tích cực cho việc phát minh ra các kỹ thuật cao- yếu tố thiết yếu để cận đại hóa đất nước.

    Một điểm mà ông cũng nhấn mạnh là phải học tập các nước phưong Tâ

    y, coi trọng lao động trí óc hơn lao động chân tay. Lao động trí óc được xem là lao động chủ yếu thông qua trí lực của mình, thúc đẩy sự phát triển trình độ khoa học kỹ thuật của quốc gia cũng như nền văn minh của nhân loại. Những người lao động trí óc phải sử dụng nhiều trí lực, tiêu phí nhiều thời gian và tiền bạc để nghiên cứu các nguyên tắc vận động của sự vật và tìm ra được phát minh sáng chế có ích cho quốc gia. Vì vậy theo ông họ xứng đáng được nhân nhiều sự khích lệ hơn bất kỳ ai khác trong sự nghiệp phát triển nền khoa học nước nhà [ix].

    Nguyễn Trường Tộ coi sự phát triển, tiến bộ của phương Tây lúc bấy giờ là kết quả của học thực dụng: “Người phương Tây cũng là người, họ đâu có thể vượt ra ngoài trời đất mà học, thế sao cái học của họ được công hiệu? ...Là do họ biết lấy những thực tế của tạo vật ra mà học” [x]. Đối với ông, học thuật phương Tây là một mô hình tốt, nên học tập. Tuy nhiên, theo ông, học tập phương Tây là học kỹ thuật tiên tiến của họ chứ không phải học tập với tinh thần sùng bái họ, nô lệ họ và tự ty với chính minh. Bởi vì, theo Nguyễn Trường Tộ, phương Tây có trình độ khoa học kỹ thuật cao, nếu chúng ta biết học tập thì sớm biến thành tài sản quý giá cho minh để cải cách và xây dựng đất nước [xi].

    Ông đề cập cách học phương Tây một cách cụ thể và thiết thực: “Hiện nay, cái mà chúng ta rất thiếu thốn là sự học tập tài nghệ...Nếu họ đến khai thác một chỗ nào, thì quan quân chúng ta cũng đến đó, và mắt sẽ thấy nhiều điều mà học tập được. Còn thường dân của chúng ta thì làm cho họ, cư xử gần nhau, ăn mặc như nhau, như thế thì không ngoài mười năm, tài nghệ của dân ta sẽ không kém gì họ. Như vậy thì nhà nước không tốn một đồng tiền mà nhân dân đều học tập thành nghề cả”.

    Để cho nhân dân Việt Nam có thể học tập được tài nghệ của nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ chủ trương một mặt phải cho người đi du học các nước châu Âu, một mặt phải mở mang các trường kỹ nghệ trong nước.



    Thay lời kết luận

    Như vậy, về tổng thể mà nói, đầu thế kỷ XIX điều kiện lịch sử của Việt Nam và Nhật Bản tương đối giống nhau thì giữa thế kỷ XIX, hai nước đã bắt đầu đi theo những lối rẽ khác nhau: Nhật Bản mở cửa và ngay sau đó tiến hành công cuộc duy tân toàn diện và rộng lớn làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống; Việt Nam tiếp tục đóng cửa, không thực thi các kiến nghị của các nhà tư tưởng cải cách, dẫn tới bị thực dân Pháp từng bước xâm lược.

    Ở Nhật Bản, sau khi thành lập, chính quyền Meiji đã tiến hành công nghiệp hóa, cận đại hóa tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước, trong đó có nền giáo dục. Mặc đầu không phải là nhà lãnh đạo trong chính quyền Meiji, nhưng Fukuzawa có vai trò to lớn trong việc vạch ra phương cách cận đại hóa đất nước, đặc biệt là cận đại hóa giáo dục đất nước. Ông đóng vai trò như là chiếc cầu nối giữa văn minh phương Tây và Nhật Bản, góp phần vào sự nghiệp văn minh khai hoá của Nhật Bản nửa sau thế kỷ XIX.

    Chính quyền Meiji hầu như đã thực thi tất cả những tư tưởng về cận đại hóa giáo dục của Fukuzawa Yukichi và nhờ vậy tư tưởng của ông về giáo dục đã đi vào thực tiễn, sống động, có đóng góp lớn trong sự nghiệp cải cách giáo dục, phát huy và nâng cao dân trí cho nhân dân, đưa Nhật Bản tiến kịp các cường quốc văn minh trên thế giới. Trong dịp kỷ niệm 100 năm nền giáo dục của Nhật Bản cận đại tính từ thời Meiji, Fukuzawa được tôn vinh là người thầy chính của sự nghiệp Duy tân. Tư tưởng về giáo dục, đặc biệt là giáo dục thực học của Fukuzawa đã là cơ sở lý luận cho nền giáo dục thực tế đào tạo ra những con người xây dựng nước Nhật Bản mới.

    Những tư tưởng về giáo dục của Fukuzawa trong cuốn Khuyến học là cơ sở để Bộ Giáo dục Nhật Bản soạn thảo cuốn Cơ sở làm nên đại nghiệp trình bày những cơ sở căn bản cho chính sách nâng cao dân trí bằng sự nghiệp phổ cập giáo dục từ hạ tầng đến thượng tầng.

    GS. Matsunaga đánh giá cao tư tưởng cận đại hóa giáo dục của Fukuzawa: “Việc coi trọng tư tưởng thực học của Fukuzawa chính là con đường làm cho đất nước phú cường. Người Nhật Bản thời Meiji được giải phóng khỏi chế độ phân chia đẳng cấp phong kiến, được học một nền giáo dục thực học có ích cho đời sống hàng ngày. Sự phân chia “sĩ-nông-công-thương” đã chấm dứt, việc kinh doanh thực nghiệp đã mở ra, “cá nhân cũng độc lập, gia đình cũng độc lập, quốc gia cũng độc lập”, những lời khởi xướng đó thật thích hợp với Nhật Bản trong việc tiếp thu văn minh phương Tây, để xây dựng quốc gia cận đại”.[xii]

    Ngược lại, tư tưởng cận đại hóa của Nguyễn Trường Tộ hình thành trong hoàn cảnh Việt Nam đang bị thực dân Pháp dần dần thôn tính làm thuộc địa nên nó không thu hút sự quan tâm rộng rãi của triều đình và dân chúng, và về cơ bản không được thực thi trong thực tế. Nói một cách chính xác thì triều đình nhà Nguyễn cũng đã có lúc muốn thí nghiệm thực hiện đề nghị của Nguyễn Trường Tộ về việc thiết lập trường kỹ thuật để giáo dục kỹ thuật cho người Việt Nam. Đó là vào năm 1866. Nguyễn Trường Tộ được vua Tự Đức tiếp kiến ở Tả Vu và sau đó Nguyễn Trường Tộ được tham gia vào phái đoàn của Việt Nam đi thăm Pháp để thực hiện kế hoạch lập một trường kỹ thuật ở Việt Nam như bao lần ông đề nghị. Năm 1868, Nguyễn Trường Tộ cùng sứ bộ Việt Nam trở về nước và mời về cho triều đình Huế 3 kỹ sư-giáo viên kỹ thuật, một chuyên viên kỹ thuật, nhiều sách giáo khoa và các dụng cụ thí nghiệm khoa học để triều đình lập ra một trường kỹ thuật, định thực hiện chủ trương cận đại hóa giáo dục của Nguyễn Trường Tộ. Đây có lẽ là thời kỳ đắc ý nhất trong cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ, khi mà một số đề xuất về cải cách giáo dục, thực thi giáo dục thực học của Nguyễn Trường Tộ được Triều đình cho phép thực nghiệm [xiii]. Tuy nhiên, lúc này, việc mất 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ đặt mối quan tâm của Triều đình Huế vào việc làm sao để không cho Pháp mở rộng xâm chiếm ra các vùng khác và làm cách nào để lấy lại 3 tỉnh miền Tây nên việc lập trường kỹ thuật bị gác lại và lãng quên. Những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ không được thực hiện, không có điều kiện để đóng góp vào sự nghiệp cải cách giáo dục và duy tân đất nước. Về sau, chúng ta nghiên cứu, đánh giá cao tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ thì cũng dừng lại ở việc đánh giá giá trị tư tưởng mà thôi.

    Ngày nay, mặc dầu Nhật đã trở thành cường quốc kinh tế, có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, song đa số người Nhật vẫn tìm được những bài học quý giá cho nước Nhật ngày nay qua tư tưởng của Fukuzawa. Dựa trên tinh thần thực học, thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, không để mất cơ hội để duy tân đất nước, là di sản vô cùng quý báu mà Fukuzawa Yukichi để lại cho nước Nhật thế kỷ XXI. Những tư tưởng cận đại hóa giáo dục của Fukuzawa Yukichi cũng có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam, một nước đã từng bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước theo đề xuất của những nhà tư tưởng xuất sắc như Nguyễn Trường Tộ.



    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I. Tài liệu tiếng Việt

    1) Đặng Đức Thi, 2000, Về quan điểm “học thực dụng” của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Trường Tộ với canh tân đất nước, NXB Đà Nẵng

    2) Đặng Huy Vận và Chương Thâu, 1961, Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX , NXB Giáo Dục, Hà Nội

    3) Fukuzawa Yukichit, 1995, Khuyến học (Nhật Bản:Canh tân giáo dục thời Minh Trị), Chương Thâu dịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

    4) Fukuzawa Yukichi , 2008, Khuyến học hay những bài học về tinh thần thần độc lập về tư tưởng của người Nhật Bản, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trí thức, Hà Nội

    5) Fukuzawa Yukichi, 2005, Phúc ông tự truyện, Phạm Thu Giang dịch, NXB Thế giới, Hà Nội)

    6) Hoàng Thanh Đam, 2001, Nguyễn Trường Tộ, thời thế và tư duy canh tân, NXB Văn nghệ TP HCM

    7) Hoàng Xuân Long, 1997, Tư duy Duy tân thế kỷ XIX: So sánh giữa Việt Nam và Nhật Bản, Nghiên cứu Nhật Bản, Số 1, Hà Nội

    8) Nguyễn Tiến Lực, Fukuzawa Yukichi và tư tưởng Khai sáng của ông, Tạp chí Triết học, Số 2, 1995, Hà Nội

    9) Nguyễn Tiến Lực, Nhận thức về Meiji Duy tân của các nhà tư tưởng cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX, Nghiên cứu Lịch sử , Số 1, 2, 1997, Hà Nội

    10) Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2000, Tìm hiểu về tư tưởng khai sáng của Fukuzawa Yukichi, KLTN, Đông phương học, TP. Hồ Chí Minh

    11) Nguyễn Văn Hồng, 1994, Lịch sử giáo dục thời Minh Trị, NXB Giáo dục, Hà Nội

    12) Nhiều tác giả, Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, NXB Đà Nẵng, 2000.

    13) Trương Bá Cần, 1988, Nguyễn Trường Tộ- Con người và Di thảo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh

    14) Vĩnh Sinh, 2001, Việt Nam và Nhật Bản-Giao lưu văn hóa, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh



    II. Tài liệu tiếng Nhật

    15) 合田庫吉、1979、『福沢諭吉』、吉川 文館、1979 (Aida Soki, 1979, Fukuzawa Yukichi , Yoshikawa Kobunkan, Tokyo)

    16) 長 幸男、1985、日本近代経済におけ 福沢諭吉、『150年目の福沢諭吉』、 有斐閣、(Cho Yukio, 1985, Fukuzawa Yukichi bàn về kinh tế Nhật Bản cận đại, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo)

    17) 桑原三郎、2001、『福沢諭吉の教育観 、慶應義塾大学出版会、(Fuwahara Saburo, 2001, Quan điểm về giáo dục của Fukuzawa Yukichi, Keio Gijuku Daigaku Shuppankai, Tokyo)

    18) 福沢諭吉、2001、『福翁自伝』、慶応 塾大学出版、(Fukuzawa Yukichi, 2001, Phúc ông tự truyện, Keio Gijutsu Daigaku Shuppan, Tokyo)

    19) 福沢諭吉、1986、『文明論之概略』、 波文庫 (Fukuzawa Yukichi, 1986, Khái lược về văn minh, Iwanami Bunko, Tokyo)

    20) 伊原澤週、1999、「学問の勧め』と『 学篇』をめぐって」、『日本と中国 における西洋文化摂取論』、汲古書(I hara Takushu, 1979, Xung quanh hai cuốn “Khuyến học” và “Khuyến học biên” – Bàn về sự tiếp thu văn minh phương Tây của Trung Quốc và Nhật Bản, Kyukosho, Tokyo)

    21) 今永清二、1979、『福沢諭吉の思想形 』、けいそう書房、(Imanaga Seiji, 1979, Sự hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, Keiso Shobo, Tokyo)

    22) 上沼八郎、1985、日本近代教育と福沢 吉、『150年目の福沢諭吉』、有斐閣 、(Kaminuma Hachiro, 1985, Giáo dục Nhật Bản thời cận đại và Fukuzawa Yukichi, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo)

    23) 内山秀雄編、1985、『150年目の福沢諭 』、有斐閣、(Uchiyama Hideo, 1985, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo)

    24) 神山四郎、1985、福沢諭吉の文明史論 『150年目の福沢諭吉』、有斐閣、(Ko yama Shiro, 1885, Lý luận về lịch sử văn minh của Fukuzawa Yukichi, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo)

    25) Nguyen Tien Luc, 1997、グエン・チュオン・トーの改革 想に関する一考察、十九世紀後半期 ベトナム改革思想形成史研究序説、 史学研究』、217号、広島 (Nguyen Tien Luc, 1997, Nghiên cứu về tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ- Sự hình thành tư tưởng cải cách Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, Nghiên cứu sử học, Hiroshima)

    26) 田中克佳、1985、「福沢諭吉の教育論 考」、『近代日本研究』、4,(Tanaka Noriyuki, 1985, Luận về tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi, Kindai Nihon Kenkyu, 4, Tokyo)

    27) 遠山茂樹、1970、『福沢諭吉』、東京 学出版会、(Toyama Shigeki, 1970, Fukuzawa Yukichi, Tokyo Daigaku Shuppankai)

    28) 松永昌三、1985、福沢諭吉と中江兆民 『150年目の福沢諭吉』、有斐閣、(Ma tsunaga Shozo, 1985, Fukuzawa Yukichi và Nakae Chomin, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo)

    29) 安川寿之輔、2003、『日本近代の教育 想構造―福沢諭吉の教育思想研究』 、新評論(Yasukawa Junosuke, 2003, Tư tưởng giáo dục của Nhật Bản cận đại- Nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi, Shinhyouron, Tokyo)

    30) 安川寿之輔、2000、『福沢諭吉のアジ 認識』、高文研、(Yasukawa Junosuke, 2000, Nhận thức về châu Á của Fukuzawa Yukichi, Kobunken, Tokyo)



    [1] Fukuzawa Yukichi, 2001, Phúc ông tự truyện, Keio Gijutsu Daigaku Shuppan, Tokyo, tr.11 (T. Nhật)

    [2] Cuốn Tây dương sự tình bán được 25 vạn bản, trở thành sách bán chạy nhất, một hiện tượng của xã hội rất đáng chú ý Nhật Bản lúc bấy giờ.

    [3] Vĩnh Sính, 2001, Việt Nam và Nhật Bản-Giao lưu văn hóa, NXB Văn nghệ TP. HCM, tr. 92-93.

    [4] Dẫn theo Vĩnh Sính, 2001, Sđd, tr. 124.

    [5] Trương Bá Cần, 1988, Nguyễn Trường Tộ - Con người và Di thảo, NXB TPHCM, tr. 192-193.

    [6] Trương Bá Cần, 1988, Sđd, tr. 256.

    [7] Dẫn theo Vĩnh Sính, 2001, Sđd, tr. 124.

    [8] Trương Bá Cần, 1988, Sđd, tr. 248.

    [ix] Fukuzawa Yukichi, 2008, Khuyến học hay những bài học về tinh thần thần độc lập về tư tưởng của người Nhật Bản, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trí thức, Hà Nội, tr. 25.

    [x] Trương Bá Cần, 1988, Sđd, tr. 136.

    [xi] Xem Trương Bá Cần, 1988, Sđd, tr. 137.

    [xii] Matsunaga Shozan, 1985, Fukuzawa Yukichi và Nakae Chomin, Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Fukuzawa Yukichi, Hiyukaku, Tokyo, tr. 89 (T. Nhật).



    [xiii] Trương Bá Cần, 1988, Sđd, tr.32-53.
    thay đổi nội dung bởi: Mùa Thu Màu Xám, 17-07-2012 lúc 05:04 PM

  6. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  7. #4
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    YUKICHI FUKUZAWA (1835-1901) – Nhà tư tưởng công cuộc duy tân Minh Trị của Nhật bản

    Fukuzawa Yukichi được coi là nhà tư tưởng trong cuộc “canh tân” thời Minh Trị biến Nhật bản từ một quốc gia lạc hậu và cô lâp trở thành một cường quốc rên thế giới. Ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy chân dung Fukuzawa Yukichi trên tờ 10,000 Yên, tờ bạc lớn nhất Nhật bản. Ðiều đó thể hiện lòng biết ơn và sự ghi nhận của chính phủ và nhân dân Nhật bản đối với những đóng góp to lớn của ông cho việc xây dựng một nước Nhật bản “mới”.


    Fukuzawa sinh năm 1835 tại thành phố Osaka trong một gia đình võ sĩ đạo lớp dưới thuộc lãnh địa Nakasu (một tỉnh thuộc miền Bắc đảo Kyushu). Cha mất khi ông mới 18 tháng. Gia đình ông rất nghèo, bản thân Fukuzawa phải làm nghề chữa dép và các công việc thấp kém khác cho mãi đến năm 14 tuổi, ông mới được đến trường. Nhưng ngay lập tức Fukuzawa thể hiện trí tuệ xuất sắc của mình và luôn là sinh viên giỏi nhất lớp. Sau này, Fukuzawa từng hai lần đến Mỹ và đi khắp châu Âu tìm hiểu những nền tảng căn bản của xã hội hiện đại đang phát triển và nhận thấy tiến bộ kỹ thuật có vai trò quyết định mang lại sự thịnh vượng ở phương Tây. Fukuzawa tin rằng những thay đổi cách mạng trong suy nghĩ và kiến thức của con người là yêu cầu cơ bản nhất đối với quá trình hiện đại hoá Nhật bản.


    Fukuzawa hiểu rằng sứ mạng của mình là sự nghiệp giáo dục và nghề làm báo, cách để ông đưa tư tưởng của mình đến với công chúng. Vì thế, suốt đời ông ra sức giới thiệu tình hình các nước Phương Tây, đề xướng dân quyền, xúc tiến “văn minh khai hoá”. Các tác phẩm chủ yếu của Fukuzawa là Thực trạng Phương Tây (Seiyo jijo), Khuyến học (Gakumon no Susume ) [1], Phác thảo lý thuyết về sự văn minh (Bunmeiron no gairyaku), dịch cuốn “Kinh tế chính trị’ của J.H Burton trình bày những nguyên tắc cơ bản cho việc cấu thành một xã hội văn minh. Fukuzawa cũng dịch và viết những cuốn sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, Nghị viện Anh và quan hệ quốc tế. Những tác phẩm này hấp dẫn không chỉ vì những chủ đề mới lạ mà còn ở cách hành văn cách tân rất bình dị. Nhờ những quyển sách này, người Nhật có cơ hội hiểu biết về nền văn minh mới.

    Tư tưởng chủ yếu nhất của Fukuzawa đó là nền độc lập của quốc gia cũng như của các cá nhân không thể tách rời khỏi kiến thức và văn minh. Ðộc lập dân tộc đối với ông không phải chỉ là giành được quyền tự trị vào tay nhân dân Nhật bản mà nền độc lập thật sự chỉ giành được bằng việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi, để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác. Ðể đạt được mục tiêu độc lập thật sự, nước Nhật bản cần thay thế phương pháp học truyền thống bằng việc dạy các ngành khoa học thực tiễn của Phương Tây. Dân chúng càng được giáo dục thì nền độc lập quốc gia càng được khẳng định, đồng thời sự thịnh vượng và đạo đức cũng như chất lượng xã hội sẽ tăng lên.

    Bài luận đầu tiên trong tác phẩm Khuyến học chính là lời tuyên ngôn của Fukuzawa đối với công chúng về vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục. Ông viết: “…Thượng đế không sinh ra người này hơn hoặc kém người kia. Mọi sự bất bình đẳng giữa những người khôn ngoan và người ngu ngốc, giữa giàu người và người nghèo, đến xuất phát từ việc giáo dục”.

    Trong tác phẩm này, ông thúc giục người Nhật học bốn mươi bảy ký tự kana của tiếng Nhật để tham khảo sách giáo khoa và dễ tiếp cận các ngôn ngữ Phương Tây, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và các dụng cụ đo đạc rồi đến những lĩnh vực khoa học khác. Không chỉ dừng lại ở việc vận động viết sách, viết báo, năm 1858, Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường đại học Keio. (Trường Khánh ứng Nghĩa thục) để triển khai những tư tưởng của mình vào thực tiễn vì ông muốn đào tạo ra những thế hệ thanh niên – trí thức Nhật bản mới.

    Một quan điểm khác của Fukuzawa đó là lý thuyết về nền văn minh. Các nhà trí thức Nhật bản khi đó có những luồng tư tưởng khác nhau, một số người rất hâm mộ hình mẫu văn minh lý tưởng của Phương Tây, trong khi những người khác miễn cưỡng chấp nhận hoặc thậm chí chống đối các giá trị và nguyên tắc hiện đại. Fukuzawa dành cả năm 1874 để viết tác phẩm “Phác thảo lý thuyết về sự văn minh” nhằm thuyết phục trí thức Nhật chấp nhận quá trình hiện đại hoá.

    Với Fukuzawa, “Văn minh” vừa là mục đích, vừa là biện pháp để giành được nền độc lập thật sự cho nước Nhật. Ông viết: “Văn minh, trong nghĩa rộng, văn minh không chỉ là những tiện nghi hàng ngày đáp ứng nhu cầu của con người mà còn là việc hoàn thiện các kiến thức và trau dồi đạo đức để nâng cuộc sống con người lên một tầm cao mới. [...] [Như vậy] văn minh bao gồm cả những tiện nghi vật chất và ý thức. Cuối cùng, văn minh có nghĩa là sự tiến bộ cả về kiến thức và đạo đức của con người”

    Fukuzawa chỉ trích mạnh mẽ chương trình giáo dục truyền thống ở Nhật, chỉ chú trọng học thuộc những cuốn sách cổ xưa, thích thú đọc và làm thơ, nghiên cứu những điều không thực tế. Các học trò ở Nhật không được khuyến khích cách suy nghĩ mới mẻ, độc đáo và không được dạy các môn học thiết yếu và cần thiết. Vì thế, đa phần dân chúng Nhật thờ ơ đối với những vấn đề xã hội. Họ ngây thơ và mù quáng trung thành với Hoàng đế và không hề dám nghĩ đến những hành động vượt ra ngoài các khuôn phép đó. Fukuzawa coi đây là điểm yếu nhất trong nền văn minh của Nhật bản. Fukuzawa viết, “Trong văn minh Phương Tây, cơ cấu xã hội bao gồm nhiều lý thuyết khác nhau phát triển liên tục, tiệm cận dần đến nhau và cuối cùng hợp nhất vào trong một nền văn minh, chính quá trình này hình thành nên sự tự do và độc lập”.

    Rõ ràng nền văn minh Nhật bản đã bị tụt lại đằng sau phương Tây. Fukuzawa bình luận rằng Nhật bản và Trung quốc chỉ mới ở giai đoạn “bán văn minh”, khoảng cách giữa phương Ðông và phương Tây là rất lớn. Việc chính quyền chỉ mua vũ khí hiện đại và máy móc không thể làm cho nước Nhật đuổi kịp phương Tây, bởi văn minh là sự phát triển của chính tư duy, là sự ưu việt và kiến thức của toàn bộ dân tộc. Ông kết luận rằng “Văn minh là Mục đích của chúng ta” và viết: “Hơn nữa, những tranh luận rằng chính thể quốc gia là Ðạo Thiên chúa hay Khổng giáo đều không thể được dân chúng ủng hộ. Tôi nói rằng chỉ có một thứ để đạt được mục đích của chúng ta và tiến tới một nền văn minh, đó là không thể giữ gìn nền độc lập bằng cách nào khác ngoại trừ việc tạo dựng nền văn minh cho nước Nhật”.

    Trong nhiều năm liền, Fukuzawa đã giành nhiều công sức thúc đẩy chương trình cải cách và khai sáng cho các quốc gia láng giềng như Trung quốc, Triều tiên và cả Việt nam. Fukuzawa khuyến khích những nhà cải cách Triều tiên là Pak Yong-hyo và Kim-Ok-kyun gửi những thanh niên trẻ, có tài tới Nhật học và khuyên họ mở tờ báo để khai sáng cho dân chúng tiến tới đòi độc lập cho Triều tiên. Nhưng tư tưởng truyền thống và bảo thủ ở Triều tiên, Trung Quốc đã dẫn tới sự tách biệt giữa các quốc gia Ðông á, trong khi Nhật bản đi theo con đường “duy tân” thì Triều tiên và Trung quốc chống lại. Trong bài báo Datsu-a-ron [Về sự khởi hành của Châu á], năm 1885, Fukuzawa tuyên bố: “Ðo đó, chính sách cấp bách của chúng ta không nên để phí thời gian chờ đợi sự khai sáng của các quốc gia láng giềng [Triều tiên và Trung quốc] để cùng đi với họ trong việc phát triển châu á, mà nên tách rời khỏi họ để gia nhập cùng các quốc gia văn minh phương Tây [...] Chúng ta cần hành động đúng như những gì người Phương Tây làm”.

    Những tư tưởng của Fukuzawa cũng ảnh hưởng lớn tới tư tưởng cứu nước của những nhà nho học Việt nam đầu thế kỷ XX với Duy Tân Hội và phong trào Ðông Du của Phan Bội Châu. Noi gương trường Khánh ứng Nghĩa thục, các nhà nho học như Phan Chu Trinh, Lương Văn Can thành lập trường Ðông kinh Nghĩa thục ở Hà nội (tháng 3-12/1907) nhằm bồi dưỡng và nâng cao lòng yêu nước của học sinh, sinh viên, truyền bá những tư tưởng mới mẻ và nếp sống văn minh tiến bộ. Nhưng thật tiếc rằng, tư tưởng “canh tân” ở Việt nam cũng thất bại giống như các quốc gia Triều tiên và Trung quốc láng giềng.

    Ngoài ra, Fukuzawa cũng mạnh mẽ đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Fukuzawa lên án những thói quen khinh thường phụ nữ của nam giới, tố cáo những vết tích còn lại của chế độ đa thê, coi đó là những phong tục kém văn minh nhất của xã hội Nhật. Trong bức thư của một phụ nữ gửi vợ Fukuzawa khi ông qua đời năm 1901 có viết: “Bất cứ lúc nào, tôi đọc bài báo của Tiên sinh về phụ nữ Nhật trong tờ báo Jiji-shimpo, tôi đều biết ơn khi thấy Tiên sinh là người bạn thật sự của chúng tôi. Việc Tiên sinh mất đi thật sự là nỗi đau buồn vô hạn [...] Với những giọt nước mắt, tôi chân thành hy vọng rằng những mong ước của Tiên sinh mãi mãi lan toả trên khắp đất nước chúng ta”./.

    Nguyễn Cảnh Bình
    (*) Bài đăng trên tạp chí Tia sáng số tháng 8/2002
    nguồn
    thay đổi nội dung bởi: Mùa Thu Màu Xám, 17-07-2012 lúc 05:09 PM

  8. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  9. #5
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Fukuzawa: Học để hiểu "Thế nào là làm tròn công việc của mình"


    Tác giả: Fukuzawa Yukichi

    Cái mà họ goi là "đền ơn, báo đáp đất nước" là gì? Chắc là họ muốn nói rằng nhờ có chính quyền này mà dân chúng mới được sống thanh bình, yên ổn làm ăn, không phải lo sợ kẻ xấu. Thế nhưng lập ra pháp luật, bảo vệ dân chúng giữ gìn an ninh... là công việc, là nghĩa vụ đương nhiên của chính quyền. Không thể coi đó là sự ban ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn hay báo đáp lại chính quyền.

    Dưới thời Mạc phủ, giữa tầng lớp Võ sĩ và tầng lớp thường dân có sự phân biệt sâu sắc. Võ sĩ ra sức lộng quyền, coi nông dân và thị dân như những kẻ tội phạm. Chúng còn đặt ra luật "chém trước, xử sau". Theo luật này, người dân chỉ cần có biểu hiện trái ý Võ sĩ là lập tức bị hành quyết tại chỗ. Tính mạng của dân không khác sâu bọ, cho sống thì được sống, bảo chết thì phải chết.

    Ngược lại, nông dân và thị dân lúc nào cũng phải cúi lạy, nhường lối tránh chỗ cho Võ sĩ dù chẳng có quan hệ, duyên nợ gì. Ngựa mình nuôi nhưng bị cấm cưỡi. Thật đáng căm giận.

    Mối quan hệ giữa Võ sĩ và thường dân là quan hệ "giữa cá nhân với cá nhân" mà đã bất công đến như vậy, thử hỏi quan hệ giữa chính phủ và nhân dân là quan hệ giữa "tập thể với tập thể" sẽ như thế nào? Các bạn hãy cùng tôi xem xét.

    Có thể nói: Mối quan hệ giữa chính phủ với nhân dân còn tệ hại hơn nhiều. Không chỉ chính quyền trung ương Mạc phủ, mà tại các địa phương, các lãnh chúa điều lập ra chính phủ con trên lãnh địa mình cai quản, mặc sức hà hiếp bóc lột dân chúng, mọi quyền con người của người dân đều không được thừa nhận. Thi thoảng lắm, các lãnh chúa ra vẻ từ bi đưa ra một vài chính sách tử tế (thực ra chỉ khi bị các lãnh chúa vùng khâc âm mưu thôn tính lãnh địa của mình thì họ mới làm thế), nhưng cũng chỉ nhằm mị dân nhất thời mà thôi.

    Quan hệ giữa chính phủ và nhân dân, như tôi nói ở đoạn trên, chỉ khác nhau ở tình trạng giàu nghèo, mạnh yếu. Còn quyền lợi thì hoàn toàn ngang nhau.

    Người nông dân làm ra thóc gạo, nuôi sống con người; người thị dân buôn bán, lưu thông hàng hoá mạng lại sự tiện lợi trong cuộc sống. Đó là công việc của bản thân họ.

    Mặt khác, chính phủ đặt ra luật lệ, trấn áp kẻ bất lương, bảo vệ dân lành. Đó là công việc phải làm của chính phủ.

    Để làm việc này, chính phủ cần nhiều tiền. Nhưng chính phủ lại không tự làm ra được lúa gạo, không có tiền nong. Vì thế nông dân và thị dân nộp thuế, nộp thóc, tạo ra nguồn ngân sách cho chính phủ.

    Hai phía, dân và chính phủ bàn bạc cùng nhau thoả thuận về nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên như nêu trên. Quan hệ giữa nhân dân và chính phủ là quan hệ như vậy.

    Nộp thóc, đóng thuế, làm theo pháp luật là nghĩa vụ và trách nhiệm của dân.

    Thu đủ thóc, đủ thuế, sử dụng đúng và công khai nguồn tài chính, bảo vệ dân là nghĩa vụ và trách nhiệm của chính phủ.

    Nếu cả hai phía đều thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên như trên đây thì chẳng có gì để mà nói. Vì hai bên, bên nào bên nấy cũng đều làm đúng bổn phận của mình, chính phủ không làm phiền dân và dân cũng không làm phiền chính phủ.

    Không còn cảnh bị "cùm chân, cùm tay" về tinh thần và vật chất.

    Trong xã hội Mạc phủ Tokugawa, người ta đã tôn chính quyền thành "Đấng bề trên". Mỗi khi "Đấng bề trên" vi hành thì tiền nhà trọ cũng không trả, tiền đò qua sông cũng không thanh toán, tiền công người phục dịch cũng không trao, ngược lại còn đòi hỏi các nơi phải chi tiền rượu chè. Thật là hết chỗ nói. Các lãnh chúa, quan chức chính quyền nghĩ ra đủ trò để tiêu xài, làm cạn kiệt nguồn tài chính. Và để tiếp tục có tiền tiêu xài, họ liền đặt ra đủ loại sắc thuế bắt chẹt dân, buộc dân phải đóng góp. Dân chúng kêu ca, họ nguỵ biện rằng đó là sự "đền ơn, báo đáp đất nước".

    Cái mà họ goi là "đền ơn, báo đáp đất nước" là gì? Chắc là họ muốn nói rằng nhờ có chính quyền này mà dân chúng mới được sống thanh bình, yên ổn làm ăn, không phải lo sợ kẻ xấu. Thế nhưng lập ra pháp luật, bảo vệ dân chúng giữ gìn an ninh... là công việc, là nghĩa vụ đương nhiên của chính quyền. Không thể coi đó là sự ban ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn hay báo đáp lại chính quyền. Nếu như chính quyền nghĩ như vậy thì ngược lại người dân sẽ nói rằng: Chính quyền phải hàm ơn dân và báo đáp cho dân mới phải, vì chính quyền sống bằng tiền thuế, tiền thóc lúa do dân đóng, cớ vì sao lại có chuyện ngược đời như thế được?

    Thực ra bên nào cũng nhận "ơn" của bên kia. Đó là sự có đi, có lại.

    Không có đạo lý nào buộc dân phải hàm ơn chính quyền mà chính quyền lại không cần phải hàm ơn dân cả.

    Vì sao tập quán xấu này vẫn diễn ra trong cuộc sống hằng ngày? Đó là vì chính quyền miệng nói bình đẳng nhưng không hiểu bình đẳng, lợi dụng chênh lệch giàu nghèo, mạnh yếu, sử dụng quyền lực chèn ép quyền lợi của dân lành.

    Đã là con người thì phải thường xuyên nhớ rằng: mọi người sinh ra đều bình đẳng về tư cách và quyền lợi. Đây là điều quan trọng nhất. Ở châu Âu, người ta gọi là reciprocity, tức là quan hệ có đi có lại, có tác động lẫn nhau, lợi ích song phương.

    Trong Phần một, tôi viết tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, có cùng địa vị cùng tư cách có nghĩa là như vậy.

  10. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  11. #6
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Fukuzawa: Trách nhiệm của "người đứng trên người"


    Fukuzawa Yuchiki
    Trích cuốn Khuyến học



    Làm sao để Nhật Bản có nền độc lập thực sự?

    Gần đây, những người có học thức thường bàn riêng với nhau về tương lai của Nhật Bản. Gặng hỏi mãi, người ta mới nói cho tôi hay về những gì họ đương bàn luận. Đành rằng không ai biết trước được tương lai của nước ta sẽ ra sao, và điều này cũng không dễ dàng mà dự đoán được. Liệu sau này Nhật Bản giữ được nền độc lập hay không? Nỗi lo mất nước cứ canh cánh trong lòng chúng ta. Nếu tình trạng như thế này mà cứ kéo dài thì cũng không ai dám chắc là nước Nhật chúng ta có thể trở thành một quốc gia văn minh giàu mạnh. Còn có giữ được độc lập hay không, chắc phải hai ba mươi năm sau mới có được câu trả lời chính xác. Những người ngoại quốc - vốn khinh miệt Nhật Bản - lại càng bán tín bán nghi, họ cho rằng Nhật Bản làm sao mà giữ nổi độc lập.

    Không phải vì những lời bàn ra tán vào như vậy mà chúng ta quá bi quan. Nhưng rõ ràng là chẳng ai tin Nhật Bản sẽ giữ vững được sự độc lập trước phương Tây. Không phải bỗng dưng mà chúng ta bàn bạc, lo lắng cho vận mệnh của đất nước, nếu tương lai xán lạn đang chờ đón chúng ta thì chúng ta bàn tán để làm gì.

    Nếu có ai hỏi người Anh: "Này, liệu các ông có giữ được độc lập cho nước Anh không?" thì người Anh chắc chắn sẽ cười vào mũi người đó mà không thèm trả lời. Vì có ai dám nghi ngờ nước Anh, nước Anh mà không độc lập thì còn nước nào độc lập?

    Bây giờ, hãy nhìn lại nước ta, trình độ văn minh của chúng ta ra sao? Cho dù đã có tiến bộ nhưng vẫn chưa hết sự hoài nghi. Bản thân tôi, với tư cách là người Nhật Bản, cũng cảm thấy không được an tâm về sự tiến bộ này.

    Chúng ta là người Nhật, sinh ra và lớn lên ở đây. Đã vậy, mỗi người đều phải tự giác và nỗ lực đối với bổn phận của mình. Điều hành đất nước đương nhiên là công việc của chính phủ. Nhưng có nhiều lĩnh vực trong dân sinh, chính phủ không thể biết và can thiệp hết được. Vì thế, để duy trì nền độc lập của đất nước, thì chúng ta - những người dân - phải làm trọn nghĩa vụ của mình, nghĩa vụ của công dân trong một nước, và chính phủ phải làm trọn trách nhiệm của mình, trách nhiệm của người điều hành đất nước. Quốc dân chúng ta phải hợp tác với chính phủ thì mới mong thành công trong việc phát triển quốc gia một cách toàn diện, đồng bộ.

    Lực có cân bằng thì mới duy trì được mọi vật. Điều đó cũng giống như duy trì cơ thể con người. Để giữ cho cơ thể khoẻ mạnh thì mọi thứ như ăn uống, không khí, ánh sáng đều phải đầy đủ. Có như vậy cơ thể mới tự đề kháng, tự điều chỉnh trước mọi tác động đến từ bên ngoài như khi nóng, khi lạnh, lúc đau, lúc ngứa. Còn nếu không bị kích thích, không quen thích ứng với môi trường, chỉ trông cậy vào sức sống vốn có ở cơ thể thì con người không thể duy trì sức khoẻ. Duy trì một đất nước cũng giống như duy trì sức khoẻ của con người.

    Nói tới chính trị là nói tới hoạt động của quốc gia. Để giữ vững nền độc lập, để vận hành quốc gia trơn tru, thì cần phải có đủ và cân bằng cả hai yếu tố "trong" và "ngoài". "Trong" ở đây là khả năng điều hành đất nước (làm chính trị) của chính phủ và "ngoài" ở đây tôi muốn nói tới sức dân. Cứ tạm coi chính phủ là "sức sống vốn có" của quốc gia và sức dân là "môi trường kích thích từ bên ngoài". Không có sự kích thích tức không có sức dân mà chỉ trông cậy vào chính phủ thì độc lập dân tộc không thể duy trì dù chỉ một ngày.

    Cái gì đẻ ra "khí chất nhu nhược" của người Nhật Bản?

    Hiện nay, có nhiều người đưa ra lý lẽ: "Lãnh đạo cái lũ dân ngu này phải có kế sách mới được. Chính phủ định làm việc gì cứ thế mà làm, không cần thông báo, giải thích hay chờ đợi gì cả. Còn khi nào dân chúng có tri thức, đạo đức thì đưa họ đến với văn minh cũng chưa muộn." Nhưng theo tôi, nếu thực hiện theo cách nói trên thì sẽ thất bại ngay từ đầu. Vì sao vậy?

    Đã bao năm, nhân dân phải chịu nhiều khổ đau dưới chế độ chính trị chuyên quyền. Điều nghĩ trong lòng không dám nói ra miệng, hay sẵn sàng nói láo miễn sao khỏi mang vạ vào thân, lừa đảo cũng được cho qua. Gian dối, nguỵ tạo trở thành cách sống. Không thành thật trở thành thới quen hàng ngày. Làm sai không dám nhận, lại còn tìm cách đổ lỗi cho người khác. Không còn ai biết hổ thẹn, biết tức giận, chỉ biết suy bì tị nạnh, ghen ăn tức ở. Còn việc nước, việc quốc gia là việc "chùa", hơi đâu mà lo nghĩ.

    Chính phủ đã dùng nhiều biện pháp nhằm thay đổi những tập quán xấu nói trên, lúc khuyên nhủ, khi răn đe, đôi khi dùng cả quyền lực cưỡng chế dân chúng... Nhưng các biện pháp hầu như đều phản tác dụng, dường như chỉ càng làm cho người dân thêm mất lòng tin nơi chính phủ. Trên xa lánh dưới, dưới chẳng muốn gần trên. Theo thời gian cái sự xa lánh ấy tạo ra cho mỗi tầng lớp trong xã hội một khí chất khác nhau. Và người ta gọi chúng là "khí chất Võ sĩ", "khí chất Thị dân". Khí chất này, nếu chỉ nhìn vào từng cá nhân hay chỉ nhìn phiến diện thì khó thấy. Nhưng nếu nhìn vào tổng hợp các hiện tượng xã hội thì chúng ta sẽ hiểu rõ thực trạng của nó.

    Phải công nhận là trong các quan chức chính phủ hiện nay có rất nhiều người tốt, có tấm lòng nhân hậu. Bản thân tôi, khi nhìn vào các quan chức đó cũng phải thừa nhận họ không có điểm gì đáng phàn nàn cả, ngược lại ở họ có nhiều điểm rất đáng học hỏi. Nhưng khi họ tập hợp trong chính phủ thì không hiểu sao công việc cứ rối nhhư tơ vò. Chính phủ đã vậy, còn dân chúng thì sao? Trong nhân dân, có không ít người trung thực, chính trực. Nhưng không hiểu sao, mỗi khi quan hệ với chính quyền thì nhân cách lại thay đổi, trở nên dối trá, nguỵ biện, trơ tráo, lừa dối cả chính quyền. Quan chức và dân chúng trong một nước mà cứ như là hai cái đầu trên một cái cổ vậy.

    Trên cương vị cá nhân thì người nào cũng tỏ ra thông thái. Nhưng hễ trở thành quan chức chính quyền chì sự thông thái thường thấy lại biến đi đâu mất. Khi đứng một mình thì ai nói cũng hay cả. Nhưng khi tập hợp nhau trong một tập thể thì cái cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược thường xuyên xảy ra.

    Tôi buộc phải nói rằng chính phủ Nhật Bản hiện nay là một tổ chức của nhiều người có tri thức, tập hợp nhau lại để làm một việc hồ đồ. Có lẽ họ đã không thể phát huy được cá tính vì bị trói buộc bởi nếp nghĩ theo kiểu "chủ nghĩa bình yên vô sự".

    Chính sách của chính phủ không hiệu quả cũng do vậy. Bằng một số kế sách như dùng những lời lẽ hoa mỹ mị dân, dùng quyền lực, áp đặt văn minh... chính phủ có thể giật dây được dân chúng. Nhưng như thế cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Chính phủ trị dân bằng uy quyền thì dân sẽ đáp lại bằng sự giả vờ chấp hành. Chính phủ lừa dối dân thì dân cũng sẽ tạo ra vỏ bọc hữu hiệu. Mà cứ như vậy thì không thể chỉ dựa vào quyền lực để thúc đẩy văn minh xã hội.

    ĐÁNG BUỒN LÀ NƯỚC TA CHỈ CÓ NGƯỜI NHẬT MÀ KHÔNG CÓ QUỐC DÂN NHẬT

    Vậy phải làm cách nào để khai hoá văn minh tại nước ta? trước hết phải quét sạch "cái khí chất" đã thấm sâu trong lòng người. Dùng biện pháp hành chính mệnh lệnh của chính phủ cũng khó. Thuyết giảng cho từng người chắc chắn sẽ thất bại. Cần phải có những người gây dựng được sự nghiệp mà mọi người dân đều tự giác tham gia, phải đặt ra mục tiêu rõ ràng để nhân dân tin cậy.

    Thế thì ai sẽ là người làm được việc này? Trong giới Nông, Thương rõ ràng chẳng có ai. Trong giới học giả Quốc học hoặc Nho học cũng không thấy gương mặt nào. Xem ra chỉ có những người trong nhóm Tây học là có thể gánh vác được nhiệm vụ đó. Gần đây, những nhà Tây học tăng lên đáng kể. Họ đọc sách dịch, nghiên cứu văn minh châu Âu. Tuy vậy, không phải ai trong số họ cũng đều hiểu được cặn kẽ về văn minh phương Tây. Ngược lại có nhiều người hiểu được, lý giải được, cắt nghĩa được nhưng lại không sao biến chúng thành hiện thực. Họ nói được nhưng không làm được điều mình nói.

    Hiện nay, thực tế cho thấy hầu hết các nhà Tây học xã hội ta đều chỉ mơ đến một chức vụ cao trong chính phủ, họ không màng làm trong khu vực tư nhân. Nhận thức của họ chẳng khác là bao so với các nhà Nho học trước đây, học để ra làm quan. Bụng dạ hủ nho đội lốt Tây Âu, đúng y như câu nói của người xưa: "Bình mới rượu cũ". Đương nhiên, trong số các nhà Tây học đang làm quan chức chính phủ, không phải tất cả đều háo danh, tham lam bổng lộc. Suy cho cùng, nó là kết quả của quan niệm giáo dục cố hữu ở nước ta: "Làm quan là cách tiến thân tốt nhất trong mọi cách tiến thân". Trong suốt hàng ngàn năm qua, quan niệm đó đã thấm sâu vào máu thịt, đã thành nếp trong suy nghĩ của con người. Chính vì thế mà từ đời này qua đời khác, người ta chỉ học để làm quan chứ có ai muốn học để làm dân đâu. Làm quan đã trở thành cái đích trong cuộc đời. Ngay cả các bậc tiên sinh danh giá cũng không thoát khỏi ảnh hưởng đó. Tuy nhiên, xu hướng "làm quan" cũng là điều dễ hiểu vì khí chất xã hội đã khiến người ta phải như vậy. Cứ thế, trào lưu "quyền lực là chìa khoá vạn năng" nhiễm sâu vào lòng người. Nên dân ta ai cũng chỉ muốn làm công sở chính quyền, rồi tìm cách leo lên hàng quan chức chính phủ để có quyền hành và bổng lộc. Thí dụ: gần đây trên các tờ báo, hiếm thấy bào viết nào có ý kiến ngược lại với ý kiến chính phủ. Lâu lâu chính phủ đưa ra được một vài chính sách cải cách nho nhỏ, tức thì những bài viết tán dương tâng bốc chính phủ xuất hiện đầy rẫy trên mặt báo. Những bài viết như vậy có khác nào thái độ phỉnh nịnh khéo léo của các cô gái làng chơi để lấy lòng khách mua hoa đâu. Tệ hại hơn nữa, những người viết bài đó lại chính là những thành viên trong nhóm Tây học. Thật khó có thể chấp nhận. Họ đâu có phải là "gái làng chơi" và lại càng không phải là những kẻ tâm thần hay thiếu hiểu biết.

    Thái độ xu nịnh và suy nghĩ cơ hội đang đầy rẫy trong xã hội Nhật Bản như hiện nay là do đâu? Vì chưa có một minh chứng thực tế nào chứng tỏ có tự do dân quyền trong xã hội, vì người Nhật Bản đã nhiễm quá nặng bản chất tính nhu nhược, không còn nhìn ra bản sắc vốn có của mình.

    Tóm lại, hiện nay Nhật Bản có chính phủ, có cả dân. Nhưng có lẽ chúng ta mới chỉ có dân mà chưa có "quốc dân Nhật Bản". Điều này có nghĩa là để thay đổi được khí chất trong dân, để tiến hành mở mang văn minh thành công thì các nhà Tây học hiện nay cũng chẳng giúp ích được gì.

    Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại


    Luận thuyết nêu trên nếu đúng, thì việc khai hoá văn minh ở nước ta để bảo toàn độc lập cho đất nước, không phải chỉ có chính phủ mới làm được. Và cũng không thể trông chờ vào các nhà Tây học. Nếu vậy thì trông cậy vào ai? Còn ai khác vào đây nếu đó không phải là nhóm Fukuzawa chúng ta. Tôi và các đồng chí chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ này. Tự chúng ta sẽ phải đi tiên phong trong nhân dân, gây dựng sự nghiệp khai hoá văn minh, đối đầu trực diện với thách thức, mở ra triển vọng cho Nhật Bản.

    Có thể nói thẳng, tôi và các đồng chí thuộc tầng lớp trung lưu, học thức của tôi và các đồng chí tuy còn nông cạn, nhưng chúng ta tìm hiểu nghiên cứu Âu - Mỹ cũng đã lâu. Mọi tầng lớp xã hội cũng đã thừa nhận và gọi chúng ta là những nhà cải cách, vì những năm qua chúng ta khi ra mặt nào trong các cuộc cải cách xã hội, khi âm thầm lẳng lặng giúp đỡ cải cách. Chúng ta có thể tự hào vì nhân dân đã nhìn nhận sự nghiệp khai phá văn minh mà chúng ta đang theo đuổi như sự nghiệp của mình. Và đã như vậy thì người lãnh đạo nhiệm vụ đi đầu trong nhân dân, triển khai sự nghiệp ấy không ai khác, đó chính là chúng ta.

    Khai hoá văn minh bắt đầu từ việc tự mình bắt tay vào làm và chứng minh bằng thực tế cụ thể, cho mọi người tận mắt thấy việc thực. Làm trước nói sau. Chứ không thể để như tình trạng nước ta hiện nay, hễ định làm cái gì cứ phải họp bàn, giải thích, thảo luận dài dòng vô bổ. Chính phủ có quyền ban bố chỉ thị, mệnh lệnh. Nhưng hiểu và biến chúng thành hiện thực phải là nhân dân, là khu vực tư nhân. Chính vì thế, song song với sự nghiệp khai sáng cho dân chúng bằng cách giảng dạy học thuật, làm thương nghiệp, nghiên cứu luật pháp, xuất bản sách, phát hành báo, với tư cách của một người thuộc khu vực tư nhân, không nằm trong chính phủ. Chúng ta làm việc này trong phạm vi, bổn phận của một quốc dân làm theo pháp luật, không sợ làm mất mặt chính phủ. Nếu chính phủ đi ngược lại lợi ích của nhân dân, với bổn phận của mình, chúng ta sẽ đường đường chính chính kháng nghị, tranh luận với chính phủ cho đến khi chính phủ tỉnh ngộ, giành lại cho dân "Tự do dân quyền".

    Trên đây chính là nhiệm vụ cấp bách của chúng ta.

    Sự nghiệp khai hoá văn minh rất đa dạng, những người tham gia vào công cuộc này nằm trong những lĩnh vực, những chuyên môn khác nhau. Có nhiều việc chúng ta chưa thể gánh vác được vì trong nhóm chúng ta còn quá ít các học giả. Nhưng mục đích của chúng ta là ở chỗ: truyền đạt cho mọi người dân biết con đường văn minh mà chúng ta nhằm tới, đó là con đường văn minh do người dân thực hiện, chứ không phải để khoe khoang mình làm hay, làm tốt hơn chính phủ. Điều tâm niệm hàng đầu của chúng ta đó là: một minh chứng bằng thực tế nhất định hơn hẳn cả trăm thứ lý thuyết.

    Khai hoá văn minh cho con người không thể là sự nghiệp độc quyền của chính phủ. Học giả trước sau cũng là học giả, phải ở trong khu vực tư nhân để nghiên cứu. Thị dân trước sau cũng là thị dân, phải ở trong khu vực tư nhân để sản xuất, buôn bán làm ăn. Chính phủ là chính phủ của Nhật Bản thì nhân dân cũng là nhân dân của Nhật Bản. Nếu như vậy thì nhân dân phải tiếp cận chính phủ, thân thiết với chính phủ, không phải sợ chính phủ, hay nghi ngờ chính phủ. Làm cho dân hiểu rõ điều này là nhiệm vụ cấp bách của chúng ta.

    Có như vậy, cái khí chất nhu nhược cố hữu mới biến khỏi nhân dân. và khi đó người dân mới thực sự là quốc dân Nhật Bản chân chính. Quốc dân là liều thuốc kích thích chính phủ. Học thuật, kinh tế, luật pháp cũng hoàn thiện. Quyền lực chính phủ và sức dân có cân bằng, chúng ta mới duy trì được độc lập trước phương Tây.

    Tóm lại, tôi đã đề cập đến vấn đề: Trước áp lực của phương Tây, để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, vị trí của các trí thức Nhật Bản là ở chỗ nào? Ở trong chính phủ trở thành quan chức, nỗ lực làm việc thì tốt hơn hay nằm ngoài chính phủ làm trong khu vực tư nhân thì tốt hơn. Và tôi cũng đưa ra kết luận: ở ngoài chính phủ thì hơn.

  12. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  13. #7
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Fukuzawa: Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có sự khác biệt là do học vấn


    Người ta thường nói: "Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người." Kể từ khi tạo hoá làm ra con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách, có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.

    Loài người - chúa tể của muôn loài - bằng hoạt động trí óc và hoạt động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho bản thân mình. Nhờ thế mà thoả mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý Trời, là niềm hi vọng của Trời đối với con người.

    Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người thông minh và kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.

    Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.

    Cuốn sách dạy tu thân "Thực ngữ giáo" có câu: "Kẻ vô học là người không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt." Câu nói trên cũng có thể hiểu: Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở chỗ có học hay vô học mà thôi.

    Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử đụng nhiều nhân công... là những người có địa vị cao, quan trọng. Và một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một nguyên nhân. Đó chảng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi, chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu: "Trời không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang phú quý." Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của con người để ban thưởng.

    Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành con người thấp hèn, nghèo khổ.

    Học những môn thiết thực cho cuộc sống

    Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ khó; càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ, vịnh thơ. Học như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.

    Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người, như thế chảng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng tôi không nghĩ rằng văn học là môn học quan trọng đến mức "phải thờ phụng nó" như các thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh. Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có được tài sản đáng kể, cũng như các thương gia vừa giỏi thơ phú vừa thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.

    Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc phụ huynh, nhà nông... những người hết lòng chăm lo việc học tập của con cái: "Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại sản mất." Điều đó đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp dụng kết quả học tập vào thực tiễn cuộc sống.

    Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?

    Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học cách soạn thảo thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành thạo bàn tính. Nhớ cách cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các môn như Địa lý để biết được phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân biệt được tính chất của mọi vật thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng của nó. Học Sử vì đây là môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi trên niên biểu lịch sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại của mọi quốc gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên quan đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả quốc gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành động của bản thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt giữa người với người.

    Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của châu Âu đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có khả năng thì tôi khuyên nên đọc trực tiếp các nguyên bản bằng tiếng Anh, Pháp, Đức. Khi học phải nắm được nội dung chủ yếu của môn học, trên cơ sở đó phải hiểu được bản chất cơ bản của mọi sự vật. Học như vậy mới có ích cho cuộc sống. Đó là "Thực học" mà ai cũng phải học, là học vấn mà hết thảy mọi người đều phải tự trang bị, không phân biệt đẳng cấp, khoảng cách giàu nghèo.

    Chính việc tự trang bị kiến thức này, từng cá nhân trên cơ sở làm trọn trọng trách của mình, sẽ điều hành quản lý tốt gia nghiệp được giao.

    Cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập. Và như thế quốc gia cũng độc lập.
    Chữ ký của Mùa Thu Màu Xám
    Hạ Nguyệt Thế Gia - Tam công tử



  14. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  15. #8
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Fukuzawa: Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước


    Fukuzawa Yukichi
    Trích từ cuốn Khuyến Học


    Kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ (1), nền chính trị Nhật Bản đã có những thay đổi mạnh mẽ. Về đối ngoại, chính phủ đã bang giao với ngoại quốc trên cơ sở công pháp quốc tế. Về đối nội, chính phủ đã mang lại tinh thần “tự do, độc lập” cho dân chúng. Người dân chúng ta đã được phép mang đầy đủ họ và tên; được phép cưỡi ngựa... Đó là sự thay đổi to lớn kể từ thưở lập quốc, tạo cơ sở bình đẳng về địa vị giữa các thành phần Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương trong xã hội (2)

    Chế độ đẳng cấp - địa vị của một người được quy định trước cả khi người đó ra đời – đã hoàn toàn bị xóa bỏ (3).

    Từ nay trở đi địa vị xã hội của cá nhân sẽ được quyết định tuỳ theo tài năng, phẩm cách và vai trò của mỗi người. Quan chức chính quyền được bổ nhiệm theo tài năng và nhân cách và là người thực thi luật pháp cho chúng ta.

    Chúng ta kính trọng họ theo lẽ đó, chứ không phải chúng ta kính trọng chức vụ và thành phần xuất thân của họ. Chúng ta không phải tuân theo con người họ. Chúng ta chỉ tuân thủ Luật pháp (Quốc pháp) mà họ đang thừa hành.

    Dưới thời chính quyền phong kiến Mạc phủ, người dân chúng ta luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp mình trước các Tướng quân (4). Ngay cả lũ ngựa của các Tướng quân cũng làm chúng ta hoảng sợ không dám đi chung đường với chúng; bầy chim cắt dùng nhử mồi khi các Tướng quân đi săn bắn, cũng làm chúng ta khiếp đảm, phải cúi lạy phải phủ phục cho đến khi lũ chim bay khuất mới dáng ngẩng đầu đứng lên đi tiếp. Người ta đã buộc chúng ta phải quen, phải sợ những thứ được coi là “luật lệ”, “tập quán” hà khắc ấy. Giờ đây nghĩ lại ai ai cũng cảm thấy kinh tởm.

    Những thứ “luật lệ”, “tập quán” đặt ra một cách vô cớ đó, không phải là luật pháp hay quốc pháp để chúng ta phải tuân thủ. Chúng là những thứ đã cướp đoạt mọi quyền tự do của chúng ta. Chúng là những thứ được đặt ra để gieo rắc nỗi sợ hãi trong chúng ta trước uy quyền của chế độ phong kiến Mạc phủ và nhằm để che đậy bản chất lộng hàng, không minh bạch của chính chế độ đó.

    Giờ đây, toàn bộ cái chế độ và luật lệ ngu xuẩn ấy đã bị xóa sổ. Vì thế, không lẽ gì chúng ta cứ phải sợ bóng sợ viá các cấp chính quyền đó mãi.

    Nếu có gì bất mãn với chính quyền hiện tại, chúng ta phải kháng nghị, tranh luận một cách đường đường chính chính. Tại sao chúng ta chỉ dám nói xấu, kêu ca sau lưng họ mà không dám chỉ mặt vạch tên.

    Những kháng nghị hợp lòng dân, đúng đạo Trời, dù có phải đổi cả tính mạng chúng ta cũng phải tranh đấu. Đây là bổn phận mà mỗi người dân chúng ta phải thực hiện đối với đất nước.

    Học để hiểu “Trách Nhiệm” của bản thân

    Như tôi đã nói ở trên kia, “độc lập và tự do” dựa trên đạo lý của Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ, huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?

    Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy hết mọi khả năng sức lực và trí tuệ của mình.

    Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng, rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.

    Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề cấp bách biết nhường nào.

    Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có tài.

    Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy theo những hành động rồi dại, phải cẩn trọng.

    Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô trí thức, nhưng không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.

    Bản thân họ được luật pháp bảo vệ, những hễ cứ cảm thấy bất lợi cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.

    Lại có không ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành. Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát và cứ thế tiêu pha tàn phá tài sản của ông cha mình.

    Đối với những người như vậy, không thể mang đạo lý ra để giảng giải mà chỉ có cách là dùng uy lực đe dọa chứ không có cách nào khác. Ám chỉ điều này, người phương Tây có câu tục ngữ: “Dân ngu tự chuốc lấy chính sách bạo tàn.” Người dân tử tế nghiêm túc thì chúng phủ cũng buộc phải tử tế nghiêm túc.

    Nước Nhật chúng ta có dân, trên dân có chính phủ. Phẩm cách của dân rơi vào vòng ngu tối, vô học thì luật pháp của chính phủ cũng trở nên hà khắc. Nhưng nếu quốc dân có chí học hành, tiếp thu văn minh thì không có cách nào khác, chính phủ cũng sẽ phải quảng đại, nhân đạo.

    Luật nước hà khắc hay quảng đại hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ, phẩm cách của quốc dân.

    Có người dân nào lại mong muốn một chế độ chính trị tàn bạo?

    Có người dân nào lại mong cho đất nước kém phát triển?

    Có người dân nào lại mong cho nước mình bị ngoại bang khinh miệt?

    Không và không thể có. Đó là tình con người trong mỗi chúng ta.

    Nếu như ai ai cũng có một lòng một dạ báo đáp cho Tổ quốc, nơi mình sinh thành thì chúng ta không bao giờ phải lo nghĩ hay bất an đến tương lai, đến tiền đồ của Nhật Bản. Mục đích của chúng ta chỉ có một: giữ gìn hòa bình cho đất nước.

    Do vậy, điều quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác là mỗi người chúng ta ai ai cũng phải học hành, mở mang tri thức, mài giũa tài năng, nhân cách sao cho xứng với bổn phận của mình.

    Ngược lại, chính phủ phải có trách nhiệm soạn thảo và thông báo đến mọi người dân những chính sách dễ hiểu. Mục tiêu duy nhất của chính phủ là phải mang lại cuộc sống ấm no, yên ổn cho dân.

    Nhân dịp khai trường “Keio Nghĩa thục” tại quê tôi, huyện Nakatsu tỉnh Oita, tôi chấp bút viết chương này đưa cho bạn bè, đồng hương xem. Nhiều bạn hữa, sau khi đọc xong, nói với tôi rằng: Bài viết này không chỉ cho bạn bè đồng hương tham khảo mà nên gửi tới bạn đọc gần xa nữa, như vậy sẽ có hiệu quả hơn, nên tôi đã cho in thành nhiều bản để các bạn đọc.

    Tháng 2 năm Minh Trị thứ năm (tức năm 1871)

    Chú thích:

    (1) Tức là việc Nhật Hoàng Minh Trị lên cầm quyền, chấm dứt 265 năm cai trị của chính quyền phong kiến Mạc phủ ở Nhật Bản. Chính phủ Minh Trị đã mở ra một chương mới trong lịch sử Nhật Bản với công cuộc Minh trị Duy tân, hiện đại hóa Nhật Bản.

    (2) Cho tới thời đó ở Nhật Bản chỉ có các võ sĩ (samurai) mới có quyền mang đầy đủ họ và tên. Còn mọi thành phần khác trong xã hội chỉ được đặt tên nhưng không được phép mang họ. Nhờ sự thay đổi này, người dân Nhật Bản mới biết được dòng họ, gia phả của mình. Cũng như vậy, ngoài tầng lớp Võ sĩ ra, không một ai được phép cưỡi ngựa – là phương tiện di chuyên duy nhất thời ấy.

    (3) Tiếng Nhật gọi là mibun seido, chính sách do chế độ phong kiến Mạc phủ Tokugawa đề ra. Chính sách này phân chia xã hội thành 4 loại: Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương hay còn gọi là Tứ giới và cấm không cho Tứ giới được thay đổi nghề nghiệp. Cha là Võ sĩ thì con cũng suốt đời là Võ sĩ, cha làm ruộng hay làm thợ thì con cháu cứ vĩnh viễn phải theo nghề đấy... Lại cấm không cho người dân được thay đổi chỗ ở, tự do di cư, ai ở nông thôn cứ phải ở nông thôn, ai ở thành thị cứ phải ở thành thị. Luật lệ của chế độ Mạc phủ cực kỳ nghiêm ngặt, người dân nào vì bất kỳ lý do gì mà tự động di cư, bắt được thì căng nọc khảo tra, dẫu có được dẫn giải về nguyên cư thì cũng đã khặc khừ gần chết vì roi vọt. Và chính sách này nhằm chủ yếu vào tầng lớp nông dân, buộc họ cứ phải ở nông thôn cầy ruộng để cung cấp thóc lúa cho Mạc phủ, nội có được bao nhiêu thóc lúa gặt về thì cũng phải chờ Võ sĩ đến lấy thuế đã, phần còn lại mới được phép xay ăn và làm vốn cho vụ tới. Nếu như không đủ số thóc thuế quy định thì phải bán vợ đợ con đi để đong kỳ đủ thóc thuế. Nông dân thời Mạc phủ chết đói liên miên bởi chế độ đẳng cấp này. (Nhật Bản tư tưởng sử, tập 2, trang 131. Nguyễn Văn Tần dịch.)

    (4) Tiếng Nhật là shogun, chỉ người có chức vị và thực quyền cao nhất trong chính quyền Mạc phủ.
    Chữ ký của Mùa Thu Màu Xám
    Hạ Nguyệt Thế Gia - Tam công tử



  16. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  17. #9
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Fukuzawa Yukichi - “Và như thế khó mà giữ được sự độc lập cho đất nước”


    Fukuzawa Yukichi
    Trích cuốn Khuyến học



    Như tôi đã trình bày, quan hệ giữa quốc gia với quốc gia là mối quan hệ bình đẳng. Nhưng người dân nước đó thiếu tinh thần tự chủ, thiếu chí khí độc lập thì khó có thể tranh đấu với thế giới để bình đẳng về quyền lợi với tư cách là một quốc gia độc lập.


    Đó là do ba lý do dưới đây:

    Thứ nhất, Quốc dân không có tính cách độc lập thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.

    Tính cách độc lập là gì? Là tính cách không dựa dẫm hay ỷ lại vào người khác. Việc của mình, mình phải tự lo giải quyết. Người có tính cách độc lập là người không bị chi phối hoặc chịu ảnh hưởng của người khác, tự mình bíết phân biệt sự thể đúng sai, phải trái, không phạm sai lầm trong hành động. Người độc lập về kinh tế là người có thể sống mà không cần sự viện trợ của người khác.

    Nếu như toàn thể quốc dân, ai nấy đều chỉ tìm cách dựa dẫm hay ý lại vào nguời khác, không có tính cách độc lập thì khi ra xã hội cũng sẽ lại trở thành những kẻ chuyên ăn bám đục khoét tiền của của đất nước, của các tổ chức xã hội. Giữa cá nhân với cá nhân có lẽ cũng chẳng còn ai sẵn lòng giúp đỡ ai. Tất cả đều dửng dưng với nhau, có nhìn thấy người mù lòa qua đường cũng không một ai chìa tay ra giúp đỡ.

    Cổ nhân có câu: "Dân thì phải tuân theo sự cai trị. Còn cai trị thế nào thì dân không cần phải biết". Câu này có nghĩa là ở trên đời, những người hiểu được đạo lý không nhiều. Chi bằng thiểu số người đó lên nắm chính trị, cai trị nhân dân, bắt dân phải tuần theo chính sách vạch ra là được. Không cần phải thông báo hay giải thích gì cả. Như thế tốt hơn là việc gì cũng phải giải thích, phải cắt nghĩa, mà có giải thích xong, cắt nghĩa xong thì đâu lại vào đấy như nước đổ đầu vịt vậy.

    Đây là lời răn dạy của Khổng Tử. Nhưng lời răn này thật là phi lý, hoàn toàn xa rời thực tế.

    Người có năng lực để có thể cai trị được dân chúng thật là ít ỏi. Trong cả ngàn người may ra mới có được một người. Giả dụ, dân số của một quốc gia nọ là một triệu người. Trong số đó chỉ có 1 nghìn người có trí thức. 999 nghìn người còn lại là những kẻ một chữ cắn đôi cũng chịu. Cứ cho rằng 1 nghìn người có trí tuệ đó cai trị số dân ngu dốt bằng tất cả lòng yêu thương, chăm bẵm họ như chăm bẵm bầy cừu. Và 999 nghìn người mù chữ này cũng một mực tuân theo lời răn dạy của "cha mẹ dân", sống trong cảnh ngu si hưởng thái bình. Cứ như thế, dần dần quan hệ giữa người cai trị và nhân dân sẽ trở thành quan hệ chủ nhân và khách ăn nhờ ở đậu. Mà đã là phận khách ăn nhờ ở đậu thì nhân dân (khách) cứ chỉ biết dựa vào chính phủ (chủ nhân). Người dân đâu cần màng tới việc nước, càng không chút mảy may lo lắng tới vận mệnh quốc gia. Việc quốc gia đã có chủ nhân lo rồi.

    Và cũng giả dụ, quốc gia này bị nước ngoài gây hấn, chiến tranh bùng nổ. Và cứ giả thử là không có một người dân nào phản bội, bán mình cho nước ngoài. Vậy thì sự thể sẽ ra sao?

    Từ trước tới nay, dân chúng như bầy cừu ngoan ngoãn nghe theo chính phủ và họ cũng chẳng có điều gì phải phàn nàn về chính phủ cả nhưng khi bảo họ phải hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước thì đừng tưởng rằng họ cũng sẽ một mực tuân theo. Tôi chắc rằng phần lớn sẽ tìm cách thoái thác, tìm cách bỏ trốn. Tức là khi có việc đại sự như lúc đất nước lâm nguy thì người dân chỉ biết lo cho sự an toàn của bản thân, không có lòng yêu nưuớc. Và như thế khó mà giữ được sự độc lập cho đất nước.
    thay đổi nội dung bởi: Mùa Thu Màu Xám, 13-07-2012 lúc 11:50 PM
    Chữ ký của Mùa Thu Màu Xám
    Hạ Nguyệt Thế Gia - Tam công tử



  18. The Following User Says Thank You to Mùa Thu Màu Xám For This Useful Post:

    Kasumi (16-07-2012)

  19. #10
    Hyakusho
    Mùa Thu Màu Xám's Avatar


    Thành Viên Thứ: 131722
    Giới tính
    Không xác định
    Đến Từ: Châu Âu
    Tổng số bài viết: 63
    Thanks
    5
    Thanked 127 Times in 44 Posts
    Phúc ông tự truyện

    Chương 1: Thời thơ ấu


    Nền giáo dục Nho gia

    Cần nói thêm rằng cha tôi vốn là một người theo nghiệp đèn sách. Tất nhiên là ông theo Hán học. Khi ở Ōsaka, công việc của cha tôi là tiếp xúc với những gia đình giàu có ở Ōsaka như Kazimaya (Gia-Đảo-Ốc), Kō-no-ike (Công-Trì) [1] để thỏa hiệp về các khoản nợ, nhưng cha tôi không hề thích thú chút nào. Ông muốn trở thành một trí thức chuyên việc đèn sách, hơn là làm việc tiếp xúc với tiền bạc. Vậy mà không ngờ lại phải cầm lấy bàn tính, đếm tiền hay thỏa hiệp xin hoãn các khoản nợ. Trí thức thời xưa khác xa trí thức Tây học thời nay. Thời xưa, một trí thức thuần khiết là người chỉ nhìn tiền bạc đã thấy đó là điều dơ bẩn. Một người như vậy mà phải làm công việc hoàn toàn trần tục, thì chuyện có tỏ ra bất bình cũng không phải là không có lý. Bởi vậy, khi dạy dỗ con cái ông cũng theo những giáo điều Nho học. Tôi xin đơn cử một chuyện thế này.

    Hồi đó, tôi vẫn còn nhỏ, chưa thể nói đến chuyện học chữ nghĩa gì được, nhưng anh trai mười tuổi và chị gái lên bảy, lên tám của tôi thì đã có thầy chuyên dạy viết chữ đến nhà kèm cặp. Cả trẻ con hàng phố cũng đến học cùng. Thầy dạy chữ I, ro, ha, ni, ho, he, to [2] thì được, nhưng vì là Ōsaka nên thầy dạy luôn cả phép tính nhân như 2 nhân 2 bằng 4, 2 nhân 3 bằng 6. Đó là chuyện đương nhiên, nhưng thấy thế cha tôi bảo: “Thầy dạy những điều không ra sao cả! Lại dạy trẻ cả thói tính toán con buôn thì tôi không thể tưởng tượng được! Tôi xin cho các con thôi học!”. Cha tôi nói rồi lôi anh chị tôi đi ra khỏi lớp.

    Sau này, tôi được biết chuyện đó qua lời kể của mẹ. Qua đó, có thể hình dung cha tôi là một người nghiêm khắc trong mọi chuyện. Chỉ xem những ghi chép còn lại cũng có thể thấy cha tôi là một người thuần Nho. Sinh thời, ông rất tin tưởng thầy Itō Tōgai (Y-Đằng Đông-Nhai) [3] của vùng Horikawa (Quật-Hà) và tâm đắc với câu: “Sống phải thành tâm thành ý, giữ mình ở cả những nơi không ai để mắt tới, không làm gì để phải xấu hổ”. Câu nói đó đã trở thành gia phong của gia đình tôi.

    Sau khi cha tôi mất, mẹ và năm anh em chúng tôi không hòa nhập với người khác, cũng ít kết giao với người ngoài, từ sớm đến chiều chỉ sống với những câu chuyện kể của mẹ và hình bóng của người cha đã khuất mà như vẫn còn hiện hữu đâu đó.

    Anh em quần tụ, tách biệt với bên ngoài

    Ở Nakatsu, anh em tôi khác mọi người xung quanh cả về áo Kimono và lời ăn tiếng nói, nên tự nhiên đoàn kết với nhau, ngầm thấy mình cao quý hơn, coi người xung quanh là trần tục. Ngay cả với anh chị em họ, chúng tôi cũng nhìn dưới tầm mắt và không bao giờ đả động đến những việc họ làm. Số ít chọi với đám đông nên chúng tôi từ bỏ ý định khuyên can họ, vì dù có nói, họ cũng không thấu. Trong thâm tâm, chúng tôi không coi đó là chuyện mình cần quan tâm. Tựu trung lại là coi thường người khác.

    Bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in là mặc dù ở trong nhà tôi nói cười, đùa nghịch rất hoạt bát, nhưng không biết trèo cây và cũng không biết bơi. Điều đó không phải do một nguyên nhân nào khác, mà chỉ vì không ra ngoài chơi hòa đồng với trẻ con cùng lãnh địa mà thôi.

    Gia phong đúng mực, nhưng không hà khắc

    Như đã nói ở trên, anh em tôi từ nhỏ đã khác với những người xung quanh cả về lời ăn tiếng nói lẫn lối sống. Bị tách biệt, nên nhiều khi cảm thấy buồn mà người ngoài không biết. Nhưng ngay cả những lúc ấy, chúng tôi cũng vẫn giữ gìn nền nếp, gia phong. Trong nhà chúng tôi không còn người cha nghiêm nghị, nhưng mẹ tôi sống mẫu mực, nên anh em tôi không những không một lần to tiếng với nhau, mà khi trưởng thành lên cũng không biết đến những chuyện xấu bên ngoài. Mặc dù không có ai dạy dỗ, mẹ tôi lại không phải là người nghiêm khắc, hay trách mắng, nhưng tự nhiên gia đình tôi trở nên như thế là nhờ vào nền nếp mà cha tôi để lại cùng với tình mẫu tử sâu sắc của mẹ đã cảm hoá anh em chúng tôi.

    Tôi xin kể lại một chuyện có thực. Về đàn nhạc thì tôi chưa bao giờ có ý định nghe đàn Shamisen (Tam-vị-tuyến) [4] hay một loại nhạc cụ nào khác. Tôi luôn mang trong mình một ý nghĩ cho rằng, đó là thứ mình không việc gì phải nghe, phải chơi và từ đó trong đầu cũng không nảy ra ý định đi xem các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác. Chẳng hạn, cứ vào mùa hè, ở Nakatsu có diễn ca kịch. Vào dịp này, người ta diễn rộn rã suốt bảy ngày liền. Khi các diễn viên người vùng quê công diễn thì chức dịch lãnh địa sẽ ra một thông báo rất nghiêm quy định rằng: Các võ sĩ không được lại gần, không được quanh quẩn bên ngoài tường đá của đền thờ Sumiyoshi (Trú-Cát). Nhưng dù sao đó cũng chỉ là một tờ lệnh. Các võ sĩ thô tục đeo kiếm, che mặt nạ và phá hàng rào đi vào. Nếu nhắc nhở thì ngược lại sẽ bị họ mắng té tát, nên ai cũng sợ. Người hàng phố trả tiền mới được vào xem, còn võ sĩ đã lén lút vào xem không mà lại còn tỏ vẻ ra oai.

    Trong số rất nhiều võ sĩ như thế thì chỉ gia đình tôi là không đi xem. Nhất định không đi! Đã có lệnh cấm không được vào phạm vi này thì không bén mảng đến dù chỉ một bước chân! Mặc cho bên ngoài có chuyện gì đi nữa thì mẹ tôi, dù là phụ nữ mà cũng không hề nói một câu về ca kịch, anh trai tôi cũng không rủ các em đi, trong nhà hoàn toàn không ai đả động gì đến. Mùa hè trời nóng, người ta thường ra ngoài hóng mát. Nhưng ngay gần nhà có diễn ca kịch mà chúng tôi dường như không bao giờ có ý định ra xem. Dù có vở hay đến thế nào, chúng tôi cũng không bàn tán và thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra.

    Lớn lên thành nhà sư - ước vọng của cha tôi

    Như trên đã nói, sinh thời cha tôi chắc hẳn không mấy hứng thú với công việc quá ư tầm thường mà ông phải làm. Nếu như vậy thì tìm cách thoát ra khỏi Nakatsu cho xong, nhưng dường như ông không hề có ý định đó. Dù có chuyện gì ông cũng ngậm đắng nuốt cay và yên phận với chút bổng lộc nhận từ lãnh địa. Điều này có lẽ là do thời thế lúc bấy giờ, con người ta không thể tự do tiến thoái. Bây giờ ngẫm lại, tôi thấy thương cha vô cùng.

    Khi cha tôi còn sống đã có một câu chuyện thế này. Trong thâm tâm, cha tôi tính sẽ trao cả quyền thừa kế tài sản của gia đình Fukuzawa cho anh tôi. Nhưng đứa con thứ năm là tôi lại sinh ra. Khi mới lọt lòng tôi đã là đứa trẻ khá khoẻ mạnh. Nghe bà đỡ bảo: “Đứa trẻ này chỉ cần cho ăn đủ sữa là sẽ lớn nhanh như thổi thôi!”, cha tôi rất mừng. Ông nói đi nói lại với mẹ tôi rằng: “Nó có vẻ là đứa trẻ ngoan đấy. Lớn lên chừng 10 hay 11 tuổi thì cho nó vào chùa làm sư”. Sau này, mẹ kể cho tôi như vậy. Thỉnh thoảng bên lề câu chuyện mẹ tôi còn bảo: “Ngày trước, không hiểu sao cha con hay nói sẽ cho con vào chùa học kinh Phật. Nếu cha con còn sống thế nào con cũng vào chùa làm sư rồi đấy!”.

    Sau này, khi lớn lên và nghĩ lại lời cha nói, tôi nghĩ có lẽ ông nghĩ như vậy là vì dưới thời phong kiến, ở Nakatsu tồn tại một trật tự xã hội ví như chiếc hộp bị chèn cứng đồ, hàng trăm năm cũng cứ y nguyên như thế, không hề nhúc nhích! Cũng như: “Con vua thì lại làm vua, con vãi ở chùa thì quét lá đa”, ở Nakatsu con Karō (Gia-lão) [5] lại làm Karō, con Ashigaru [6] lại trở về với kiếp Ashigaru. Những thứ bị chèn chặt trong đó có qua bao nhiêu năm cũng không hề biến chuyển gì. Thử ở vào địa vị của cha tôi mà nghĩ, dù cố gắng thế nào cũng không thể làm nên danh tiếng. Nhìn ra bên ngoài thấy chỉ có đi tu là giải pháp tốt nhất. Bao nhiêu người vốn chỉ là con người hàng cá cũng có thể trở thành chức sắc trong nhà chùa. Tôi đoán việc cha muốn tôi trở thành nhà sư có thể là vì lý do như vậy.

    Chế độ đẳng cấp là kẻ thù kìm kẹp cha tôi


    Nghĩ như vậy thì việc trong suốt 45 năm cuộc đời, cha tôi bị bó buộc bởi lề lối phong kiến, không thực hiện được ý nguyện của mình, đành ngậm đắng nuốt cay từ giã cõi đời mà thấy buồn thương thay cho ông. Mỗi lần nhớ đến nỗi dằn vặt trong thâm tâm cha tôi vì lo cho tương lai của đứa con mới lọt lòng đã phải quyết tâm cho đi tu và tình phụ tử sâu sắc của cha làm tôi càng thêm căm phẫn chế độ đẳng cấp phong kiến. Tôi như được tâm sự với cha và khóc thầm một mình vì thương ông. Với tôi, chế độ đẳng cấp chính là kẻ thù kìm hãm cha tôi.

    Nếp sống của trường Ogata

    Sự học của các học trò trường Ogata

    Như vậy, kể cả ở trong trường hay bên ngoài chúng tôi cũng vẫn khi thì nghịch ngợm, khi lại tranh luận nghiêm túc. Trong câu chuyện của tôi kể từ đầu đến giờ, nếu nhìn qua có thể có người cho rằng, dù thế nào chúng tôi cũng không phải là những học trò chuyên chú chuyện học hành, mà chỉ đua nhau nghịch ngợm mà thôi, nhưng tuyệt nhiên không phải như vậy. Về chuyện học hành, có thể nói thời đó không ai vượt qua được các học trò trường Ogata.

    Tôi xin kể lại một câu chuyện làm ví dụ. Tháng 3 năm Ansei thứ ba (1856-ND), tôi bị sốt, nhưng cũng may là sau đó hồi phục lại được. Trong thời gian điều trị, tôi đã dùng chiếc gối quấn tròn bằng đệm, nhưng khi hơi đỡ một chút lại muốn chuyển sang gối bình thường. Lúc đó, tôi sống cùng với anh ở Kurayashiki của lãnh địa. Anh tôi có một người hầu và tôi nhờ họ lấy cho. Nhưng lục tìm trong nhà mãi mà không thể nào thấy được một chiếc gối. Lúc đó, tôi mới chợt nhận ra rằng trong suốt một năm ở Kurayashiki của lãnh địa chưa một lần dùng gối để ngủ. Mùa nào cũng thế, hầu như không phân biệt giữa ngày và đêm. Đêm xuống cũng không nghĩ đến chuyện ngủ, vẫn chong đèn đọc sách. Đọc sách cho đến khi buồn ngủ thì hoặc là gục lên bàn, hoặc tỳ lên mép Tokonoma (sàng-gian) [7] mà ngủ.

    Chưa một lần nào tôi trải đệm, đắp chăn và dùng gối ngủ một cách đàng hoàng. Lúc đó, lần đầu tiên, tôi mới vỡ lẽ ra rằng: “Ừ đúng, nhà mình chắc không có gối thật. Vì cho đến nay mình đã ngủ bằng gối bao giờ đâu”. Chỉ qua câu chuyện này chắc bạn đọc cũng có thể hiểu được sự tình thế nào. Đấy không phải là riêng mình tôi chăm chú học, mà bạn bè cùng trường tất cả đều như vậy. Chúng tôi học say mê đến mức trên thực tế chắc không thể làm gì hơn thế.

    Chăm chú học không để ý đến chuyện vệ sinh

    Từ sau khi vào trường Ogata tôi có nhớ một vài điều mà chính mình đã trải qua. Trong bữa tối, nếu có rượu thì uống và đi ngủ ngay từ canh một. Ngủ một giấc, tỉnh mắt dậy là vào khoảng mười giờ đêm hay hơn gì đó theo cách tính hiện nay. Từ lúc đó là thức thâu đêm để đọc sách. Đọc đến rạng sáng, khi nghe thấy tiếng cơm sôi lục bục ở nhà bếp thì theo dấu hiệu ấy mà đi ngủ. Đến khi cơm chín dậy đi tắm sáng. Sau đó trở về trường ăn cơm và ăn xong lại vào đọc sách. Nhịp sống của học trò trường Ogata đại khái là theo chu kỳ như thế.

    Tất nhiên, chuyện vệ sinh thì không hề chú ý. Vì là trường chuyên về ngành y, nên đáng lẽ sẽ phải nói nghiêm khắc về chuyện vệ sinh, nhưng không có ai để ý cả. Hoặc là do không nhớ ra hay sao đó mà không hề có sự nhắc nhở nào. Thế nhưng, mọi người vẫn sống bình thường. Không hiểu đó là do chúng tôi đều khỏe mạnh hay do những học trò ngành y cho rằng, giữ vệ sinh quá, ngược lại, làm người ta yếu hơn?

    Sao sách và cách tiến hành giờ đọc hiểu

    Đến đây tôi xin được kể về cách học trong trường Ogata. Thường những người mới đến học đều chưa biết gì. Với những người đó thì phải dạy như thế nào? Thời Edo, người ta có tiến hành in hai cuốn sách tiếng Hà Lan là cuốn về ngữ pháp và về cú pháp. Với những người mới vào học thì sẽ dạy cho họ cuốn ngữ pháp, dạy đọc đánh vần và giải nghĩa cho họ nghe. Xong phần đó thì chuyển sang cuốn cú pháp cũng theo đúng trình tự như vậy. Đọc được xong hai cuốn này sẽ chuyển sang giờ đọc. Trong giờ học này, nếu học sinh có mười người thì mười, mà mười lăm người thì mười lăm, sẽ lập thành một lớp, trong đó có một người sẽ đóng vai trò như lớp trưởng, nghe xem những thành viên trong lớp có đọc hiểu được hay không, để đánh các dấu chấm tròn trắng hoặc đen.

    Sau khi đã học đánh vần qua hai cuốn sách kể trên và được nghe giải nghĩa xong thì đến giai đoạn tự học tập, nghiên cứu. Có chỗ nào không hiểu cũng không được hỏi người khác, dù chỉ là một chữ hay nửa câu. Nhưng nói chung học sinh trường Ogata không ai dốt nát và hèn đến mức như vậy. Trong trường chỉ có sách về ngành vật lý và ngành y, nhưng tập trung lại cũng chỉ được vẻn vẹn 10 bộ. Những sách đó vốn là do người ta chở bằng tàu từ Hà Lan về, nên mỗi đầu sách chỉ có một bộ. Những học sinh đã qua giai đoạn học ngữ pháp sơ cấp thì thế nào cũng phải sao lại sách. Mọi người đều phải tự sao. Mỗi tháng có 6 lần đọc bằng sách đó. Nhưng giả sử lớp học có mười người thì không thể mười người cùng chép mà phải chia nhau bằng cách bốc thăm.

    Về cách sao sách thì thời đó không có giấy kiểu Âu, tất cả đều phải dùng giấy Nhật, trải thẳng giấy ra và chép bằng lối Chân thư [8] , nên rất khó. Vì vậy, thường phải gột hồ lên giấy và dùng bút lông ngỗng để chép. Loại bút này hồi đó ở các hiệu thuốc của Ōsaka thường có bán rất nhiều những sống lông dài chừng 3 Shun (khoảng 9.09cm-ND) của chim nhạn hay chim hạc gì đó, mà tôi không rõ. Tôi còn nghe nói người ta thường dùng nó để câu cá thu. Giá bút đó tính ra rất rẻ. Chúng tôi mua lông chim về và dùng kiếm nhọn gọt như hình bút, dùng rất tiện. Mực cũng không thể có mực kiểu Âu được. Lọ mực của người Nhật thường là thấm mực đã mài vào một mảnh bông hoặc dạ, nhưng mực mà chúng tôi dùng để sao lại sách nguyên bản lại là mực mài và để nguyên như thế trong bình mực.

    Học trò trường Ogata ai cũng phải sao sách, nên kỹ năng sao chép rất giỏi. Đơn cử một ví dụ: Nếu có ai đó đang sao sách nguyên bản ở bên cạnh, nghe được giọng đọc của họ thì chúng tôi có thể chép nhoay nhoáy mà không hề sai vần. Cứ như thế, hai người phân chia nhau, người đọc người chép, hoặc cũng có thể tự mình nhìn sách chép. Khi nào xong thì chuyển sách nguyên văn cho người khác. Chép xong lại chuyển cho người tiếp theo. Cứ như thế theo tuần tự. Một giờ đọc hiểu được chừng ba hoặc không nhiều hơn bốn, năm trang giấy Hanshi (bán-chỉ) [9] .

    Tự thân, tự lực học tập, nghiên cứu

    Giờ đọc hiểu sách chuyên ngành vật lý hay y học thì không có người giải nghĩa cũng chẳng có ai đọc cho nghe. Cả chuyện bí mật nhờ người khác chỉ giúp, cũng không ai vi phạm, vì đó bị coi là một điều đáng hổ nhục. Chỉ còn cách là phải tự mình đọc và hiểu mà thôi.

    Để đọc hiểu, ngoài việc dựa trên cơ sở kiến thức về ngữ pháp đã học và từ điển thì không còn cách nào khác nữa. Từ điển mà tôi nói ở đây là cuốn Doeff, mà cả trường mới có một bản sao. Cuốn này khá dày, khoảng 3000 trang giấy Nhật. Việc sao chép cuốn này là một việc lớn, không phải chuyện dễ. Cuốn từ điển này do một người Hà Lan tên là Hendrik Doeff, sống ở đảo Dejima, Nagasaki, dịch cuốn từ điển song ngữ Đức-Hà Lan ra tiếng Nhật. Cuốn sách này là niềm mơ ước của mọi người, được coi như bảo bối duy nhất trong giới những người theo Hà Lan học. Từ cuốn đó, người Nhật sao ra và trường Ogata chỉ có duy nhất một bản, nên hầu như lúc nào cũng có ba, bốn người quay quanh cuốn Doeff.

    Sau này, thêm một bước nữa là có thêm bộ từ điển Hà Lan do Weiland soạn. Bộ này gồm 6 tập, có chú thích bằng tiếng Hà Lan. Nếu đọc Doeff không hiểu thì lại xem Weiland. Nhưng trong thời gian học sơ cấp, có xem Weiland cũng không hiểu được. Bởi vậy, chỉ có thể dựa vào Doeff mà thôi.

    Giờ học đọc thường quy định vào các ngày một và ngày sáu (tức ngày 1, 11, 21, 31 và 6, 16, 26 -ND) hay các ngày ba và tám (tức là 3, 13, 23, và 8, 18, 28-ND). Nếu ngày mai có giờ đọc thì đêm hôm trước đó kể cả những cậu lười biếng nhất cũng không ngủ. Trong phòng để từ điển Doeff thế nào cũng có năm, mười người túm lại, im lặng ngồi học và tra cứu từ điển. Sáng hôm sau là giờ đọc hiểu. Đọc hiểu thì cũng sẽ bốc thăm xem ai phải đọc từ đâu đến đâu. Lớp trưởng, tất nhiên, được giữ cuốn nguyên bản. Năm người thì năm mà mười người thì mười, cứ lần lượt đọc và giảng nghĩa những chỗ mình đã bốc thăm trúng. Nếu người đó không đọc được, sẽ quay vòng sang người khác. Trong đó, người nào đọc được thì ký hiệu bằng chấm trắng, người không đọc được thì đánh chấm đen và người đọc lưu loát không vấp thì đánh dấu tam giác trắng. Đây là dấu của điểm ưu, gấp ba lần dấu chấm trắng tròn.

    Trường chia thành bảy, tám cấp học khác nhau. Theo nguyên tắc, người đứng đầu một cấp trong suốt ba tháng sẽ được lên cấp trên. Ngoài giờ đọc hiểu, lớp đàn anh có thể giải nghĩa hay chỉ bảo những chỗ không hiểu cho những người học lớp dưới thân mật như anh em một nhà. Nhưng một khi đã vào giờ đọc hiểu thì hoàn toàn phó mặc cho mỗi người. Không ai giúp cả, nên đối với các học sinh trường Ogata sáu giờ đọc trong tháng không khác gì sáu lần thi.

    Cứ như thế dần dần lên những lớp trên và đọc hết sách có ở trường, không còn gì để đọc nữa. Khi đó, phải đi tìm những gì khó hơn và chúng tôi đã thu thập những lời giới thiệu hay lời tựa sách, những thứ có tác dụng tham khảo, chỉ để cho những học trò lớp trên đọc. Có khi lại nhờ thầy xuống giảng cho. Tôi cũng chỉ là một học trò ngồi nghe giảng, nhưng trong khi được nghe các diễn giải khác nhau của thầy, lần nào tôi cũng thấy khâm phục sự uyên thâm của thầy, vừa cặn kẽ ngọn nguồn, vừa vĩ đại cao siêu. Thầy là một đại gia trong giới những nhà Hà Lan học, một nhân vật lớn vừa có danh, vừa có thực. Sau giờ học, về lại trường tôi vẫn nhớ là đã nói với các bạn đồng môn: “Hôm nay cậu thấy bài thuyết giảng của thầy thế nào? Tự nhiên tớ thấy bọn mình vẫn còn dốt quá!”.

    Nuôi dưỡng thực lực

    Chúng tôi chỉ xuống phố uống rượu, đùa nghịch vào những buổi tối ngay sau giờ đọc hiểu hoặc ngày hôm sau, vì còn rảnh những bốn, năm ngày nữa mới đến giờ học tiếp theo. Sau mỗi giờ học, chúng tôi chơi thoải mái như vậy và gần đến ngày đọc hiểu lại lao vào học. Một tháng có 6 kỳ thi, nên phải học rất nhiều. Việc đọc được sách hay không là tùy thuộc vào sự có tài hay bất tài của từng người, nhưng tuyệt nhiên chúng tôi không có chuyện trí trá hình thức, chỉ cần lấy danh là đã học bao nhiêu năm, lên bao nhiêu bậc và tốt nghiệp, mà thực sự đã nuôi dưỡng được thực lực của bản thân mình. Vì vậy, hầu hết các học sinh đều đọc sách nguyên văn bằng tiếng Hà Lan rất giỏi.

    Hoạt động sao chép sách

    Nhân nói về cuốn từ điển của Hendrik Doeff, tôi xin được kể một câu chuyện có liên quan. Thời đó, thỉnh thoảng lại có ông lãnh chúa đến đặt trường sao giúp cuốn từ điển này. Vì vậy, việc sao chép sách vở, từ điển trở thành một nguồn thu nhập của các học sinh trường Ogata. Thời đó, giá sao sách tính là một trang Hanshi chừng 10 dòng, mỗi dòng 20 chữ thì một trang được vài Mon tiền. Nhưng một trang từ điển Doeff viết theo chiều ngang, gồm 30 dòng, nên sao hết trang đó thì được những 16 Mon. Sau đó, nếu sao cả phần chú thích bằng tiếng Nhật, còn được cộng thêm 8 Mon nữa.

    Đem so với việc sao chép những cuốn sách thường khác thì quả thực tiền công sao cuốn này rất hậu. Một trang được 16 Mon thì 10 trang đã được những 164 Mon [10] . Nếu thêm phần chú thích bằng tiếng Nhật nữa còn được thêm một nửa số tiền ấy, tức là 80 Mon. Có người chuyên chép chú thích, cũng có người chỉ chép phần chữ ngang. Cuốn từ điển Doeff dày 3000 trang, nên nhân tiền công lên sẽ thành một khoản khá lớn, có thể giúp ích cho cuộc sống của các học trò. Bây giờ nghĩ lại khoản tiền này không đáng là bao, chứ hồi đó, tuyệt nhiên không phải như thế.

    Thời ấy, một Koku (Thạch) [11] thóc giá 1 Bu 2 Shu, 1 Shō [12] rượu giá từ 160 Mon đến 200 Mon. Chi phí ăn học tại trường một tháng chỉ cần khoảng từ 1 Bu 2 Shu đến 1 Bu 3 Shu là đủ. 1 Bu 2 Shu tiền vàng theo tỷ giá lúc ấy khoảng 2 Kan 400 Mon tiền bạc, nên một ngày chỉ mất chưa đến 100 Mon. Một ngày mà chép mười trang cuốn từ điển Doeff là đã được những 164 Mon, có thể để dư ra.

    Tất nhiên, không phải ai cũng sao chép sách là đủ tiền đi học, mà đây có thể nói là một cách kiếm tiền của riêng những người theo Hà Lan học. Tôi xin đơn cử một chuyện thế này. Edo quả đúng là nơi tập trung các lãnh chúa, nên không chỉ từ điển Doeff mà những đơn đặt hàng chép sách cho các học sinh theo ngành Hà Lan học cũng rất nhiều. Tự điều đó làm cho giá sao sách cao lên. So với Ōsaka thì cao hơn nhiều.

    Cậu Suzuki Giroku vốn người vùng Kanazawa, lãnh địa Kaga, là cậu học trò đã từ Edo xuống Ōsaka học. Lúc đầu, cậu ta không có một Mon nào trong túi, ở Edo và đã chịu khổ sở, nhưng sau đó nhờ công việc sao sách mà lập được thân và còn tích lũy tiền nữa. Chỉ một, hai năm mà cậu ta góp được những 20 Ryō tiền vàng, sau đó dùng tiền này vào trường Ogata học và trở về quê Kanazawa. Sở dĩ cậu ta có thể làm được như vậy là nhờ vào Hà Lan học. Trong suy nghĩ của Suzuki, Edo là mảnh đất thuận lợi cho việc sao sách để kiếm tiền, nhưng riêng việc học nếu không phải là Ōsaka sẽ không thể học tập đến nơi đến chốn. Cậu ta bảo quyết định theo mục tiêu đó và mang tiền kiếm được ở Edo để về Ōsaka học.

    Say mê với kỹ thuật, công nghệ

    Hồi đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ còn chưa như bây giờ. Những thứ như máy hơi nước có muốn xem cũng không thể có được. Ngay cả những dụng cụ thí nghiệm hóa học cũng không ở đâu có một bộ hoàn chỉnh. Bộ hoàn chỉnh thì không thể có được, mà những thứ chắp vá cũng không. Trong hoàn cảnh đó, cả về máy móc hay hóa học, chúng tôi đều biết nguyên lý hoạt động, nên dù thế nào cũng muốn tự mình thí nghiệm xem sao. Vì vậy, chúng tôi phải khổ công xem sách nguyên văn, sao lại sơ đồ để làm giống hệt như trong sách.



    Phạm Thu Giang dịch



    Chú thích:


    [1]Tên tuổi của các thương gia lớn hồi bấy giờ. Họ thực hiện việc lưu thông tiền tệ giữa các lãnh chúa.

    [2]Trước đây, để cho dễ nhớ người ta ghép các chữ cái Hiragana làm thành một bài hát gần như đồng dao (gồm 47 chữ cái). I, ro, ha, ni, ho, he, to là phần đầu của bài hát đó. Nhưng hiện nay người Nhật học chữ theo bảng chữ cái gồm 54 chữ, bắt đầu bằng a, i, u, e, o.

    [3]Itō Tōgai (1670-1736), nhà Nho sống ở Horikawa, Kyōto. Cha ông là Itō Jinsai, người đã mở ra một học phái mới trong Nho học. Itō Tōgai là người thừa kế và phát triển học phái đó, gọi là Phái cổ học.

    [4]Kiểu đàn ba dây, gần giống đàn tranh ở Việt Nam. Đây được coi là nhạc cụ quan trọng trong âm nhạc truyền thống của Nhật Bản.

    [5]Ở đây, từ này được dùng với nghĩa chỉ người chuyên cố vấn công việc của lãnh địa cho lãnh chúa, có chức vị cao nhất trong số những gia thần của lãnh chúa.

    [6]Ashigaru là những người thuộc đẳng cấp dưới võ sĩ. Thời bình họ có nhiệm vụ canh giữ thành, còn thời chiến thì làm việc hậu cần, tạp vụ.

    [7]Là một khoảnh nhỏ trong nhà, thường được làm cao hơn nền nhà, rộng chừng một tấm chiếu truyền thống của Nhật. Ở mỗi vùng khác nhau thì tấm chiếu này được làm theo kích cỡ khác nhau, nhưng thường chiều dài khoảng từ 170cm đến 191cm và chiều rộng khoảng từ 75cm đến 95 cm. Trong Tokonoma có đặt những đồ trang trí như tranh vẽ, bình hoa, bức thư pháp... Đây có thể coi là nơi trang trọng nhất trong căn nhà của người Nhật.

    [8]Lối viết bằng bút lông nhỏ với nét thanh mảnh.

    [9]Trước đây, từ Hanshi là để chỉ loại giấy có kích thước bằng nửa kích thước của loại giấy có chiều dài 8 Shun (khoảng 24.24cm) và chiều rộng 1 Shaku 1 Shun (khoảng 33.03cm), nhưng sau này, Hanshi là để chỉ luôn loại giấy này.

    [10]Cuối thời Mạc phủ, người ta tính 1 Kan bằng 960 Mon, chứ không phải 1000 Mon như trước. Vì vậy, cứ 96 Mon thì được tính là 100 Mon, tức là sẽ dôi ra 4 Mon.

    [11]1 Koku bằng khoảng 180kg thóc.

    [12]1 Shō bằng 1,8 lít.
    Chữ ký của Mùa Thu Màu Xám
    Hạ Nguyệt Thế Gia - Tam công tử



Trang 1/2 1 2 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Tư tưởng Thoát Á của Fukuzawa Yukichi
    By osmir in forum Con Người Nhật Bản
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 16-01-2012, 09:31 AM
  2. Nguyên tính "thời sự" trong sách Fukuzawa
    By Kasumi in forum Con Người Nhật Bản
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 11-03-2008, 09:37 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •